TÀI LIỆU ÔN TẬP https://www.facebook.com/pham.thanhtamspkt
Chúng ta chỉ thất bại khi từ bỏ mọi cố gắng [1] Mọi thắc mắc liên hệ:0967437370,FaceBook
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÁC - LÊNIN
Câu hỏi Ôn tập gồm 12 câu hỏi
Câu 1. Vấn đề cơ bản của Triết học các trường phái phát triển triết học: Nội dung vấn đề cơ
bản, vì sao nội dung đó là cơ bản, giải quyết tính 2 mặt và sự hình thành, 2 trường phái phát
triết học cơ bản?
Trả lời
- Khái niệm: vấn đề cơ bản của triết học: Ăngghen viết rằng: “ vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học,
đặc biệt là của triết hoc hiện đại là vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, như vậy vấn đề cơ bản
của triết học là phải giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy, giữa tự
nhiên và tinh thần”.
- Sở dĩ gọi đó là vấn đề cơ bản bởi vì nó là vấn đề trung tâm mà bất kỳ trường phái triết học nào cũng
phải giải quyết, đồng thời trên vấn đề cơ bản của triết học để phân chia thành từng phần triết hoc khác
nhau.
- Vấn đề cơ bản của triết học có 2 mặt: mặt thứ nhất là mặt bản thể luận giải quyết vấn đề giữa vật
chất và ý thức, cái nào có trước cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Và thứ hai mặt nhận thức
luận: giải quyết vấn đề khả năng nhận thức của con người đối với thế giới.
- Về mặt cơ bản thể hiện trên cơ sở mặt này để phân chia thành các trường phái triết học: chủ nghĩa
duy vật, CN duy tâm, CN nhị nguyên.
Trường phái CN duy vật: Trường phái này khẳng định. Vật chất là có trước và sinh ra ý thức,
quyết định ý thức còn ý thức là sự phản ảnh thế giới vật chất. Trong lịch sử CN duy vật biểu hiện
trong 3 hình thức: CN duy vật cổ đại , CN duy vật siêu hình, CN DV biện chứng. CN duy vật có
nguồn gốc từ thực tiễn gắn liền với: khoa học, tự nhiên, tiến bộ và thống nhất với lợi ích của giai
cấp cách mạng.
Trường phái CN duy tâm: Khẳng định rằng: ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ 2, ý
thức quyết định vật chất và sinh ra thế giới vật chất. CN duy tâm có 2 hình thức biểu hiện: CN duy
Nội dung của ý thức được quy định bởi quan hệ vật chất, bởi vậy thế giới vật chất quy định
nội dung, hình thức biểu hiện và quá trình vận động của ý thức trong lịch sử xã hội.
Trong thế giới tự nhiên, vật chất quyết định ý thức, nhưng trong đời sống xã hội tồn tại xã
hội quyết định ý thức xã hội.
Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động lại vật chất thông qua hoạt động
thực tiễn của con người.
Ý thức con người tác động vật chất thông qua việc: Xác định mục tiêu, phương lượng, biện
pháp, phương tiện để thực hiện mục tiêu đặt ra, thông qua hoạt động vật chất, hoạt động
thực tiễn.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất xảy ra theo 2 khuynh hướng tích cực và tiêu
cực. Tích cực khi ý thức phản ánh đúng ý thức khách quan và vận dụng có hiệu quả vào
thực tiễn. Khuynh hướng tiêu cực khi ý thức không phản ánh đúng ý thức khách quan và
không vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn:
TÀI LIỆU ÔN TẬP https://www.facebook.com/pham.thanhtamspkt
Chúng ta chỉ thất bại khi từ bỏ mọi cố gắng [3] Mọi thắc mắc liên hệ:0967437370,FaceBook
Như vậy bằng vệc định hướng hoạt động của con người thì ý thức tác động trở lại quan hệ
vật chất, nâng cao vai trò của yếu tố con người để hoạt động thực tiễn của con người thành
công hay thất bại có hiệu quả hay không hiệu quả.
Vũ khí phê phán không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lý luận vật chất chỉ có thể bị
đánh đổi lý luận vật chất, nhưng lý luận cũng trở thành sức mạnh vật chất khi nó xâm nhập vào quần
chúng.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần quán triệt nguyên tắc xuất phát thực tế khách quan,
tôn trọng khách quan.
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng kết quả là xuất phát từ tính khách quan của vật chất,
nhận thức và hoạt động đúng quy luật, để đề và đường lối chủ trương chính sách phù hợp với quy
luật khách quan.
Phát huy tính năng động, chủ quan là phát huy vai trò tích cực năng động sáng tạo của ý thức,
lịch sử cụ thể, quan điểm này xác định mối lien hệ giữa các sự vật hiện tượng nằm trong hoàn cảnh
khác nhau về không gian, vị trí, vai trò, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội,…
Vì vậy mỗi người chúng ta cần phải nhận thức đầy đủ và sâu sắc tính chất của các mối lien hệ
vận dụng và lao động, học tập, rèn luyện và trong đời sống xã hội để góp phần vào sự phát triển,
sự tiến bộ của xã hội.
2. Nguyên lý về sự phát triển.
- Khái niệm phát triển:
Theo quan diểm siêu hình thì phát tiể chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng không có sự thay
đổi về chất, không trải qua các bước quanh co, phức tạp.
Theo quan dểm biện chứng về sự phát triển, đó là sự vận dộng theo khuynh hướng đi lên từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn, đó
là quá trình là các mới ra đời thay thế cái cũ trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cu
dể phát triển thành cái mới theo khuynh hướng từ thấp đến cao.
- Tính chất của sự phát triển: có 3 tính chất sau đây
Tính khách quan của sự phát triển: biểu hiện trong nguồn gốc của sự phát triển, đó là bắt nguồn
từ bản thân sự vật hiện tượng là quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong 1 cách tất yếu, khách
quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
Tính phổ biến của sự phát triển: tính chất này biểu hiện phát triển là quá trình diễn ra trong tất
cả mọi lĩnh vực, tự nhiên, xã hội và tư duy, trong tất cả mọi sự vật hiện tượng và trong mọi quá
trình phát triển của mỗi sự vật hiện tượng.
Tính đa dạng phong phú của sự phát triển: biểu hiện rằng phát triển là 1 quá trình không hoàn
toàn giống nhau mà nó khác nhau do những hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể khác nhau, dẫn tới sự
phát triển là 1 quá trình thuận nghịch với nhiều yếu tố, nhiều mặt, nhiều mối liên hệ khác nhau,
đa dạng phong phú.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận vận dụng vào vận động thực tiễn, bằng việc khẳng
định quan điểm phát triển là khẳng định cơ bản chỉ đạo mọi hoạt động, nhận thức và thực tiễn.
Quan điểm phát triển đòi hỏi khẳng định rằng phát triển là đi lên từ thấp đến cao, là quá trình
khắc phục bảo thủ trì trệ, để hướng tới sự phát triển, đồng thời phát triển có 1 quá trình phức
tạp không theo đường thẳng đơn giản, nhưng xét trong toàn bộ quá trình thì tất yếu theo khuynh
Thực tiễn là cơ sở động lực của nhận thức: bởi vì trên cơ sở thông qua hoạt động thực tiễn, để
thế giới khách quan bộc lộ các thuộc tính, các kết cấu của nó, để con người nhận thức ngày
càng có hiệu quả hơn, bởi vậy nói về vai trò cơ sở động lực của nhận thức, Ăngghen viết rằng:
“ Khi thực tiễn có nhu cầu thì nó thúc đẩy hoạt động nhận thức hơn 10 trường đại học”.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, bởi vì từ bản thân lý luận, không cải tạo thế giới khách
quan, tự nhiên và xã hội mà phải thông qua hoạt động vật chất, thực tiễn của con người, thông
qua hoạt động lao động sản xuất đấu tranh chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học để con
người cải tạo thế giới tự nhiên và lịch sử xã hội, phục vụ cho mục đích con người.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức: bởi vì không thể lấy nhận thức để kiểm nghiệm tính
đúng đắn của nhận thức bới vậy Lênin viết rằng tiêu chuẩn về đời sống thực tiễn là cơ bản và
duy nhất của lý luận nhận thức, chính vì vậy thực tiễn là tiêu chuẩn vì kiểm nghiệm tính đúng
đắn của chân lý khách quan.
TÀI LIỆU ÔN TẬP https://www.facebook.com/pham.thanhtamspkt
Chúng ta chỉ thất bại khi từ bỏ mọi cố gắng [6] Mọi thắc mắc liên hệ:0967437370,FaceBook
- Con đường biện chứng của nhận thức:
Quan điểm của Lênin về con đường biện chứng của nhận thức: từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận
thức chân lý.
- Nhận thức hiện thực khách quan:
Theo quan điểm của Lênin về nhận thức được biểu hiện ở 2 giai đoạn:
Giai đoạn trực quan sinh động: trên giai đoạn nhận thức cảm tính đây là giai đoạn thấp
của quá trình nhận thức, nhưng đóng vai trò rất quan trọng của quá trình nhận thức, giai
đoẹn được biểu hiện trong 3 hình thức, đó là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Giai đoạn tư duy trừu tượng tức nhận thức lý tính, đây là giai đoạn nhận thức ở trình độ
cao để nắm bắt bản chất của thế giới khách quan thể hiện trong các lĩnh vực khoa học
khác nhau. Giai đoạn này có 3 hình thức: khái niệm, phán đoán, suy lý. Nhận thức được
thể hiện trong các mối quan hệ của thực tiễn cho nên cần phải thông qua thực tiễn để
khẳng định vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để chứng minh tính đúng đắn của
Ý thức xã hội: là toàn bộ lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội như: khoa học, nghệ thuật, đạo
đức, tôn giáo, phong tục tập quán truyền thống, …
Ý thức xã hội được phân thành nhiều cấp độ khác nhau: ý thức xã hội thông thường; ý
thức lý luận, tâm lý xã hội hệ tư tưởng, nhìn chung đó là sự phân chia ở 2 trình độ nhận
thức; đó là nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận.
Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội cũng bao giờ mang tính giai cấp.
- Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là quan hệ vật chất cho nên nó quyết định ý thức xã hội là quan hệ về tinh
thần.
Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội cũng phản ánh như thế! Nội dung phản ánh
của ý thức xã hội, nó bắt nguồn từ các quan hệ vật chất trong đời sống xã hội để hình
thành nên.
Khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội sớm hay muộn cũng sẽ thay đổi theo. Sự
thay đổi là quá trình lâu dài, tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện kinh tế xã hội trong mỗi
giai đoạn phát triển của lịch sử.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội: là biểu hiện của sự tác động trở lại của ý thức xã hội
đối với tồn tại xã hội, thể hiện trong 5 nội dung sau đây:
Ý thức xã hội thường lạc hậu thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội, nghĩa là ý thức xã hội
phản ánh không kịp những biến đổi của tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội đã xuất hiện thì
ý thức xã hội vẫn chưa chưa kịp phản ánh và khi tồn tại xã hội đã mất đi thì ý thức xã
hội vẫn còn tiếp tục phản ánh.
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội thể hiện trong tính định hướng, dự báo,
sự phát triển của tồn tại xã hội trong hệ tư tưởng khoa học tiến bộ. Những tư tưởng
khoa học này đi trước thời đại, định hướng cho sự phát triển của tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát trển bởi vì tính xã hội không phải duy nhất
bị tồn tại xã hội quyết định mà nó kế thừa sự phát triển hình thức phát triển đó. Trong
toàn bộ lịch sử, ví dụ quan hệ kế thừa sự phát triển từ quá khứ đến tương lai chính vì
vậy, không hoàn toàn đồng nhất giữa điều kiện kinh tế xã hội với ý thức xã hội.
Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các hình thức ý thức xã hội như: chính trị tác động
phương diện tự nhiên và xã hội.
Bản tính tự nhiên của con người thể hiện:
Con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên. Giới tự nhiên
là thân thể vô cơ của con người, cho nên con người và thế giới tự nhiên thống nhất biện
chứng gắn bó với nhau, là kết quả phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên.
Bản tính xã hội của con người biểu hiện:
Con người là kết quả của quá trình lao động, hoạt động thực tiễn trong đời sống con
người, vì vậy lao động cùng với ngôn ngữ đó là 2 nhân tố có ý nghĩa quyết định dề
hình thành bản chất xã hội của co người.
Các quy luật xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều tác động để hình thành bản
chất xã hội của con người, chính trong sự tồn tại các quy luật xã hội để hình thành nên
bản chất con người. TÀI LIỆU ÔN TẬP https://www.facebook.com/pham.thanhtamspkt
Chúng ta chỉ thất bại khi từ bỏ mọi cố gắng [9] Mọi thắc mắc liên hệ:0967437370,FaceBook
- Bản chất con người:
Luận đề của Mác về bản chất con người: bản chất của con người không phải cái gì trừu tượng
cố hữu của các cá nhân riêng biệt trong tính hiện thực của nó. Con người là tổng hòa các mối
quan hệ xã hội. Từ luận đề trên khẳng định rằng, bản chất con người là 1 thể thống nhất giữa
2 mặt tự nhiên và xã hội, trên cở sở hoạt động xã hội, cho nên thực chất của con người mang
bản chất xã hội.
Từ luận đề của Mác thì bản chất con người là tổng hòa của các nhân tố kinh tế, chính trị, cá
nhân, gia đình, xã hội, giai cấp, dân tộc nhân loại, quá khứ, hiện tại, tương lai.
Con người vừa là sản phẩm của số phận lịch sử, là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên và xã
hội nhưng đồng thời con người cũng là chủ thể sáng tạo trong lịch sử, thông qua hoạt động
nhận thức và thực tiễn mà con người cải biến lịch sử xã hội và thế giới tự nhiên để phục vụ
cho mục đích của con người.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
- Hai thuộc tính của hàng hóa: giá trị sử dụng và giá trị.
Thuộc tính giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng trước hết là 1 vật làm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, cho nên
giá trị sử dụng là công dụng của 1 vật.
Giá trị sử dụng hay công dụng của 1 vật ngày càng được phát hiện trong quá trình phát
triển của khoa học kỹ thuật.
Đã là hàng hóa thì phải tất yếu phải có giá trị sử dụng. Tuy nhiên không phải cất cứ vật
gì có giá trị sử dụng cũng là hàng hóa, muốn trở thành hàng hóa thì nó phải do con
người sản xuất ra, dùng để trao đổi mua bán, thể hiện mục đích giá trị.
Thuộc tính giá trị hàng hóa:
Vì sao các vật có giá trị sử dụng khác nhau, lại có thể trao đổi với nhau, bởi vì giữa
chúng có 1 yếu tố chung đó là hao phí sức lao động động của con người, là sự tiến hóa
năng lượng thần kinh và cơ bắp trong sản xuất hàng hóa.
Vế giá trị của hàng hóa là hao phí sức lao động của con người trong 1 sản phẩm hàng
hóa là yếu tố cơ bản, tiền đề để làm giá trị trao đổi giữa hàng hóa này với hàng hóa
khác. Cho nên giá trị trao đổi chẳng qua là hình thái biểu hiện giá trị của văn hóa.
Giá trị hàng hóa là phạm trù mang tính lịch sử, mang bản chất xã hội.
- Mối quan hệ giữa 2 thuộc tính của hàng hóa, nửa thống nhất, nửa mâu thuẫn.
Thống nhất vì: bất cứ hàng hóa nào cũng phải có 2 thuộc tính, giá trị sử dụng và giá trị.
Giữa chúng có mâu thuẫn bời vì, người sản xuất hàng hóa chú ý đến giá trị,còn người tiêu
dùng hàng hóa thì chú ý đến giá trị sử dụng. Mặt khác, quá trình thực hiện giá trị có trước và
thực hiện giá trị có sau.
- Tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa: Sở dĩ hàng hóa có 2 thuộc tính: giá trị sử dụng và giá
trị, bởi vì lao động sản xuất hàng hóa có tính 2 mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Lao động cụ thể:
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới 1 nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục
đích, đối tượng, phương pháp, phương tiện và kết quả riêng.
Mỗi lao động cụ thể tạo ra mỗi loại giá trị sử dụng nhất định, lao động cụ thể, càng nhiều
loại, càng tạo ra giá trị sử dụng.
Trong lao động cụ thể, cộng với vật chất là 2 nhân tố, tạo ra giá trị sử dụng hàng hóa.
hàng hóa, sức lao động trong quá trình sử dụng của nó, với tư cách là 1 loại hàng hóa đặc biệt,
sẽ tạo ra 1 giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó và nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư.
Theo Mác “ Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong thân thể của con người, trong nhân
cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người làm cho hoạt động, để sản xuất
ra những vật có ích”.
Trong lịch sử, không phải bất kỳ giai đọn nào, sức lao động trờ thành hàng hóa; trong thời kỳ
chiếm hữu nô lệ, sức lao động chưa trở thành hàng hóa, bởi vậy nó là 1 phạm trù lịch sử.
- Điều kiện để sức lao động trờ thành hàng hóa: Muốn cho sức lao động trở thành hàng hóa thì cần
phải có 2 điều kiện cơ bản sau đây:
Người có sức lao động thì phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình,
và có quyền bán sức lao động của mình như 1 hàng hóa.
Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và mọi tư liệu sinh hoạt, họ
trở thành người vô sản, để tồn tại, họ phải bán sức lao động của mình để sống.
TÀI LIỆU ÔN TẬP https://www.facebook.com/pham.thanhtamspkt
Chúng ta chỉ thất bại khi từ bỏ mọi cố gắng [12] Mọi thắc mắc liên hệ:0967437370,FaceBook
Đó là 2 điều kiện tất yếu, để sức lao động trở thành hàng hóa.
- Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: cũng giống như bất kỳ hàng hóa khác, hàng hóa sức
lao động cũng có 2 thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị hàng hóa sức lao động:
Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo bằng giá trị lao động xã hội cần thiết, để sàn
xuất ra những tư liệu sinh hoạt, nhầm duy trì cuộc sống của bản thân người lao động và
quá trình của anh ta về vật chất và tinh thần.
Là 1 loại hàng hóa đặc biệt, cho nên giá trị hàng hóa sức lao động, khác với hàng hóa
thộng thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử.
Giá trị hàng hóa sức lao động, được xác định bởi 3 bộ phận sau đây:
Đó là những giá trị tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản
xuất lao động, để duy trì đời sống của công nhân
Là phí tổn đào tạo về công nhân
Là giá tri tư liệu sinh hoạt, vật chất và tinh thần cần thiết để nuôi sống gia đình
động tất yếu không thay đổi.
Giả sử ngày lao dộng 8 h : trong đó, 4 h là lao động tất yếu, 4 h là lao động thặng dư thì tỉ suất
giá trị thặng dư là:
4
4
'
m
x100% = 100%
Giả sử nhà tư bản kéo dài thêm 2 h lao động trong khi thời gian lao động tất yếu là không đổi
(4 h) thỉ tỉ suất giá trị thặng dư là:
m
’
=
6
4
x 100% = 150%
Cho nên nhờ kéo dài thời gian lao động tất yếu thêm 2 h mà tỉ suất giá trị thặng dư đã tăng từ
100% lên 150%.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Khi kỹ thuật ngày càng tiến bộ, năng suất lao động ngày càng năng cao thì nhà tư bản sử dụng
phương pháp bốc lột giá trị thặng dư tương đối.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do nít ngắn thời gian lao động tất yếu
bằng cách năng cao nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt để hạ
thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày
lao động, cường độ lao động không thay đổi.
Giả sử ngày làm 8 h: 4 h lao động tất yếu; 4 h lao động thặng dư tì tỉ suất giá trị thặng dư là:
4
4
'
hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, gia cấp công nhân đại công nghiệp. Mặc dù vậy, về cơ
bản, giai cấp công nhân, nó còn là con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp, đại biểu cho
phương thức sản xuất hiện đại.
Có thể khái quát 2 đặc trưng cơ bản sau đây của giai cấp công nhân:
Về phương thức lao động, phương thức sản xuất: giai cấp công nhân là những tập đoàn
người lao động trực tiếp hoặc gián tiếp có tính chất công nghiệp, hiện đại, trình độ xã
hội hóa, quốc tế hóa cao đồng thời cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp thì
giai cấp công nhân ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
Về vị trí của giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Trong xã hội
tư bản, công nhân không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động của mình để sống.
Vì vậy, giai cấp công nhân trở thành giaicap61 đối kháng với giai cấp tư sản.
Như vậy giai cấp công nhân là người lao động làm thuê không có tư liệu sản xuất đồng thời
đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản.
Định nghĩa của Ăngghen về giai cấp công nhân: giai cấp vô sản là giai cấp của xã hội hoàn
toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, … là giai cấp lao động trong thế kỷ
19, do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra.
Từ những quan điểm trên, có thể nêu ra định nghĩa về giai cấp công nhân như sau: giai cấp
công nhân là 1 tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển, cùng với quá trình phát triển
của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa
ngày càng cao, là do lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào
quá trình sản xuất của cải vật chất. Ở các nước TBCN giai cấp công nhân là lực lượng làm
thuê, còn ở các nước XHCN, giai cấp công nhân là lực lượng làm chủ xã hội: vì lợi ích của giai
cấp mình và toàn xã hội.
- Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh, xóa bỏ chế độ
TBCN, xây dựng xã hội mới, XHCN và Cộng sản chủ nghĩa.
Sứ mệnh lịch sử của giai câp công nhân trải qua 2 bước:
- Nguyên nhân của cuộc CM XHCN:
Nguyên nhân sâu xa của mọi cuộc CM XH là do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiến bộ và
quan hệ sản xuất lỗi thời, chính mâu thuẫn này là nguyên nhân sâu xa và là động lực để bắt đầu
1 cuộc CM XH.
Biểu hiện mâu thuẫn trong lĩnh vực KT dẫn đến sự đối lập về quân hệ lợi ích giữa giai cấp tư
sản và giai cấp vô sản, sự đối lập về lợi ích này tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp, bởi vì,
về mặt khách quan giai cấp bị thống trị không thể sống như trước mà phải thay đổi số phận lịch
sử của mình, chính vì vậy, CM XHCN nổ ra để giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành
lợi ích của mình từ tay giai cấp tư sản.
- Mục tiêu của cuộc CM XHCN:
TÀI LIỆU ÔN TẬP https://www.facebook.com/pham.thanhtamspkt
Chúng ta chỉ thất bại khi từ bỏ mọi cố gắng [16] Mọi thắc mắc liên hệ:0967437370,FaceBook
Mục tiêu cuối cùng của cuộc CM XHCN, đó là xây dựng CN Cộng sản, để nhằm xóa bỏ giai
cấp, xóa bỏ áp bức bóc lột giữa các dân tộc, giải phóng con người.
Mục tiêu trước mắt là thực hiện cuộc CM XHCN, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản,
thực hiện cuộc cách mạng XH1 cách triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống XH, về KT, CT,
VH, XH, … từng bước đưa lại lợi ích cho quần chúng nhân dân.
Để thực hiện mục tiêu trên, giai cấp công nhân phải tập hợp tất cả mọi lực lượng quần chúng nhân
dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, để tiến hành cuộc CM XHCN.
- Động lực của cuộc CM XHCN:
Động lực của cuộc CM XHCN quy định đó là giai cấp công nhân vì giai cấp công nhân vừa là
lực lượng giai cấp lãnh đạo CM, vừa là lực lượng trực tiếp tham gia cuộc CM đó.
Giai cấp công nhân cùng với tầng lớp trí thức đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc CM
XHCN, bởi vì giai cấp nông dân là lực lượng sản xuất của cải vật chất của XH còn trí thức là
người sáng tạo ra giá trị khoa học và vận dụng vào thực tiễn để cải tạo đời sống xã hội. Vì vậy,
nông dân và trí thức là 2 lực lượng rất quan trọng để làm động lực cho sự phát triển của CM
XHCN.
Trên cơ sở của liên minh công nông để tập hợp tất cả mọi lực lượng tham gia vào cuộc đấu
tranh CM vì mục tiêu chung.
của đời sống con người.
Tóm lại, CM XHCN là cuộc CM toàn diện, triệt để trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Là 1 quá
trình cải tiến CM vừa cải tạo vừa xây dựng, trong đó xây dựng là chủ yếu để nhằm mục đích thực hiện
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Câu 12. Trình bày vấn đề dân tộc và những nguyên tắc cơ bản của CN Mác – Lênin về vấn đề
dân tộc.
Trả lời
- Vấn đề Dân tộc:
Hình thức tính chất cộng đồng người, có tính chất ổn định, được hình thành trong lịch sử, gắn
liền với quá trình phát triển lâu dài của XH loài người.
Được dùng với 2 nghĩa sau đây:
Chỉ cộng đồng người cụ thể; có mối liên hệ chặt chẽ bền vững về KT, ngôn ngữ, VH:
Kinh, Tày, Nùng,…
Chỉ cộng đồng người ổn định, bền vững hợp nhất thành 1 quốc gia cụ thể chung, nền
KT thống nhất, quốc ngữ chung, truyền thống văn hóa chung trong quá trình dựng nước,
giữ nước.
- Khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp là 1 bộ phận của quốc gia, tộc người; theo nghĩa rộng toàn bộ
nhân dân 1 nước, quốc gia dân tộc.
- Hai xu hướng phát triển của dân tộc:
Xu hướng 1, đó là sự phát triển ngày càng cao của ý thức dân tộc và ý thức về quyền sống,
quyền độc lập của dân tộc mình mà các cộng đồng muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân
tộc độc lập.
Xu hướng 2, các dân tộc muốn liên hiệp lại với nhau để tạo nên mối quan hệ quốc gia gữa các
dân tộc, xóa bỏ sự tách biệt khép kín, để thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
Trong CNXH, khi tình trạng áp bức bóc lột không còn. Các quốc gia dân tộc sẽ liên hệ với nhau
tạo ra các mối quan hệ thống nhất về KT – CT – VH. Sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong
tiến trình xây dựng CNXH sẽ bổ sung làm phong phú thêm quá trình chung của các quốc gia.