1
Luận văn
KẾT QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH VÀ TÌNH
HÌNH QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH CỦA CỔ PHẦN
FINTEC
2
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đều biết, mỗi sinh viên sau khi rời khỏi nghế nhà truờng đều
muốn trang bị cho mình nhũng kiến thức thực tế để ảp dụng cho những gì
mình được học qua bốn năm học. Thực tập tốt nghiệp là nhằm đáp ứng diều
đó, nó giúp cho sinh viên có được sự chuẩn bị tốt cho quá trình làm việc tại
doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp. Những làm quen bước đầu đó sẽ là những
bài học cho những bước tiếp theo khi sinh viên rời ghế nhà trường đồng thời
thực tập còn là cơ hội tốt cho sinh viên tiếp cận với các doanh nghiệp mà
mình mong muốn làm việc sau khi ra trường. Thực tập tốt nghiệp còn nâng
cao khả năng giao tiếp khả năng giao tiếp, quan hệ và làm quen dần với phong
cách làm việc trong môi trường mới. Không những thế thực tập còn giúp cho
sinh viên áp dụng được những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế
và dùng nó như những công cụ để làm việc. Trong quá trình thực tập sinh
viên có thể phát hiện những vấn đề mới làm phong phú hơn cho vốn kiến
thức mình.
Sau thời gian 2 tuần thực tập tại Công ty cổ phần Đầu tư- Kỹ nghệ- Công
nghiệp - Thường mại (FINTEC), tuy con rất nhiều bở ngở, nhưng em cũng đã
- Cung cấp các sản phẩm nghành công nghệ thông tin
- Xây dựng các giải pháp mạng LAN, WAN, INTRANET
- Đào tạo sử dụng và ứng dụng các sản phẩm công nghệ thông tin
- Dịch vụ tài chính
- Đầu tư và tư vấn đầu tư
FINTEC là Công ty lớn và có uy tín trong thị trường công nghệ thông
tin nên Công ty được chọn làm nhà phân phối các sản phẩm công nghệ thông
tin của các hãng máy tính hàng đầu thế giới chẳng hạn :
Đại lý tích hợp hệ thống của COMPAQ và ORACLE
4
Đại lý thương mại các sản phẩm máy tính và tin học của IBM
Đại lý phân phối chính thức các sản phẩm tin học của MICRON
Đại lý bán hàng của MICROSOFT và LOTUS
Đại lý phân phối các sản phẩm tin học của thiết bị mạng thuộc các hiệu
TOSHIBA, DELL, EPSON, CANON, HEWLETT-PACKARD,
MOTOROLA, 3COM, CISCO
Công ty FINTEC thành lập một chi nhánh chuyên sản xuất, kinh doanh
các sản phẩm tiêu dùng vào cuối năm 1998- Xí nghiệp chế biến thực phẩm
với mục đích cung cấp các loại sản phẩm tiêu dùng thiết yếu.
Dịch vụ tài chính của Công ty thực hiện việc giao nhận kiều hối của các
cá nhân và tổ chức ở trong và ngoài nước.
Có thể liệt kê ra đây các mốc sự kiện đánh dấu quá trình phát triển của
Công ty:
Tháng 9/1995 Công ty FINTEC được thành lập theo hình thức Công ty
cổ phần tư nhân, hoạt động sản xuất và kinh doanh các sản phẩm công nghệ
thông tin với số vốn điều lệ ban đầu là 2 tỷ rưỡi (2.500.000.000).
Trụ sở chính 212 C2 Vĩnh Hồ, quận Đống Đa, Hà Nội.
Tháng 1/1996 gia nhập phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Tháng 4/1997 thành lập Trung tâm thiết bị văn phòng đặt tại số 101 K1
và nông sản xuất khẩu) có thể nêu ra đây các sản phẩm chủ yếu như sau:
Mứt lạc
Măng tươi ngâm
Nấm, mộc nhĩ sấy khô.
6
Vải hộp, tương ớt
Đặc điểm của loại hình sản xuất này mang nặng tính thời vụ và gia
công. Có ưu điểm là không mất chi phí dự trữ bởi Công ty đặt gia công tại
vùng nguyên liệu và chỉ mang về xưởng để đóng gói và chuyển cho khách
hàng.
Về bộ phận dịch vụ FINTEC thực hiện việc chi trả kiều hối cho các tổ
chức trong nước và nước ngoài. Với chi phí phục vụ thấp thủ tục đơn giản,
thuận tiện Công ty đã nhận được sự tín nhiệm của đông đảo quần chúng và
kiều bào ta ở nước ngoài cũng như người ngoại quốc muốn thực hiện việc
chuyển tiền về nước.
Bên cạnh đó, Công ty còn nhận cung cấp các dịch vụ xây dựng các giải
pháp mạng LAN, WAN, INTRANET. Đào tạo sử dụng và ứng dụng các sản
phẩm công nghệ thông tin. Hiện nay Công ty còn nhận cung cấp các dịch vụ
tìm kiếm thông tin, cũng như tìm kiếm giải pháp khắc phục sự cố trên máy vi
tính phục vụ cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Những dịch vụ này do chi
nhánh tin học đảm nhận chi nhánh này đặt tại số 5-7 Đinh Lễ, Hà Nội.
Bộ phận thương mại thực hiện các hoạt động mua bán vào các sản
phẩm máy tính và thiết bị văn phòng. Sau đây là danh sách một số các sản
phẩm chủ yếu được lấy từ báo cáo bán hàng của Công ty do phòng báo cáo
cung cấp 12/2000:
CÁC SẢN PHẨM MÁY TÍNH VÀ THIẾT BỊ VĂN PHÒNG CHỦ YẾU
ĐƯỢC CUNG CẤP TỪ CÔNG TY CỔ PHẦN FINTEC
MÃ VẬT TƯ
28016 Scanner 6200C
MUC Mực máy in
8
MÃ VẬT TƯ
VẬT TƯ
CHIP Chip CPU
DM Đĩa
LOA Loa
(Nguồn : Phòng kế toán Công ty cổ phần FINTEC ngày 15/12/2000)
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của CôNG TY FINTEC
Mô hình Công ty FINTEC mang đầy đủ các đặc điểm của một Công ty
cổ phần nội bộ cụ thể là cổ phiếu do các cổ đông sáng lập nắm giữ và không
phát hành rộng rãi ra công chúng. Loại hình này không tạo ra được tiền đề
cho sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như không huy động được
nhiều các nguồn vốn khác từ bên ngoài giúp cho sự phát triển của Công ty.
Trong tương lai Công ty cũng đã có những dự trù cho sự phát triển thành
Công ty cổ phần đại chúng. Có thể nêu ra đây một số các vị đứng đầu Công
ty ở thời điểm hiện nay.
Bà Nguyễn Hoàng Yến là vị Chủ tịch Hội đồng quản trị từ khi thành
lập cho đến nay. Tổng giám đốc Công ty là ông Nguyễn Hồng Chương và hai
vị phó tổng giám đốc là ông Lê Linh Lương phụ trách IT (Information
technology công nghệ thông tin), ông Đỗ Hồng Minh phụ trách sản xuất. Mô
hình về cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần FINTEC được minh họa
bằng sơ đồ sau:
9
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
GIÁM ĐỐC
XÍ NGHIỆP
CHẾ BIẾN
THỰC
PHẨM
GIÁM
ĐỐC
CHI
NHÁNH
TIN
HỌC
GIÁM
ĐỐC
TRUNG
TÂM
THIẾT
BỊ VĂN
PHÒNG
CHÁNH
VĂN
PHÒNG
CÔNG
TY
CHÁNH
VĂN
PHÒNG
KIỀU
HỐI
BAN KIỂM SOÁT
tương ớt. Phần lợi nhuận của xí nghiệp đóng góp vào tổng lợi nhuận của Công
ty chiếm 48,9% vào năm 1999 và 73,6% vào năm 2000.
Cũng phải nói thêm rằng, mặc dù lợi nhuận mang lại từ hoạt động tiêu
thụ các sản phẩm thực phẩm trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài là nhiều
nhất nhưng hoạt động marketing ở xí nghiệp không thực sự rõ nét . Chi phí
cho hoạt động quảng cáo và tiếp thị sản phẩm chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong
quỹ đầu tư phát triển xí nghiệp. Và các hoạt động tiếp thị sản phẩm chủ yếu
dừng lại ở việc in ấn các quyển sổ tay, lịch để tặng cho khách hàng, và tờ rơi.
Chủ trương của xí nghiệp là tập trung vào việc xuất khẩu mà ít chú trọng đến
thị trường trong nước. Công ty đã sử dụng lợi thế thị trường của phía bạn
hàng để phân phối sản phẩm của mình. Điều này không những làm giảm các
chi phí tìm kiếm thị trường, tiếp thị sản phẩm ở nước ngoài mà còn tránh
được các sai lầm đáng tiếc khi mở rộng thị trường ra nước ngoài như các yếu
tố về văn hóa, khẩu vị, chất lượng mặc dù sản phẩm của xí nghiệp phải
mang nhãn hiệu của tập đoàn MIVIMEX là tập đoàn bán lẻ các sản phẩm thực
phẩm . Sau đây là bảng so sánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí
nghiệp trong hai năm 1999 và năm 2000.
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA XÍ NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM NĂM 1999-2000
Chỉ tiêu Năm 1999
Năm 2000
Năm
2000 so
với năm
1999(%)
Tổng doanh thu 2200071455
- Thuế tiêu thụ ĐB, thuế xuất
khẩu phải nộp
0
0 1. Doanh thu thuần 2200071455
11029933845
501.3
2. Giá vốn hàng bán 2009840643
7518686829
374
3. Lợi tức gộp 190230812
3511247016 4. Chi phí bán hàng 59851
223210260
phải nộp
60835826.2
943351164.811. Lợi tức sau thuế 129,276,130.8
2,004,621,225.2
1550.7
(Nguồn: Phòng kế toán xí nghiệp chế biến thực phẩm FINTEC )
Bên cạnh xí nghiệp thì trung tâm thiết bị văn phòng cũng là một bộ
phận có tỉ lệ lợi nhuận cao trong tổng số lợi nhuận của Công ty chiếm trung
bình khoảng 15%. Cùng với nhu cầu ngày càng cao về các thiết bị văn phòng
và máy tính cá nhân cùng các thiết bị mạng đã tạo cho trung tâm một thị
trường rộng lớn. Tuy vậy không riêng gì trung tâm mà có rất nhiều những
13
doanh nghiệp khác cũng kinh doanh các thiết bị văn phòng và không thiếu gì
những Công ty nước ngoài đặt đại lý tại Việt Nam. Sự kết hợp chặt chẽ giữa
trung tâm thiết bị văn phòng và chi nhánh tin học hiện tại có thêm trung tâm
thương mại điện tử thì việc tiêu thụ các thiết bị văn phòng có phần thuận lợi
hơn.
Từ năm đầu 2000 khi trung tâm thương mại điện tử được thành lập
thì Công ty đã có thêm một hình thức quảng cáo mới đó là việc thiết lập các
trang web site trên mạng nhằm giới thiệu về Công ty cũng như các sản phẩm,
dịch vụ mà Công ty cung cấp với địa chỉ http/www.fintec-vn.vnn.vn . Đây là
một hình thức marketing mới được đánh giá là có hiệu quả trong trào lưu phát
Bởi thế đối với các doanh nghiệp thương mại chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn
lưu động là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng vì vét về mặt tài chính tốc độ
luân chuyển vốn lưu động gắn chặt với vấn đề mở rộng lưu chuyển hàng hoá
trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Ngược lại quản lý tài chính trong nghành nông nghiệp lại khác chu kỳ
sản xuất kinh doanh dài hơn đồng thời lại mang tính thời vụ có khoảng cách
lớn về thời gian lao động sản xuất với thời gian lao động theo vụ mùa. Điều
đó đẫn đến kéo dài thời gian chu chuyển vốn, sự hoàn vốn chậm, có khối
lượng lớn về sản phẩm chưa hoàn thành. Mặt khác sản xuất nông nghiệp trồng
chọt phụ thuộc những yếu tố thời tiết cho nên quá trình sản xuất ở đây chịu
nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết nên trong công tác quản lý tài chính
cần phải xây dựng các quỹ dự phòng bằng tiền và bằng hiện vật đặc biệt là
các doanh nghiệp có xuất khẩu cần thiết thì phải mua bảo hiểm để có thể bù
đắp các rủi ro cho kinh tế nông nghiệp trong những năm không thuận lợi.
15
Những phân tích ở trên chỉ nhằm nêu rõ những điểm cần lưu ý khi phân
tích tài chính trong các lĩnh vực khác nhau. Bởi Công ty kinh doanh trong
nhiều lĩnh vực cho nên đòi hỏi có các chính sách quản lý tài chính khác nhau.
Mặc dù xí nghiệp thuộc nghành sản xuất nông nghiệp bởi các sản phẩm mà
xí nghiệp sản xuất ra là các sản phẩm từ nông nghiệp như lạc, vải, ớt bởi
thế quản lý tài chính sẽ khác hơn so với quản lý tài chính của trung tâm thiết
bị văn phòng hay chi nhánh tin học hay văn phòng kiều hối. Do đó để có thể
đánh giá được tình hình quản lý tài chính của Công ty chúng ta sẽ phân tích từ
trong các kế hoạch về quản lý chi phí giá thành sản xuất kinh doanh, sau đó
sẽ phân tích đến các chỉ số tài chính được phân tích từ kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán cuối cùng sẽ là phân tích về quản lý
lợi nhuận, phân phối lợi nhuận.
Tại Công ty FINTEC Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm
4- Kỳ thu tiền bình quân (ngày)
37 116
35
90
5
-
S
ố v
òng quay hàng t
ồn kho
1.99
5.36
24.68
8.24
6- Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
181
67
15
44
7- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
32.75
50.56
33.18
2.03
Chỉ số thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn
Chỉ số thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho/Nợ ngắn hạn
Số vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu *360/Doanh thu thuần
Số vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho = Hàng tồn kho * 360/doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định= Doanh thu thuần / tài sản cố định
Tỉ số nợ = Tổng nợ /Tổng tài sản
Số vòng quay vốn lưu động= Doanh thu thuần / Vốn lưu động
Kỳ luân chuyển vốn lưu động= Vốn lưu động *360/ Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = Doanh thu thuần / Vốn cổ phần
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản
Tỉ số tổng tài sản trên vốn cổ phần = Tổng tài sản/ Vốn cổ phần
Các chỉ tiêu tài chính trong bảng có các ý nghĩa khác nhau cho ta
thấy được một bức tranh toàn cảnh về kết quả hoạt động tài chính của doanh
nghiệp trong các năm từ 1996 đến 1999. Chỉ số thanh toán hiện thời cho biết
17
trong Công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt thanh
toán cho các khoản nợ ngắn hạn. Ở năm 1996 chỉ số thanh toán hiện hành của
Công ty cho thấy cứ 1đ nợ ngắn hạn thì có 1.29 đồng tài sản có thể sẵn sàng
cho việc trả nợ. Vào cuối năm 1997 thì khả năng thanh toán của Công ty có
giảm sút điều này được chỉ rõ khi chỉ số thanh toán hiện thời chỉ còn là 1.12
tuy vậy xét về khả năng thanh toán thì vẫn có cải thiện vào năm 1998 với chỉ
số thanh toán ở mức cao nhất trong các năm là 1.67. Việc chỉ số thanh toán
hiện thời tăng khẳng định khả năng trả nợ tăng tuy nhiên nếu chỉ số này quá
cao thì lại chứng tỏ khả năng sử dụng vốn lưu động không linh hoạt bởi nếu
vốn lưu động bị tồn đọng trong hàng tồn kho hay phải thu của khách hàng sẽ
bẩy tài chính từ việc tài trợ bằng vốn vay. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi
phân tích hiệu suất sử dụng vốn cổ phần như sau:
Ví dụ =Doanh thu thuần /vốn cổ phần
Hiệu quả sử dụng vốn cổ phần (1996) = 3.98*1.16= 4.62
Trong đó hiệu suất sử dụng tổng tài sản là= 1.16
Cuối cùng cũng phải nói thêm rằng để có thể nói rằng các chỉ số tài
chính như vậy là có tốt hay không cần phải dựa vào tỉ số tài chính trung bình
của nghành hoặc các chỉ số tài của các doang nghiệp cùng nghành thật khó có
thể đánh giá trung về một Công ty mà hoạt động cả trong lĩnh vực sản xuất
thương mại và cả dịch vụ tuy nhiên điều dễ nhận thấy nhất là tình hình lợi
nhuận của Công ty nếu tăng trưởng ổn định thì không có lý gì không khảng
định rằng việc quản lý tài chính là có vấn đề nghiêm trọng bởi lợi nhuận là
một bộ phận quan trọng trong các đối tượng cần quản lý của tài chính doanh
nghiệp. Chúng ta sẽ chuyển sang phần cuối cùng về chính sách phân phối lợi
nhuận của Công ty.
Doanh thu thuần Tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = x
T
ổng t
ài s
ản
Trích quỹ dự phòng tài chính: 10% cho đến khi bằng 25% vốn điều lệ
Trích quỹ trợ cấp mất việc làm: 5% cho đến khi bằng tổng 6 tháng lương
của XN.
Chia lợi tức cổ phần theo mức vốn tham gia của các tổ chức, cổ đông.
20
Trích lập các quỹ khác: mức trích lập và chia quỹ lợi tức cổ phần và trích
lập các quỹ khác do đại hội cổ đông thường niên quyết định.
Mục đích sử dụng các quỹ:
Quỹ dự phòng tài chính: trích lập nhằm đảm bảo an toàn về mặt tài
chính cho XN, vừa đáp ứng đúng quy định của bộ tài chính.
Quỹ trợ cấp mất việc làm: trích lập nhằm giải quyết khó khăn cho
người lao động và chấp hành theo luật định.
Các quỹ khác: sử dụng theo quy định của Ban Giám Đốc phù hợp với
nghị định thường niên của Đại hội cổ đông (không dùng các quỹ trên dể trả
nợ cổ đông).
Mặc dù các đơn vị tự quản lý lấy phần lãi của mình tuy nhiên công ty
còn đưa ra những quy định về việc lưu giữ các khoản tiền mặt chưa sử dụng
đến trong các đơn vị . Tức là khi các đơn vị có những khoản tiền chưa sử
dụng đến có thể gửi vào quỹ của công ty với lãi suất là 0,3 %/tháng còn
những đơn vị muốn vay từ quỹ của công ty thì phải vay với lãi suất là
0.5%/tháng. Quỹ này gọi là quỹ điều tiết của công ty nhằm trợ giúp cho các
đơn vị gặp khó khăn về tài chính cũng như để có thể điều tiết được nguồn tài
chính của công ty một cách ổn định duy trì sự bình ổn về tài chính giữa các
đơn vị trực thuộc.
Quản lý tài chính đối với lợi nhuận vấn đề cần quan tâm là việc chia cổ
tức như thế nào cho các cổ đông sao cho hợp lý bởi mức cổ tức cao có thể làm
hài lòng các cổ đông nhưng lợi nhuận giữ lại thấp làm cản trở tốc độ tăng
trưởng của Công ty. Phần lợi nhuận giữ lại của Công ty ngày càng cao như
trong bảng cân đối kế toán chúng ta thấy xuất phát từ sự chuẩn bị cho một
hiệu quả của mình bằng những kết quả kinh doanh sáng sủa của Công ty.
Với tình hình tài chính lành mạnh (có lãi trong suốt 5 năm từ khi thành lập
cho tới nay) là một trong các chỉ tiêu giúp cho nỗ lực tham gia vào thị
trường chứng khoán của FINTEC thành công.
22
Lề lối làm việc khá nghiêm chỉnh . Việc đi làm muộn và có thời giờ để
chuyện trò chè nước là không có. Nhân viên tuân thủ mọi quy định của
Công ty và có ý thức trong công việc của mình điều này có được cũng do
thái độ làm việc của cấp trên hết sức nghiêm túc và thưởng phạt nghiêm
minh.
2.Những điểm còn thiếu sót trong công tác quản lý Công ty
Vấn đề quản lý nhân lực.
Đây là một thiếu sót mà phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn đang
mắc phải. Các chương trình giới thiệu Công ty cho các nhân viên mới mà cụ
thể là việc làn thế nào cho nhân viên mới hoà nhập với môi trường làm việc
cho có kết quả. Một cách chuẩn tắc phương pháp này được áp dụng cho mọi
nhân viên khi tham gia vào làm việc tại Công ty có thể hiểu biết cặn kẽ về
Công ty mình biết về các bộ phận phòng ban, về ban lãnh đạo. Việc này
không những giúp cho nhân viên mới không vi phạm những nội quy của Công
ty mà còn có được những hiểu biết cơ bản đối với nề nếp làm việc tại môi
trường làm việc của mình. Không những thế còn có thể tạo cảm giác thân
thiện giữa nhân viên mới và những nhân viên cũ, không gây cảm giác bỡ ngỡ
cho những người mới đến.
Phân chia công việc cho nhân viên chưa thực sự rõ ràng và thoả đáng.
Việc này có thể gây ra những thắc mắc nho nhỏ trong quá trình làm việc
của các cá nhân nhân viên.
Phạm vi hoạt động khá rộng có thể dẫn đến khả năng kiểm soát không
được chặt chẽ. Như chúng ta thấy các Công ty mở rộng lĩnh vực kinh
doanh sang các hướng khác nhau là nhằm phục vụ cho các mục đích tiết
trường trên mạng “thị trường ảo”.Với sự phát triển của mạng Internet với tốc
độ như hiện nay hứa hẹn một tương lai cho những nhà cung cấp giải pháp về
mạng. Việc phát triển khu vực ảo này không đơn thuần chỉ là một thứ mốt
thời thượng mà quả thật nó đã và đang mang lại hiệu quả cho các nhà sản
24
xuất, nhà phân phối, các doanh nghiệp sử dụng nó. Trong thế giới ảo mọi thứ
đều có thể thực hiện như trong thế giới vật chất. Những khách hàng trên mạng
là những con số khổng lồ không chỉ trong phạm vi một nước mà trên phạm vi
toàn thế giới. Việc tiếp cận thị trường này mang lại một số lợi ích cho Công ty
vì Công ty vẫn duy trì khu vực sản xuất cho nên việc tiếp cận một thị trường
rộng lớn hơn sẽ mang đến nhiều khách hàng hơn. Nhiều khách hàng hơn thì
không chỉ khu vực sản xuất sẽ có lợi mà ngay cả các bộ phận kinh doanh dịch
vụ khác của Công ty cũng sẽ tìm kiếm được khách hàng cho mình. Việc
tham gia vào thị trường ảo trao đổi qua thương mại điện tử là một trong
những hướng đi mới và hứa hẹn những khoản lợi nhuận to lớn trong tương lai
đang là một sức hút và là điều kiện không thể thiếu khi doanh nghiệp muốn
phát triển kinh doanh. Vì là một hướng đi mới và chứa đựng nhiều yếu tố hấp
dẫn cho sự khám phá mở mang thêm hiểu biết đồng thời có thể so sánh với
những hiện thực đang xảy ra trong thế giới ảo nên em muốn có một sự nghiên
cứu tỉ mỉ về vấn đề này. Hơn thế nữa tại Công ty đang có những tiền đề thuận
lợi cho việc nghiên cứu của mình nên em đã lựa chọn đề tài về thương mại
điện tử. Tuy nhiên thương mại điện tử là cả một mảng rất rộng các kiến thức
chuyên môn về kinh tế cũng như kỹ thuật bởi vậy việc khoanh vùng phạm vi
nghiên cứu là cần thiết cũng là để phù hợp với thời gian eo hẹp của việc viết
luận văn. Như đã trình bày ở phần trên marketing là một mảng cần có những
đầu tư thích đáng cho phù hợp với chiến lược phát triển của Công ty bởi vậy
đề tài sẽ là một nghiên cứu sơ bộ nhằm giúp cho Công ty có những chuẩn bị
khi tiếp cận với hướng phát triển mới của mình trong thị trường ảo.
tập tại Công ty quả thật em đã có những hiểu biết đáng kể về thực tế kinh