1 TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
2
3
Mặt khác, mục tiêu quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh
ngân hàng thương mại là tìm kiếm lợi nhuận, vì lợi nhuận là yếu tố quyết
định sự sống còn của ngân hàng thương mại. Các lĩnh vực hoạt động có
khả năng mang lại lợi nhuận cao luôn là điều hấp dẫn đối với các nhà
quản trị.
Tóm lại, hai mục tiêu chính của phân tích hoạt động kinh doanh
ngân hàng thương mại là phát hiện các lĩnh vực kinh doanh có khả năng
mang lại lợi nhuận cao; đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro
phát sinh trong quá trình kinh doanh tiền tệ. Tuy nhiên, lợi nhuận và rủi ro
là hai yếu tố song hành. Lĩnh vực kinh doanh sinh lợi nhuận càng cao
thì khả năng bị rủi ro càng lớn. Do đó, các quản trị gia phải sáng suốt,
khách quan để có thể lựa chọn một chiến lược kinh doanh phù hợp với thực
trạng ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH
1. Đối với ngân hàng ngoại thương
- Để điều hành tốt hoạt động kinh doanh của ngân hàng, Ban Giám
đốc không những phải biết nghiên cứu thị trường, tổ chức hoạt động, hạch
toán mà còn phải thường xuyên phân tích hoạt động ngân hàng để phát hiện
kịp thời mặt mạnh, điểm yếu của đơn vị mình từ đó có những giải pháp
thích hợp trong việc sử dụng vốn, lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của ngân hàng.
- Phân tích, kiểm tra hoạt động ngân hàng là khâu quan trọng trong
công tác quản trị. Phân tích kết quả kinh doanh là việc xem xét, đo lường
quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh. Khi một chiến lược mới được
đưa vào thực hiện, nhà quản trị cần kiểm tra, phân tích để phát hiện các sai
lệch giữa thực tiễn và kế hoạch, xác định nguyên nhân, đề ra giải pháp xử
lý. Với nhà lãnh đạo, việc phân tích, đánh giá đúng năng lực hoạt động của
ngân hàng sẽ giúp họ kịp thời đưa ra các quyết định cần thiết, đúng lúc và
gởi. Ngân hàng Nhà nước là đại diện của Chính phủ trong việc bảo vệ tài
sản của người gởi tiền. Ngân hàng Nhà nước có thể cung cấp một số thông
tin về tình hình hoạt động của từng ngân hàng thương mại cho công chúng.
Qua công tác thanh tra kiểm soát, Ngân hàng Nhà nước đã góp phần tạo và
giữ gìn “chữ tín” – sản phẩm vô giá cho các ngân hàng thương mại.
- Mặt khác, các định chế tài chính là nơi cất giữ phần lớn các khoản
tiết kiệm của xã hội, là người phân phối các khoản tín dụng, chủ yếu là
trung tâm thanh toán của cả nước, là cơ quan duy nhất có chức năng tạo
tiền v.v… do đó, Chính phủ luôn cố gắng tác động và kiểm soát các ngân
hàng thương mại bằng cách giao cho Ngân hàng Nhà nước quyền giám sát
và thường xuyên kiểm tra hoạt động ngân hàng thương mại. Qua giám sát,
5
Ngân hàng Nhà nước sẽ phát hiện những yếu kém trong quản lý, gian lận
trong kinh doanh cũng như các biến động tiềm ẩn trong và ngoài nước để
từ đó có thể ban hành các chính sách hữu hiệu cho nền kinh tế.
3. Đối với xã hội:
Các ngân hàng thương mại không thể tồn tại nếu không xác lập
được mối quan hệ với các tầng lớp dân cư. Mối quan hệ đó có thể là hợp
tác kinh doanh như hùn vốn, mua cổ phần hoặc có thể là quan hệ giữa
khách hàng và người cung cấp vốn. Khi đặt mối quan hệ với bất kỳ ngân
hàng nào, các nhà đầu tư cần phải nghiên cứu, phân tích khả năng kinh
doanh, chất lượng dịch vụ cũng như uy tín của ngân hàng đó, được như vậy
mối quan hệ giữa hai bên mới lâu bền và tốt đẹp.
Tại các nước có nền kinh tế phát triển, các ngân hàng thương
mại buộc phải công khai các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của
mình trên các phương tiện thông tin đại chúng như: sách báo, trung
tâm giao dịch chứng khoán v.v tạo điều kiện cho các thể nhân, pháp
nhân có nhu cầu đầu tư tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) tìm hiểu,
đánh giá để “chọn mặt gởi vàng”, tránh tình trạng lừa đảo, hiểu sai do
3. Phải nghiên cứu hiện tượng trong một không gian và thời gian
nhất định. Mọi hiện tượng đều có quá trình hình thành, phát triển và biến
đổi trong một môi trường nhất định. Vì vậy, muốn đánh giá bản chất của
hiện tượng, các nhà phân tích không chỉ nghiên cứu tình hình hiện tại mà
còn quan tâm đến hoàn cảnh cụ thể cũng như môi trường mà hiện tượng đó
phát sinh. Chẳng hạn, cùng một hiện tượng ở cùng một mức độ, nếu tồn tại
trong điều kiện này thì được đánh giá tốt nhưng trong điều kiện khác thì bị
nhận định xấu.
4. Hiện tượng kinh tế phải được xem xét trong mối quan hệ hữu
cơ với các hiện tượng kinh tế khác. Một hiện tượng kinh tế thường ảnh
hưởng hoặc chịu tác động bởi nhiều hiện tượng kinh tế khác. Bởi vì các
hiện tượng luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó, muốn đánh giá
đúng hiện tượng, tìm đúng nguyên nhân của sự kiện, xác định đúng các
nhân tố ảnh hưởng đến sự việc các nhà quản trị cần xem xét toàn diện các
mối quan hệ liên quan đến nó. Nói cách khác, khi phân tích các hiện tượng
các nhà phân tích không nghiên cứu từng hiện tượng riêng lẻ, cô lập mà
phải xem xét chúng trong mối quan hệ với các hiện tượng kinh tế khác.
5. Khi phân tích phải phát hiện được các mâu thuẫn, phân loại
mâu thuẫn và đề ra các biện pháp giải quyết mâu thuẫn. Quá trình vận
động và phát triển của các hiện tượng kinh tế luôn tồn tại các mâu thuẫn.
Chính việc tìm ra mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn là động lực chủ yếu
và xác định nguyên nhân của mâu thuẫn là cơ sở quan trọng giúp nhà quản
trị xây dựng các chiến lược phù hợp cho kỳ hoạt động sau.
7
IV. KỸ THUẬT PHÂN TÍCH
1. Kỹ thuật so sánh:
- Muốn nghiên cứu mức biến động, tốc độ tăng trưởng của hiện tượng
dùng phương pháp so sánh với số liệu tháng trước, năm trước v.v…
V. CÁC LOẠI HÌNH PHÂN TÍCH
5.1 Dựa vào thời hạn phân tích
- Phân tích thường xuyên
- Phân tích định kỳ
5.2 Dựa theo nội dung phân tích
- Phân tích chuyên đề
- Phân tích toàn diện
5.3 Dựa vào phạm vi phân tích:
- Phân tích điển hình.
- Phân tích tổng thể
VI. CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHỦ YẾU.
1. Bảng tổng kết tài sản (Balance Sheet):
Khái niệm:
Bảng tổng kết tài sản (hay bảng cân đối tài sản) là một báo cáo
tài chính tổng hợp phản ánh toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình
thành tài sản đó của ngân hàng tại một thời điểm nhất định.
BTKTS là một báo cáo tài chính quan trọng, và chủ yếu nhất. Dựa
vào BTKTS người quản trị có thể biết được tài sản hiện có, hình thái vật
chất, cơ cấu tài sản, tình hình hoạt động kinh doanh và kết quả tài chính của
ngân hàng. Thông qua BTKTS, các nhà phân tích có thể nghiên cứu, đánh
giá trình độ quản lý, chất lượng kinh doanh cũng như dự đoán những triển
vọng của ngân hàng trong tương lai.
2. Kết cấu Bảng tổng kết tài sản:
Bảng tổng kết tài sản được chia thành hai phần:
- Tài sản có hoặc tích sản (Assets)
9
- Tài sản nợ hoặc tiêu sản và vốn chủ sở hữu (Liabilities &
Capital)
Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại bảng không làm thay
đổi kết cấu cân số BTKTS, nhưng vì nó cũng là một hiện tượng kinh tế
phát sinh trong quá trình kinh doanh nên độ rủi ro của nó cũng tác động
mạnh mẽ đến độ an toàn của ngân hàng.
Rủi ro ngoại bảng có thể phát sinh ngay khi ngân hàng nhận thực
hiện các nghiệp vụ ngoại bảng. Bởi vì, khách hàng có thể yêu cầu ngân
hàng thực hiện cam kết ngay thời điểm ngân hàng gặp khó khăn về vốn
hoặc tình trạng của ngân hàng có thể xấu đi từ khi ngân hàng ký cam
kết đến khi ngân hàng thực hiện các cam kết đó.
Do đó, khi phân tích hoạt động ngân hàng thương mại, bên cạnh việc
nghiên cứu các hoạt động trong BTKTS, các nhà quản trị cần phải quan
tâm đến mức độ và diễn biến của các hoạt động ngoại bảng. Bởi vì, độ rủi
ro của các hoạt động này cũng ảnh hưởng không ít đến kết quả kinh doanh
của ngân hàng thương mại.
3.3 Đặc điểm của Bảng Tổng Kết Tài Sản:
3.3.1 Bảng tổng kết tài sản là báo cáo kế toán tại một thời điểm
nhất định
Nếu hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được xem
như một cuốn phim thì BTKTS là tấm ảnh “chụp” lại “diện mạo” của
ngân hàng mà nhà quản trị nếu chỉ dựa vào một BTKTS thì dễ vấp phải
nhiều sai lầm nghiêm trọng. Đó là chưa kể đến trường hợp “tấm ảnh” đã
được tô điểm , sửa đổi lại cho cân đối hơn, hài hoà hơn…. để hoàn mỹ
hơn và để dễ chấp nhận hơn.
Tính thời điểm là hạn chế lớn nhất của BTKTS. Để khắc phục đặc
điểm này các nhà ngân hàng cần phải xem xét thêm nhiều báo cáo kế toán
hỗ trợ khác; đồng thời, phải nghiên cứu BTKTS trong nhiều kỳ báo cáo để
có thể đưa ra những nhận định chính xác về tình hình hoạt động của ngân
hàng; chỉ rõ được mặt mạnh, điểm yếu và đề ra được nhiều biện pháp khả
thi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
3.3.2 Tính đặc thù của Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng
- Phần lợi nhuận – Kết quả kinh doanh
Ngoài hai báo cáo trên, trong phân tích ngân hàng thương mại các
nhà quản trị còn sử dụng nhiều báo cáo khác như: báo cáo về các khoản
mục cho vay, các khoản mục đầu tư, tình hình huy động vốn, báo cáo ngoại
tệ v.v Đây là các báo cáo tài chính quan trọng giúp các nhà quản trị đánh
giá chính xác thực trạng kinh doanh của đơn vị, từ đó đề ra được các giải
pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong
tương lai.
12
CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN CÓ
I. CÁC KHOẢN MỤC TÀI SẢN CÓ (ASSETS):
Tài sản có là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng. Các tài
sản có sinh lời là các khoản mục chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân
hàng thương mại.
Tài sản có bao gồm các khoản mục sau:
1. Tiền dự trữ:
Tiền dự trữ bao gồm: Dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư.
- Dự trữ bắt buộc (DTBB): Là khoản tiền Ngân hàng Nhà nước yêu
cầu các ngân hàng thương mại phải thường xuyên duy trì theo một tỷ
lệ nhất định trên tổng số tiền huy động. Tỷ lệ DTBB phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ nhất
định. Khoản dự trữ này ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cũng
như chi phí của ngân hàng thương mại.
- Dự trữ thặng dư: Để đảm bảo nhu cầu thanh toán và giảm rủi ro
thanh khoản, các ngân hàng luôn có sẵn một khoản dự trữ nhất định
để thoả mãn các nhu cầu rút tiền và cho vay trong kỳ.
2. Các khoản đầu tư chứng khoán.
v.v…
4. Tài sản có khác.
Bao gồm:
- Tài sản cố định, vật liệu & công cụ lao động: Đây là những tư liệu
lao động cần thiết, là cơ sở vật chất quan trọng không thể thiếu đối
với các tổ chức kinh doanh tiền tệ.
- Các khoản phải thu, tài sản thiếu hụt, mất mát trong kinh doanh.
- Các khoản phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán.
II. PHÂN TÍCH TỔNG QUÁT TÀI SẢN CÓ:
Một trong những nguyên tắc cơ bản để tiến hành hoạt động phân tích
là phải sắp xếp lại đối tượng phân tích theo một trật tự nhất định phù hợp
với mục tiêu phân tích. Sau đó, nhà quản trị sẽ nghiên cứu tỷ trọng của
từng loại khoản mục tài sản có để có thể đưa ra những nhận định khái quát
về cách phân bổ vốn của ngân hàng.
14
Chỉ số phân tích:
Số dư từng khoản mục tài sản
có
Tỷ trọng
từng khoản
mục
tài sản có
=
Tổng tài sản có
* 100
Với chỉ số này, các nhà phân tích sẽ nắm được kết cấu của tài sản có,
qua đó có thể nhận định được mặt mạnh, điểm yếu của ngân hàng. Bởi vì,
khoản tiền gửi của một ngân hàng thương mại nào đó. Nhưng thực tế,
các khách hàng thường có nhiều phản ứng bất lợi cho việc “tạo tiền” của
ngân hàng thương mại. Trước hết, người ký thác ban đầu và những người
nhận tiền kế tiếp đã không giữ lại toàn bộ số tiền trên tài khoản, mà họ
rút ra một lượng lớn tiền mặt để chi trả cho các nhu cầu thanh toán
khác. Số tiền này hoà nhập vào khối tiền ngoài ngân hàng. Hậu quả tất yếu
là khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại bị giảm sút.
Ngoài ra, về nguyên tắc, DTBB là loại tài sản có không sinh lời.
Vì vậy khi phải DTBB các ngân hàng thương mại buộc phải trả thêm một
khoản phí trong kinh doanh – Phí DTBB. Trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, khi tăng tỷ lệ DTBB, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất cho vay.
Điều này không những làm giảm khả năng sinh lợi mà còn có thể gia tăng
độ rủi ro trong kinh doanh đầu tư của ngân hàng thương mại.
Chính vì các nguyên nhân trên, để tồn tại và phát triển nhiều ngân
hàng thương mại cổ phần đã không thực hiện đúng chế độ DTBB. Nhận
thức được vấn đề này và để tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại tự
giác tham gia và thực hiện chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành nhiều văn bản để chỉnh sửa và hoàn thiện việc thực hiện chính sách
DTBB. Theo nghị định 51/1999/QĐ-NHNN1, DTBB của các ngân hàng
thương mại được xác định như sau:
Số tiền phải DTBB
=
Số dư tiền gởi bình
quân của kỳ xác định
DTBB
* Tỷ lệ DTBB
Trong đó
- DTBB là số tiền mà tổ chức tín dụng phải duy trì trên tài khoản
gởi không kỳ hạn tại Ngân hàng Nhà nước. Tiền gởi DTBB bao
gồm tiền gởi bằng VND và USD.
có và nỗi lo sợ rủi ro thanh khoản. Vậy dự trữ bao nhiêu là tối ưu? Câu
hỏi này sẽ được kết hợp giải quyết ở phần rủi ro thanh khoản.
IV. PHÂN TÍCH NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG:
1. Nghiệp vụ tín dụng:
Phân tích nghiệp vụ tín dụng là nội dung quan trọng trong việc phân
tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tùy theo mục tiêu phân tích, các
nhà quản trị đưa ra nhiều tiêu thức phân tổ khác nhau khi phân loại tổng dư
nợ của ngân hàng. Chẳng hạn, phân loại các khoản tín dụng theo ngành
kinh tế, thành phần kinh tế, theo từng loại hàng hoá vốn tín dụng đầu tư,
khả năng thanh toán của khách hàng v.v… Với mỗi cách phân loại khác
17
nhau, nhà quản trị có thể xác định được những rủi ro ngân hàng thương mại
đang và sẽ gánh chịu để có đưa ra được những biện pháp hữu hiệu góp
phần nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
Theo nghị định 48/1999/QĐ-NHNN5, về trích lập dự phòng và xử lý
rủi ro, tài sản có của hoạt động tín dụng được phân thành các nhóm sau:
Nhóm 1: gồm:
- Các khoản cho vay chưa đến hạn trả nợ (kể cả gia hạn nợ).
- Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán.
- Các khoản cho thuê tài chính chưa đến hạn.
Nhóm 2: gồm:
- Các khoản cho vay có bảo đảm quá hạn dưới 180 ngày, khoản cho
vay không có bảo đảm quá hạn dưới 90 ngày.
- Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
ngắn hạn quá dưới 30 ngày.
- Số tiền phải trả cho người được bảo lãnh nhưng chưa thu hồi được
tiền dưới 30 ngày.
- Khoản cho thuê tài chính chưa thanh toán trong thời hạn dưới 180
hạn)
- Chỉ số 4:
Tổng dư nợ
X
100
Ý nghĩa của các chỉ sô :
Chỉ số 1 : Chỉ số này xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy
động. Nó giúp nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với
nguồn vốn huy động.
Chỉ số 2 : Đây là chỉ số tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản
có. Ngoài ra, chỉ số này còn xác định quy mô hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Chỉ số 3 : Chỉ số đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng của các ngân
hàng. Các ngân hàng có chỉ số này thấp thường được đánh giá cao về chất
lượng tín dụng.
19
Chỉ số 4 : Đây là chỉ số xác định cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang khuyến khích các ngân hàng
thương mại dùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho trung – dài hạn
(khoảng 20% - 30%) nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn hiện nay của
nền kinh tế. Nhưng để tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thực
hiện được kế hoạch này, Ngân hàng Nhà nước nên quan tâm đến yếu tố lãi
suất; vấn đề thanh khoản; mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, thị
trường chứng khoán vv…để giảm bớt các rủi ro cho từng ngân hàng
thương mạinói riêng và cho toàn hệ thống ngân hàng nói chung.
V. PHÂN TÍCH NGHIỆP VỤ ĐẦU TƯ VÀ GÓP VỐN LIÊN
DOANH:
VI. PHÂN TÍCH CÁC TÀI SẢN CÓ KHÁC:
Tài sản có khác của ngân hàng hầu hết là các tài sản, nhưng để tồn
tại và phát triển, ngân hàng buộc phải duy trì nó ở một mức độ nhất định
trong phạm vị cho phép của luật pháp.
Những khoản mục đáng quan tâm trong tài sản có khác của ngân
hàng là các khoản thu, chờ phân bổ , vốn trong thanh toán v…v… Đây là
những khoản vốn phức tạp, nhập nhằng mà các nhà phân tích không dễ
dàng phát hiện ra sai sót trong hạch toán nếu không xem xét từng hồ sơ,
từng định khoản. Được như vậy, nhà phân tích mới có thể phát hiện những
chỗ yếu, sai lầm thậm chí gian lận, lừa đảo trong hạch toán để kịp thời đưa
ra biện pháp chấn chỉnh công tác quản lý tài sản của ngân hàng thương mại.
21
CHƯƠNG 3:
PHÂN TÍCH TÀI SẢN NỢ VÀ VỐN SỞ HỮU CHỦ
I. PHÂN TÍCH TÀI SẢN NƠ:
1. Các khoản mục Tài sản Nợ:
Tài sản nợ của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân
hàng huy động, tạo lập được, dùng để cho vay, đầu tư và thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh khác. Tài sản nợ bao gồm các thành phần chủ yếu
sau:
1.1 Vốn huy động:
Vốn huy động là những phương tiện tiền tệ do ngân hàng thu nhận từ
nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ ký thác và nghiệp vụ khác để làm vốn
kinh doanh. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là ngân hàng chỉ được
quyền sử dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó
thuộc về những người ký thác. Do đó, khi sử dụng nguồn vốn này ngân
hàng phải luôn dự trữ tiền tệ ở một tỷ lệ nhất định để bảo đảm thoả mãn các
nhu cầu tiền tệ của khách hàng
2.1 Chỉ số phân tích
Số dư từng khoản mục tài sản
nợ
Tỷ trọng từng
khoản mục tài sản
nợ
=
Tổng tài sản nợ
X 100
2.2 Ý nghĩa:
Chỉ số này sẽ giúp nhà lãnh đạo biết được cơ cấu nguồn vốn của
ngân hàng mình. Mỗi tài sản nợ đều có những yêu cầu khác nhau về chi
phí, thanh khoản, thời hạn hoàn trả v v ;do đó, ngân hàng cần phải quan
sát, đánh giá chính xác từng loại nguồn vốn để kịp thời có những chiến
lược huy động vốn tốt nhất trong từng thời kỳ nhất định.
3. Phân tích vốn huy động và vốn vay của Ngân hàng.
Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của ngân hàng thương
mại và các doanh nghiệp phi tài chính là: ngân hàng thương mại kinh
doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế còn các doanh
nghiệp phi tài chính chủ yếu kinh doanh bằng nguồn vốn tự có. Vì vậy,
khi nghiên cứu của ngân hàng là việc làm đầu tiên mà các nhà phân tích
nên xúc tiến.
23
3.1 Phân tích vốn huy động
3.1.1 Chỉ số phân tích
Chỉ số 1:
Vốn huy động
Vốn tự có
24
yêu cầu này, Ngân hàng Nhà nước Trung ương muốn tập trung quản lý
nhằm kiểm soát chặt chẽ khối lượng tiền trong lưu thông. Song việc làm
này gây nhiều khó khăn cho ngân hàng thương mại;bởi vì, nếu muốn nhận
được vốn vay từ trung ương, ngân hàng thương mại phải tốn nhiều thời
gian và chi phí. Do đó, trong những năm qua, số ngân hàng thương mại
được vay vốn Ngân hàng Nhà nước rất ít, và tập trung vào các ngân hàng
gặp khó khăn trầm trọng về tài chính hoặc các ngân hàng bị đặt trong tình
trạng kiểm soát đặc biệt.
Ngoài nguồn vốn trong nước, ngân hàng thương mại còn có thể vay
các tổ chức tín dụng nước ngoài. Để vay được vốn của tổ chức tín dụng
nước ngoài, ngân hàng thương mại phải là một doanh nghiệp có uy tín, sản
phẩm đa dạng, quan hệ quốc tế tốt, công nghệ ngân hàng tiên tiến v v và
được sự đồng ý của Ngân hàng Nhà nước. Mặc dù, điều kiện để được cấp
tín dụng của ngân hàng nước ngoài rất khó khăn nhưng nếu được cấp, ngân
hàng sẽ nhận được một số vốn lớn với lãi suất thấp, chi phí giao dịch nhỏ.
Kết quả tất yếu là chi phí bình quân trên 1 đồng vốn vay nhỏ hơn rất nhiều
so với chi phí phải trả cho 1 đồng vốn huy động trong nước. Chính điều
này đã dẫn đến trường hợp một ngân hàng mạnh, trong một thời gian
dài, thờ ơ với việc huy động vốn trong nước, làm ảnh hưởng đến chiến
lược “ tiết kiệm, sử dụng vốn trong nước” của Nhà nước và làm phức
tạp hoá hiện tượng “ Nợ nước ngoài” của Việt Nam.
II. PHÂN TÍCH VỐN SỞ HỮU CHỦ
1. Thành phần vốn sở hữu chủ:
1.1 Vốn (Capital)
Về khía cạnh kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ
sở hữu đóng góp, và một phần kết quả kinh doanh được thể hiện dưới dạng
lợi nhuận để lại. Ở góc độ quản lý, các nhà quản trị ngân hàng chia vốn
tự có thành hai bộ phận: vốn cơ bản và vốn bổ sung.
tổ chức tín dụng, đến giữa năm 2000 có 10/19 tổ chức tín dụng có hội sở tại
TP.HCM có vốn điều lệ không bằng mức vốn pháp định (chiếm 52.63%).
Đây là con số đáng lo ngại. Bởi vì, mục đích của việc quy định mức vốn
pháp định là nhằm tạo điều kiện đảm bảo độ an toàn trong kinh doanh. Tạo
điều kiện mở rộng quy mô, địa bàn hoạt động nâng cao tầm cỡ của các tổ
chức tín dụng Việt Nam trong tương lại. Cũng theo nghị định này, sau thời