0
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế & PTNT
o0o
TIỂU LUẬN MARKETING NÔNG NGHIỆP
Đề tài: “Tìm hiểu hệ thống Marketing ngành cà phê”
GVHD: Ths. Nguyễn Hùng Anh
Nhóm : Nhóm 5
Lớp: K54 PTNT HÀ NỘI – 2012
1
MỤC LỤC:
Trang
I- MỞ ĐẦU 2
người tiêu dùng cuối cùng mà nó còn có vai trò thúc đẩy nhu cầu quảng bá sản
phẩm, nắm rõ nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng, thu thập thông tin khách hàng,
đối thủ cạnh tranh,… từ đó tạo ra động lực phát triển cho hoạt động sản xuất
kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Chỉ có
như thế doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển bền vững.
Cà phê là một sản phẩm xuất hiện từ lâu đời và rất được ưa chuộng trên
toàn cầu. Đây là loại hàng hóa giao dịch mạnh trên thị trường thế giới đã và
đang mang lại cho hàng triệu nông dân ở các nước xuất khẩu cà phê nguồn thu
nhập chính. Việt Nam là một nước có diện tích trồng cà phê lớn và là quốc gia
có sản lượng xuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới và đứng đầu về sản
xuất, xuất khẩu cà phê vối. Có được một vị trí quan trọng như vậy là do chúng
ta sớm có chủ trương phát triển cây cà phê trở thành ngành kinh tế và nguồn
hàng xuất khẩu "mũi nhọn". Nhìn lại sự phát triển của cà phê Việt Nam thời
gian qua mặc dù đạt số lượng xuất khẩu khá tốt nhưng về chất lượng, giá cả
vẫn còn thất thế so với các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới. Việt Nam hòa
nhập vào thị trường thế giới trong bối cảnh bị mất thị trường truyền thống (Liên
Xô và các nước XHCN trước đây) trong khi đó thị trường cà phê thế giới được
hình thành từ lâu đời và được phân chia rõ rệt, hầu như cà phê Việt Nam không
còn chỗ đứng. Chúng ta chủ yếu bán cà phê cho các nước trung gian, do vậy
giá cả luôn thấp hơn mặt bằng giá chung của thế giới.
3
Nhằm ổn định, nâng cao chất lượng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê
Việt Nam, chúng ta cần có những giải pháp khả thi và triển khai một cách đồng
bộ. Để cà phê Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngành cà
phê cần chú ý thay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ khâu sản xuất đến khi thu được
sản phẩm hoàn thiện.
Nhận thức được điều đó, để hiểu rõ hơn về hệ thống marketing ngành
cà phê, nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu với đề tài “Tìm hiểu hệ thống
Marketing ngành hàng Cà phê”.
Hiệp hội marketing của Mỹ thì nói: Marketing là sự dự đoán, sự quản lý,
sự điều chỉnh và sự thỏa mãn nhu cầu thông qua quá trình trao đổi.
Theo chuyên gia nghiên cứu marketing của Liên hợp quốc “Marketing
là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến
khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói cách khác
đi là lấy thị trường làm định hướng”.
Vậy khái quát nhất có thể nói: Marketing là chức năng quản lý của
doanh nghiệp về tổ chức toàn bộ các hoạt động nhằm hướng tới thỏa mãn nhu
cầu tiêu dùng của khách hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua
của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một hàng hóa cụ thể đến việc đưa
hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm làm cho khách hàng thỏa mãn
khi tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đảm bảo
cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra.
Khái niệm marketing thường dựa trên những khái niệm cốt lõi như: nhu
cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi,
giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm
marketing…
Marketing nông nghiệp: Marketing nông nghiệp là toàn bộ các hoạt
động marketing liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp.
5
Hệ thống Marketing ngành cà phê: là hoạt động của toàn bộ các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia vào chu trình dịch chuyển các sản phẩm cà
phê từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Liên kết dọc
Liên kết dọc là mối quan hệ phân phối lợi ích giữa các tác nhân và việc
truyền thông tin, truyền kiến thức và chia sẽ rủi ro giữa các tác nhân ở các cấp
khác nhau tham gia vào hệ thống marketing.
Hệ thống marketing dọc gồm các nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán
lẻ, hoạt động như một thể thống nhất. Hoặc thành viên này là chủ của thành
1.148.000 tấn cà phê, trung bình tiêu thụ 4,8kg/ người/năm hay 646 tách /năm.
Người Đức sử dụng trung bình 6,7kg/ người/năm hay 4 tách /ngày và cà phê
được coi là thức uống ưa thích nhất, xếp trước cả bia. Đối với Việt Nam, do
phong tục tập quán uống chè từ lâu đời nên lượng cà phê tiêu thụ nội địa còn
khiêm tốn, trung bình 0,5 kg/ người/năm (năm 2009).
Thực trạng sản xuất cà phê ở Việt Nam
Cà phê được trồng đầu tiên ở Việt Nam tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình năm 1897. Thực dân Pháp lập các đồn điền cà phê ở Chi Nê ( Hòa Bình),
Ba Vì (Hà Tây), Đồng Giao (Ninh Bình), Phủ Quỳ (Nghệ An), từ năm 1930-
1945 cà phê được trồng ở Tây Nguyên. Trước cách mạng tháng 8 diện tích cà
phê ở nước ta ít, năm 1930 là 10.700 ha. Suốt thời gian chống Pháp và chống
Mỹ diện tích, sản lượng cà phê tăng chậm. Từ năm 1975 trở lại đây ngành cà
phê đã tăng cả về diện tích và năng suất, sản lượng.
Do điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp nên cây được phát triển trên
quy mô rộng và cho sản phẩm có chất lượng. Đặc biệt, trong bối cảnh tiêu dùng
cà phê thế giới ngày càng tăng và việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế
WTO đã mang lại cho ngành cà phê nước ta cơ hội mới. Từ năm 1995-2007
diện tích trồng, thu hoạch, sử dụng cà phê nhân đều tăng lên mạnh qua các năm.
Từ diện tích trồng 186,4 nghìn ha năm 1995 đã tăng lên 506,4 nghìn ha năm
2007. Đặc biệt, sản lượng cà phê đã có bước tiến đáng kể nhờ áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, thâm canh cà phê, năm 2007 đã đạt 961,2 nghìn tấn. Việc áp
7
dụng công nghệ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt cũng giúp nông dân nâng
năng suất cà phê lên cao. Nếu năm 1985, năng suất cà phê Việt Nam mới ở mức
1 tấn/ha thì 20 năm sau năng suất đó đã đạt bình quân 1,7 tấn/ha, trong đó có
một số năm đạt bình quân 2-2,5 tấn/ha. Bình quân trong 20 năm mỗi hecta cà
phê đã cho sản lượng hàng năm là 1,68 tấn.Trong một vài năm gần đây, nhiều
nông dân đã mở rộng diện tích trồng cà phê trung bình khoảng 2.000 ha/năm.
Diện tích cà phê nước ta hiện nay đạt khoảng 500.000 ha.
9
4. Mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia vào hệ thống
4.1. Các tác nhân tham gia
Các tác nhân tham gia vào hệ thống ngành cà phê bao gồm nhiều nhân
tố có tác động trực tiếp tới sự phát triển của ngành cà phê. Các tác nhân đó là
sự tham gia của người sản xuất, những người thu gom, các nhà bán buôn, bán
lẻ, các nhà tiêu thụ,… Các tác nhân tham gia vào hệ thống marketing theo chiều
dọc bao gồm nhiều thành viên tham gia, các thành viên thực hiện các kiểu liên
kết khác nhau tạo ra những cấp độ kênh khác nhau. Các thành viên hoạt động
liên kết hoặc độc lập với nhau với mục đích tối đa hóa lợi nhuận của mình.
Trong hệ thống marketing của ngành cà phê, các tác nhân tham gia hoạt
động thường độc lập với nhau hoặc nếu có sự liên kết cũng chỉ là sự liên kết
lỏng lẻo, các bên đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của mình nên tạo ra sự
khó khăn trong việc tiêu thụ. Trong khâu sản xuất, hiện có 561.000 hộ với 2,6
triệu lao động đang trồng cà phê tại Tây Nguyên, trong đó 90% số hộ có quy mô
canh tác nhỏ hơn 1ha. Do sản xuất riêng lẻ, nên chất lượng sản phẩm, áp dụng
tiến bộ kỹ thuật thấp, không có cơ chế kiểm soát chất lượng hiệu quả (chỉ 10%
tổng sản lượng cà phê được sản xuất theo chứng chỉ bền vững). Chi phí sản xuất
cao, người sản xuất không có động lực và sức ép để sản xuất cà phê chất lượng
cao,… Việt Nam đang trồng hai dòng cà phê chính là cà phê Robusta (dòng cà
phê giá rẻ) và Arabica (dòng có giá trị xuất khẩu cao nhưng chỉ chiếm chưa đầy
1/4 sản lượng). Tập quán của những người trồng cà phê Arabica chưa thoát khỏi
lối canh tác cổ điển của những người trồng cà phê Robusta, nên chất lượng thấp.
Tình trạng thu hoạch khi trái còn xanh, thu hoạch bừa bãi diễn ra thường xuyên;
thâm canh, đầu tư sau thu hoạch yếu kém…
Hiện nay, mối liên hệ giữa doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu
với nông dân hết sức lỏng lẻo, thiếu sự chia sẻ lợi ích, trong khi hơn 80% diện
tích cà phê nằm trong tay người dân. Nông dân “mù” thông tin, thường xuyên bị
+ Người tiêu thụ: Có thể là các doanh nghiệp chế biến hay xuất khẩu cà
phê, các đại lý, của hàng và người tiêu dùng.
11
Nhóm tham gia liên kết gián tiếp: bao gồm Nhà khoa học, chính quyền
các cấp, cơ sở cung cấp đầu vào cho sản xuất, các tổ chức xã hội, tổ chức tín
dụng, ngân hàng,… Các tác nhân này không trực tiếp tham gia vào việc sản
xuất, chế biến hay tiêu thụ sản phẩm mà chỉ chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ cho
người sản xuất về kỹ thuật, cung cấp vốn, vật tư, thông tin thị trường và cơ chế
chính sách…
4.2. Mối quan hệ giữa các tác nhân
4.2.1. Mối quan hệ theo chiều ngang
a. Mối quan hệ giữa các NSX
Có mối quan hệ hợp tác là chủ yếu. Những NSX hợp tác với nhau trong
khuôn khổ HTX , các tổ chức công ở địa phương hoặc sự hợp tác giữa các hộ
quen biết nhau.
Các hộ tự hợp tác với nhau dưới hình thức chung vốn để mua sắm máy
móc, thiết bị, công cụ lao động phục vụ cho sản xuất.
Các hộ hợp tác trong khâu áp dụng đồng bộ việc phòng trừ sâu bệnh.
Những NSX còn cung cấp cho nhau thông tin về giá và cầu của thị
trường.
Giám sát nhau trong hoạt động sản xuất cà phê để đảm bảo chất lượng
cũng như uy tín của vùng
Tuy có sự trao đổi về thông tin nhưng những NSX vẫn có sự độc lập
trong các quyết định của mình.
b. Mối quan hệ giữa các tác nhân trung gian
Có sự gắn kết với nhau trong việc thực hiện vai trò của những người
khâu nối giữa NSX và NTD.
Các tác nhân trung gian này cung cấp các thông tin về nhu cầu cà phê
của các tác nhân khác trong hệ thống.
Nhà ch
ế
bi
ế
n
Nhà ph
ân
ph
ố
i
Nhà khoa
học,
Khuyến
nông
Đại lý bán
buôn
Đại lý bán lẻ
Ngân
hàng
và các
tổ chức
tín
dụng
các tác nhân làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm một cách công bằng cũng là
một trong những điều kiện đảm bảo duy trì mối quan hệ giữa các tác nhân trong
hệ thống.
- Quan hệ hợp tác trong hoạt động cung ứng đầu vào cho sản xuất: Nội
dung liên kết này thể hiện giữa các nhà cung cấp đầu vào và người sản xuất cà
phê trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Chủ thể cung ứng đầu vào có
thể là doanh nghiệp thu mua, các cơ sở thu gom hay các đại lý đầu vào,… mối
14
liên kết này thường được thực hiện thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Hộ
nông dân được doanh nghiệp hỗ trợ về giá và cước vận chuyển trong khâu mua
sắm các đầu vào.
- Liên kết trong hoạt động ứng dụng KHKT vào sản xuất: Chủ thể tham
gia trong hoạt động này là các nhà khoa học (cán bộ nghiên cứu của các viện,
các trung tâm nghiên cứu, cán bộ khuyến nông…), hợp tác xã, doanh nghiệp
chế biến và hộ nông dân. Trong quan hệ này, nhà khoa học có cơ sở vững chắc
để phát triển nghiên cứu đáp ứng đòi hỏi của thị trường tiêu dùng về chất lượng,
mẫu mã, nguồn gốc sản phẩm…đảm bảo an toàn. Hộ sản xuất có điều kiện để
áp dụng TBKT vào sản xuất nhằm giảm chi phí, đem lại hiệu quả cao trong sản
xuất.
- Liên kết trong hoạt động vay vốn phát triển sản xuất: Nội dung liên kết
trong hoạt động này có các tác nhân chính là các tổ chức tín dụng, ngâ hàng và
hộ nông dân. Mối liên kết này mang lại lợi ích cho cả 2 bên. Một mặt tạo điều
kiện giúp nông dân có vốn phát triển sản xuất, mặt khác cũng tạo ra thu nhập
cho các tổ chức cho vay từ lãi suất.
- Liên kết trong hoạt động chế biến: Các cơ sở chế biến trực tiếp thu mua
nguyên liệu từ các hộ sản xuất hoặc thông qua người thu gom, thương lái hay
hợp tác xã bằng hợp đồng thu mua sản phẩm. Trong mối liên kết này, người sản
xuất có được nguồn vốn phục vụ sản xuất, có cán bộ kỹ thuật do doanh nghiệp
cử xuống hướng dẫn sản xuất và có đầu ra ổn định cho sản phẩm. Đồng thời
trại, các doanh nghiệp và các hợp tác xã trực tiếp sử dụng các yếu tố đầu vào để
sản xuất ra cà phê.
Nông dân tự tiêu thụ sản phẩm :áp dụng đối với những hộ nông dân
trồng cà phê với quy mô nhỏ. Sau khi thu hái cà phê người tự chế biến theo
phương pháp thủ công, mang tính chất gia đình : Thu hoạch -> Phân loại ->
Chế biến -> Bảo quản -> Tiêu thụ.
Mỗi công đoạn đều được thực hiện với nhiều giai đoạn khác nhau. Khi cà
phê thu hoạch sẽ được tập trung lại và tiến hành phân loại, loại bỏ tạp chất ( đất,
đá, cành cây … ) và phân loại quả khô, quả xanh, quả non ra khỏi quả chín đều.
Sau khi phân loại cà phê là khâu chế biến thông qua các công đoạn bóc vỏ,
ngâm ủ, rửa nhớt và phơi sấy. Cuối cùng là khâu bảo quản và tiêu thụ bằng cách
chứa cà phê trong bao tải để nơi khô thoáng và tiêu thụ dần theo mối làm ăn
giữa hộ sản xuất với người tiêu dùng.
Phương tiện vận chuyển rất đơn giản, có thể bằng chính phương tiện gia đình :
xe máy, xe thồ, …
Khi nông dân bán xô cho các nhà tư thương : Nếu bán cho tư thương,
người dân không phải tham gia vào quá trình thu hoạch. Người nông dân
thường được các thương lái bao tiêu nguyên vườn. Đây là hình thức ưa chuộng
nhất của nông dân trồng cà phê, do không phải tham gia vào việc thu hoạch, bảo
quản, mà vẫn đảm bảo bán hết cà phê ( bao gồm các loại quả kém chất lượng).
Nông dân bán cho doanh nghiệp tư nhân.
Khi bán cho doanh nghiệp, nông dân ký hợp đồng với doanh nghiệp và phải
tuân theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của doanh nghiệp ( công ty Dakman, công
ty Amazaro VN, chi nhánh Newman Group, Olam VN, Hà Lan VN và Công ty
Vĩnh An.) . Công ty Man – Buôn Ma Thuột (Dakman) được trực tiếp thu mua
cà phê của nông dân. Lý do, theo UBND tỉnh là Man – Buôn Ma Thuột đã liên
kết với nông dân trồng 3.676ha cà phê sạch 4C với sản lượng khoảng 12.000
tấn/năm.
17
biến. Có thể chứa hạt cà phê khô trong bao tải đặt cao so với nền nhà để tạo sự
thông thoáng.
Đóng gói
Sau khi được phân loại, cà phê được tư thương chứa vào bao tải và vận
chuyển tới các cơ sở chế biến để tiêu thụ. Tuy nhiên rất ít tư thương chú ý tới
việc đảm bảo chất lượng của quả cà phê nên dễ bị hư hỏng.
Vận chuyển
Việc vận chuyển chủ yếu được thực hiện bằng ô tô chuyên chở hoặc bằng xe
máy tới các cơ sở chế biến thuộc các công ty chế biến cà phê lớn.
Cà phê được chứa trong bao tải lớn và xếp chồng lên nhau vào các xe chuyên
chở để đưa tới các cơ sở chế biến cà phê.
Vì cà phê có dạng hạt nên tỷ lệ hao hụt trong quá trình vận chuyển hầu như
không có.
Hao hụt tư thương phải chịu:
Tư thương thường là đối tượng chịu hao hụt lớn nhất trong toàn chuỗi giá
trị cà phê, bao gồm:
- Hao hụt do thời gian kéo dài để thu gom đủ số lượng dẫn đến tình trạng chất
lượng quả cà phê thu hái trước và sau không đồng đều. Tuy nhiên, các hao hụt
này thường không đáng kể, chỉ khoảng 3 – 5 % tuỳ vào thời gian để lâu hay
mau.
- Hao hụt do quá trình sơ chế: trong quá trình sơ chế quả cà phê không đảm bảo
cũng dẫn tới chất lượng không được đảm bảo gây mất giá sản phẩm. Hao hụt
này chiếm khoảng 2%.
- Hao hụt do vận chuyển, bốc vác: cà phê có dạng hạt nên hao hụt này không
quá lớn chỉ khoảng 1%
Ngoài các hao hụt trên đây, đôi khi tư thương cũng phải chịu thêm mất mát do
một số khách hàng không chịu thanh toán theo thỏa thuận. Do không có hợp
đồng pháp lí rõ ràng nên tư thương không thể đòi tiền được.
19
Ngoài ra người chế biến còn tiến hành hoạt động dán nhãn, bao gói cho sản
phẩm nhằm hạn chế những bất lợi trong qua trình bảo quản xảy như nấm mốc,
các bệnh do côn trùng gây ra đồng thời khẳng định thương hiệu cho doanh
nghiệp của mình trên thị trường.
d) Người bán buôn và người bán lẻ
Người bán buôn:
Các khâu sau nhận hàng của người bán buôn tại các chợ đầu mối như sơ chế,
dán nhãn và vận chuyển thường nhanh chóng hơn so với thương lái, do địa
điểm vận chuyển không xa các chợ đầu mối. Vì vậy chi phí marketing của
người bán buôn chủ yếu là khâu bảo quản, đóng gói.
Chi phi bảo quản:
Do đặc tính lý học cũng như sinh lý của cà phê thay đổi từ lúc được thu hái tới
khi đem về kho nên trong bảo quản cà phê thường xảy ra bất lợi.Sau khi thu
mua cà phê người bán buôn phải tiến hành các khâu bảo quản với mức chi phí
khá cao. Như chi phí cho bảo quản kín, bảo quản trong bao, bảo quản
thoáng gió…
Chi phí đóng gói: Người bán buôn đa phần tốn rất ít cho chi phí đóng
gói bởi họ nhận sản phẩm đã qua bao gói từ nhà chế biến, họ tiến hành phân
phối cho người bán lẻ hoặc người tiêu dùng với số lượng lớn bằng phương pháp
đóng thùng giấy hoặc bìa các tông … nên chi phí náy rất ít và thườn là không
đáng kể.
Chi phí vận chuyển:
Khi nhận sản phẩm từ nhà chế biến: Cà phê sau khi đã được chế biến sẽ được
vận chuyển từ nhà chế biến tới nhà bán buôn thông qua phương tiện xe tải, xe
công tơ chuyên dụng hoặc người bán buôn từ thuê xe để chở hàng cho mình
Khi bán cho người bán lẻ, người tiêu dùng: Nhà bán buôn có thể dùng xe tải,
xe công tơ chuyên dùng chở cho người bán lẻ hoặc cho cả người tiêu dùng có
nhu cầu lớn.
21
giúp đưa ra những giải pháp cải thiện hiệu quả trong sản xuất và tiêu thụ.
- Với người sản xuất: Hiệu quả trong sản xuất đang thực sự được quan tâm bởi
qua những số liệu gần đây thì diện tích trồng cà phê ngày càng tăng, năng suất
cà phê cũng tăng mạnh khiến kim ngạch xuất khẩu nhờ đó cũng đi lên.
22
Năm
Diện tích gieo
cà phê (1000
ha)
Năng
suất(tạ/ha)
Diện tích cho
cà phê(1000
ha)
Kim ngạch
xu
ất khẩu
(triệu USD)
2007
478.5
đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho kinh doanh nên trình độ ứng dụng công nghệ
23
sau thu hoạch còn thủ công. Việc sơ chế khá đơn giản, sau khi thu hoạch về cà
phê được đặt ở nơi thoáng mát, không áp dụng hình thức bảo quản nào, rồi vận
chuyển đi ngay chính vì thế dẫn đến hao hụt lớn về chất lượng và số lượng cà
phê. Bên cạnh đó hợp đồng mua bán với nông dân chủ yếu là thỏa thuận miệng .
Khi bán lẻ hoặc bán cho thương lái nhỏ hơn thương lái chỉ buôn bán dựa trên
thoả thuận miệng chứ không hề thông qua bất kì một hình thức hợp đồng chính
thức nào, và việc quảng cáo, tiếp thị sản phẩm chưa được quan tâm nhiều.
Các doanh nghiệp chế biến phải chịu thêm chi phí marketing do thu mua
những sản phẩm cà phê chỉ sơ chế sơ qua. Các cơ sở chế biến phải tiến hành
thanh lọc lại một lần nữa những hạt cà phê không đạt tiêu chuẩn, lựa chọn hạt
có chất lượng tốt để chuyển tới các khâu tiếp theo trong hoạt động chế biến.
Các công ty xuất khẩu cà phê đang ngày càng được chú trọng về cả chất
và lượng. Họ sẽ là tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm đối với sản phẩm cà phê đã
qua chế biến mà được lựa chọn để xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Người tiêu dùng: vì cà phê là sản phẩm đã qua chế biến nên việc lựa
chọn tiêu dùng của người tiêu dùng phụ thuộc vào thương hiệu và thị hiếu tiêu
dùng của người dân là chính. Người tiêu dùng sẽ chấp nhận mua sản phẩm cà
phê đen hay cà phê hòa tan tùy theo sở thích của họ với mọi mức giá khác nhau.
6. Khó khăn, thách thức
6.1. Về sản xuất
+ Diện tích được mở rộng và quy hoạch một cách tùy tiện, nhỏ lẻ, tự
phát; không có tổ chức dẫn đến giá cà phê biến động và tính thâm canh yếu
+Hầu hết cà phê trở nên già cỗi: Hiện số hecta cà phê già cỗi phải tái
canh đã chiếm 30% tổng diện tích cà phê cả nước và đến năm 2020 dự báo sẽ là
50% tương đương với việc giảm 50% sản lượng cà phê. Theo số liệu thống kê
mới nhất của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam thì hiện nay nước ta có trên
500.000 hécta cà phê, trong số đó chỉ có khoảng 274.000 hécta chiếm khoảng
sâu bệnh như nấm, tuyến trùng hại rễ nhanh chóng phát sinh và tàn phá nhiều
vùng cà phê. Bên cạnh đó, việc đốn bỏ nhiều loại cây che bóng mát trong vườn