các giải pháp tác động đến lãi suất, tỷ suất lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 kết thúc,kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm với
những biến động đáng kể Hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị quan trọng đã
thể hiện sự tự vươn lên của Việt Nam.
Những bước đầu khi gia nhập WTO,chúng ta đã dần khẳng định được
vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới.Và để có thể leo lên được những
bậc thang cao hơn, thì chúng ta cần phải có những chính sách nhằm thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.Những lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng sự phát triển
và tăng trưởng của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào quy mô vốn đầu tư.
Vốn đầu tư chịu tác động của rất nhiều các nhân tố, trong đó lãi suất vốn vay
và tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là 2 yếu tố quan trọng nhất quyết định đến quy
mô và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội vậy ,lãi suất,tỷ suất lợi nhuận và quy mô
vốn đầu tư tác động đến nhau như thế nào,và thực trạng ở Việt Nam về mối
quan hệ này trong thời gian qua đã diễn ra như thế nào? từ đó có thể có những
giải pháp nào để có thể thu hút và tăng cường sử dụng hiệu quả vốn đầu tư?
Với mong muốn tìm hiểu về mối quan hệ đó, nhóm chúng tôi đã nghiên
cứu,tìm tòi về quy mô đầu tư của Việt Nam trong khoảng thời gian qua.Từ đó
sẽ rút ra được những bài học, những biện pháp để có thể sử dụng 1 cách hiệu
quả vốn đầu tư và nâng cao hơn nữa vịêc thu hút nguồn vốn đầu tư nhất là
trong thời gian tới.
1
Chương I
LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VỐN VAY,
TỶ SUẤT LỢI NHUẬN VỐN ĐẦU TƯ VÀ QUY MÔ VỐN
ĐẦU TƯ
A.các khái niệm liên quan.
I.Lãi suất
1. Khái niệm – vai trò của lãi suất
* Khái niệm
Lãi suất là một trong những chỉ tiêu quan trọng, nó có ảnh hưởng rất
lớn đến quyết định đầu tư hay tiết kiệm của một cá nhân cũng như của tổ

tiền nhàn rỗi trong xã hội tập trung vào quỹ tín dụng. Thông thường khi có
một khoản tiền tiết kiệm, dân chúng thường nghĩ đến việc làm thế nào để có
thể sinh lời trên khoản tiền đó như: đầu tư chứng khoán, bất động sản, mua
vàng, gửi tiền vào tài khoản ở ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác,…Một
trong những hình thức đầu tư có tính an toàn khá cao đối với người dân là gửi
tiền vào ngân hàng. Để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền vào ngân hàng
mình thì lãi suất là một trong những biện pháp hấp dẫn mà các ngân hàng
thường sử dụng.
-Lãi suất là công cụ để đo lường “sự biến động ” của nền kinh tế: mỗi
một sự biến động, dù là nhỏ nhất cũng ảnh hưởng đến hoạt động của mỗi cá
nhân, tổ chức và của cả nền kinh tế. Ở các nước kinh tế phát triển, giá trái
khoán và lãi suất được yết giá hàng ngày trên các tờ báo của cơ quan chính
phủ. Người ta có thể căn cứ vào sự biến động của lãi suất để dự báo các yếu
tố khác của nền kinh tế như: tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát
dự tính, mức thiếu hụt ngân sách. Các yếu tố này hợp thành chỉ tiêu “sức
3
khỏe” của nền kinh tế. Người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để
dự báo tình hình kinh tế trong tương lai. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp lập
kế hoạch chỉ tiêu trong tương lai của họ, trong khi đó ngân hàng và các nhà
đầu tư cần dự báo lãi suất để quyết định xem chon mua tài sản nào.
- Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: ngân hàng trung ương
thay mặt chính phủ để thực hiện chính sách tiền tệ, và để thực hiện tốt chức
năng đó ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ điều tiết mà một
trong số đó là lãi suất. Một khi ngân hàng trung ương muốn thực hiện chính
sách mở rộng tiền tệ, nghĩa là “bơm” thêm tiền vào nền kinh tế nhằm giúp các
dơn vị tổ chức có thêm vốn để mở rộng họat động kinh doanh của mình, ngân
hàng trung ương sẽ hạ thấp lãi suất tín dụng, lãi suất chiết khấu và tái chiết
khấu. Ngược lại, khi ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thắt chặt tiền
tệ, rút bớt tiền ra khỏi lưu thông, ngân hàng trung ương sẽ nâng cao tỷ lệ lãi
suất tín dụng, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu.


Theo giá trị thực:
Hàng ngày chúng ta thường gặp các loại lãi suất được công bố trên các
phương tiện thông tin đại chúng và nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức sử
dụng một số loại lãi suất đó để làm đơn vị tính toán trong các hoạt động của
mình. Tuy nhiên, hầu hết các loại lãi suất này là lãi suất chưa tính đến yếu tố
lạm phát, và để xác định được giá trị thực của các loại lãi suất này, người ta
phải tính thêm một yếu tố đó là tỷ lệ lạm phát dự tính.
-Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất được xác định cho mỗi kỳ hạn gửi
hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước.
-Lãi suất thực: là loại lãi suất xác định giá trị thực của các khoản lãi
được trả hoặc thu được.

5
Lãi suất Lãi suất Tỷ lệ
thực = danh nghĩa - lạm phát

Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quan
trọng, đối với người có tiền, nhờ đoán biết được lãi suất thực mà họ quyết
định nên gửi tiền vào ngân hàng hay mang đi kinh doanh trực tiếp. Đối với
người cần vốn, nếu dự đoán được tương lai có lạm phát và trong suốt thời
gian đó lãi suất cho vay không đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng không
bằng lạm phát tăng thì họ có thể yên tâm vay để kinh doanh mà không sợ lỗ vì
trượt giá khi trả nợ.
Theo phương pháp tính lãi:
-Lãi suất đơn: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số
tiền vay ban đầu không gộp lãi vào tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế
tiếp.
-Lãi suất kép: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số
tiền vay, số tiền vay này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kỳ cho vay (lãi

Trên thực tế, những khoản thu nhập bằng tiền hay thu nhập danh nghĩa
thường không phản ánh đúng giá trị thực của chính khoản thu nhập đó. Tỷ lệ
lạm phát hay tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong một thời gian nhất định luôn
làm cho giá trị thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa.Vì vậy lãi suất thực
luôn nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa bởi tỷ lệ lạm phát nói trên.
Thông thường trong những điều kiện tỷ lệ lạm phát (ig) không lớn hơn
10% thì lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có lien hệ với nhau qua công thức
đơn giản:
ir = in - ii
7
Trong đó, ir,in,ii lần lượt là lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ
lạm phát.
Tuy nhiên nếu tỷ lệ lạm phát ii cao hơn 10% ví dụ là 35%; lãi suất
danh nghĩa, ví dụ là 114% thì lãi suất thực không thể tính như trên mà phải
tính theo công thức:

in – ii
ir = hay ir = (144 – 35) / (35 + 100)
ii + 1
Trong ví dụ này lãi suất thực xấp xỉ bằng 80,7 % và điều này cũng
phản ánh đúng một xu hướng thực tế: tỷ lệ lạm phát càng cao lãi suất thực
càng thấp.
4. Cấu trúc kỳ hạn và cấu trúc rủi ro của lãi suất
4.1 Cấu trúc rủi ro của lãi suất
Có rất nhiều trường phái và lý thuyết khác nhau nghiên cứu về cấu
trúc rủi ro của lãi suất hay là mối quan hệ giữa lãi suất và mức độ rủi ro của
một món vay hay một dự án đầu tư. Và vấn đề được coi là thống nhất chung
của tất cả các trường phái đó là mức độ rủi ro của món vay càng cao lãi suất
của món vay đó càng cao.
4.2 Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất

Đây là mức lãi suất ở điểm số lượng tiền do ngân hàng trung ương đề ra làm
mục tiêu phù hợp với số tiền mà công chúng muốn nắm giữ.
Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất.
*Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ: Mức cung tiền tệ sẽ
giảm đi, đường S dịch chuyển sang trái thành S’, lãi suất tăng. Trên đồ thị lãi
suất chuyển từ i sang iA.
Lãi suất tăng, mức đầu tư sẽ giảm, mức cầu tiền tệ giảm, các nhà doanh
nghiệp và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ,
đường D dịch chuyển về bên trái tạo thành D’. Giao điểm giữa D’ và S’ là A’
với mức lãi suất cân bằng mới i’A.(hình 2)

Hình 2
10
*Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: Mức cung tiền tệ sẽ
tăng lên, lãi suất có xu hướng giảm xuống. Tín dụng trở nên dồi dào hơn, lãi
suất trên đồ thị chuyển từ I sang iB. Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư
mới trở nên có lợi hơn, số tiền chi tiêu về nhà máy, thiết bị, kho hàng tăng
lên, người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn…Vón đầu tư
tăng, tổng mức cầu tăng lên, dịch đường D sang phải tạo ra thăng bằng mới
trên thị trường. (Hình 3)
Hình 3

5.2 Lạm phát kỳ vọng
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi
suất sẽ có xu hướng tăng. Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất
thực tế và lãi suất danh nghĩa cho thấy, để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ
lạm phát đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng. Thứ hai, công
chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ
hang hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác như vàng, ngoại tệ
mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài. Tất cả các điều này làm giảm cung quỹ

Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu, đường cầu
dịch chuyển về bên phải, khi chính phủ giảm thuế, làm cho nhiều thu nhập
hơn được sẵn sang để chi tiêu và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi
tiêu, tiêu dùng. Mức cao hơn của tổng sản phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ,
đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng.
Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng, chẳng
hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu
tư vào máy móc, nhà máy, tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên, tăng
lượng cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng lên.
*Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng
trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của
một quốc gia. Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt
động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau:
-Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường, chủ động điều
chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,
hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm
lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ.
-Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu:
Thông qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể
tác động gián tiếp vào lãi suất thị trường. Một lãi suất chiết khấu cao hay thấp
sẽ làm thay đổi lượng vay của ngân hàng, tức lượng tiền cung ứng của ngân
hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãi suất thị trường.
-Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở: để điều
hòa cung cầu về các chứng phiếu có giá để tác động vào các ngân hàng
thương mại trong việc cung cầu tiền tệ, cung ứng tín dụng, việc làm này cũng
sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của lãi suất.
-Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi đó
cũng ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất trên thị trường.
13


Lợi nhuận từng năm (kí hiệu là Wi) được xác định như sau:
Wi = Oi – Ci
Trong đó:
Oi:Doanh thu thuần năm i
Ci:các chi phí năm I bao gồm cả các khoản chi có liên quan đến sản xuất,kinh
doanh năm i: chi phí sản xuất,chi phí tiêu thụ sản phẩm,chi phí quản lý hành
chính,chi phí khấu hao, chi phí trả lãi vốn vay,thuế thu nhập doanh nghiệp và
chi phí khác.
Công thức xác định tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư từng năm như sau:
Wi
RRi =
Io
Trong đó:
Wi: Lợi nhuận thuần thu được năm i tính theo mặt bằng hiện tại (thời
điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động)
Io: Vốn đầu tư tại thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động.
RRi có tác dụng so sánh giữa các năm của đời dự án.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư bình quân năm của đời dự án (RR) được xác
định như sau:
W
RR =
Io
Trong đó: W - Lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án theo mặt bằng
hiện tại.
Trong thực tế ( trong nghiên cứu tiền khả thi) để tính RR người ta có
thể lấy lợi nhuận thuần của một năm hoạt động ở mức trung bình trong đời dự
15
án và áp dụng công thức tính RR giản đơn ( không xét đến yếu tố thời gian
của tiền) sau đây:
W

Dựa vào công thức tính tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư , ta có thể nhận
thấy rằng nó phụ thuộc vào lợi nhuận mà dự án đầu tư thu được hằng năm và
tổng số vốn đầu tư ở thời điểm dự án đi vào hoạt động.Nếu vốn đầu tư ban
đầu là cố định, thì nếu lợi nhuận qua các năm hoạt động càng cao , sẽ làm cho
tỷ suất lợi nhuận cao.Khi tỷ suất lợi nhuận của dự án cao, hàm chứa một
thông tin tích cực về hiệu quả hoạt động của dự án , đó là khả năng thu hồi
vốn và thu lợi nhuận của dự án cao.
Như vậy ,chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư phản ánh sức hấp dẫn
của các dự án đầu tư.Tuy nhiên, Nhà đầu tư quyết định đầu tư không căn cứ
vào tỷ suất lợi nhuận thông thường mà căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận biên của
vốn. Khi tỷ suất lợi nhuận biên lớn hơn lãi suất thì quyết định đầu tư,song tỷ
suất lợi nhuận biên lại giảm dần khi tăng quy mô vốn đầu tư,do đó khi quyết
định đầu tư cần xem xét tất cả các yếu tố liên quan.
Ngoài ra , việc nghiên cứu và tính toán tỷ suất lợi nhuận còn có ý nghĩa
to lớn đến quyết định đầu tư khi tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành có sự khác
biệt. Cùng một lượng vốn , nhưng nếu bỏ vốn để đầu tư vào ngành có tỷ suất
lợi nhuận cao hơn sẽ giúp nhà đầu tư thu hồi vốn nhanh hơn và từ đó kiếm lời
nhanh hơn.Do đó tỷ suất lợi nhuận không chỉ giúp nhà đầu tư lựa chọn giữa
các dự án , mà còn giúp nhà đầu tư định hướng trong hoạt động đầu tư sao
cho đạt hiệu quả cao nhất.
III. Quy mô vốn đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng
1.Khái niệm, nội dung vốn đầu tư và vai trò của vốn đầu tư đối với tăng
trưởng kinh tế:
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư dưới nhiều góc độ khác nhau,dưới
mồi góc độ nguồn vốn đầu tư có biểu hiện riêng. Tuy nhiên về bản chất thì
các nguồn vốn đầu tư đều là phần tiết kiệm hay tích lũy của toàn bộ nền kinh
17
tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra
của cải vật chất thông qua hoạt động đầu tư.
- Những đặc trưng của Vốn đầu tư

IM: xuất khẩu ròng
Đầu tư là bộ phận trong tổng cầu của nền kinh tế. Do đó những thay
đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản
lượng và công ăn, việc làm. Khi đầu tư tăng lên, có nghĩa là nhu cầu về chi
tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng …
tăng lên. Sự thay đổi này làm cho đường tổng cầu dịch chuyển, sau thời gian
nhất định đầu tư đó lại tác động đến tổng cung. Kết quả cuối cùng là sản
lượng của nền kinh tế được nâng lên.
Vốn đầu tư là yếu tố quan trọng để tăng năng lực sản xuất của các
doanh nghiệp noi riêng và của nền kinh tế nói chung, mà còn là điều kiện tất
yếu để nghiên cứu và phát triển công nghệ mới để hiện đại hóa nền kinh tế.
Đồng thời, Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn
việc làm và tạo viêc làm mới cho người lao động khi tiến hành mở rộng quy
mô sản xuất. Mặt khác,cơ cấu sử dụng vốn đầu tư tac động mạnh mẽ đến
chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế.
2. Các yếu tố tác động đến cầu vốn đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các
nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Cầu đầu tư là dự đinh đầu tư của chủ đầu tư nhằm thay thế và tăng
thêm giá trị tài sản cố định hay dự trữ tài sản lưu động. Giá trị của những tài
sản này là để đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong tương lai. Cầu đầu tư phụ
thuộc những yếu tố sau:

19
2.1 Lãi suất tiền vay
2.2 Tỷ suất lợi nhuận
2.3.Môi trường đầu tư
Trong bất kỳ hoạt động nào môi trường là một yếu tố quan trọng,
Trong hoạt động đầu tư cũng vậy, để có thể thu hút được đầu tư vào nền kinh

nghiệp giảm, điều này làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống , làm
giảm cầu đầu tư.
Để tăng cầu đầu tư,Chính phủ không nên quy định mức thuế thu nhập
doanh nghiệp quá cao. Chính phủ có thể kích thích đầu tư bằng cách miễn
giảm thuế đối với các khoản lợi nhuận dùng để tái đầu tư và hoàn thuế đối với
các mặt hàng xuất khẩu.
IV. Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư với
quy mô vốn đầu tư
1.Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay với quy mô vốn đầu tư
Lãi suất là chi phí phải bỏ ra cho việc vay tiền, là giá cả của quyền
được sử dụng tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng
phải trả cho người sở hữu nó,chính vì vậy lãi suất và quy mô vốn đầu tư có
mối quan hệ chật chẽ.
Khi lãi suất thấp, sẽ làm tăng cầu vốn đầu tư.Các doanh nghiệp sẽ tăng
vốn đầu tư bằng cách đi vay ngân hàng để trang trải các khoản chi phí của
hoạt động đầu tư của mình, vì khi đó chi phí của việc vay và sử dụng vốn sẽ
thấp,làm cho lợi nhuận của họ cao hơn.Từ đó sẽ có tác động làm tăng quy mô
vốn đầu tư của nền kinh tế.Khi lãi suất tăng lên , Điều này làm cho chi phí
vốn của doanh nghiệp tăng thêm, điều đó sẽ giảm hiệu quả hoạt động của các
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những tác động đó sẽ làm hạn chế hiệu quả
hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
21
Với lãi vay vốn cao, nhiều tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp sẽ hạn chế vay
vốn, hoặc không vay vốn để đầu tư mở rộng sản xuất.Điều này sẽ làm cầu đầu
tư giảm xuống và làm cho quy mô vốn đầu tư của nề kinh tế bị thu hẹp lại .Ta
có thể minh họa điều này bằng đồ thị dưới đây:
Đồ thị biểu thị Mối quan hệ giữa Lãi Suất và Cầu vốn đầu tư
Đường cầu đầu tư là một đường dốc xuống từ trái qua phải.Khi lãi suất là r1=
4% , Cầu đầu tư là I1 .Khi lãi suất tăng lên r2 = 6% , Cầu đầu tư sẽ giảm
xuống còn I2.

A3 10 2000 1200 800 800 1200
Â4 12 2100 1440 960 660 1140
A5 15 3000 1800 1200 1200 1800
A6 20 2300 2400 1600 -100 700
A7 23 1600 2760 1840 -1160 -240
A8 26 1500 3120 2080 -1620 -580
A9 30 1300 3600 2400 -2300 -1100
Qua ví dụ trên ta thấy mối quan hệ chặt chẽ của lãi suất vốn vay và qui
mô vốn đâu tư,nếu lãi suất là 8%/năm các dự án tư A1 đến A6 sẽ đươc thực
hiện do có lãi suất thực dương, với tổng mức cầu về vốn đầu tư là 65 tỷ đồng;
Nếu lãi suất là 12%/năm thi chỉ có các dự án từ A1 đến A5 đươc thực
hiện,với tổng cầu vốn đầu tư là 45 tỷ đồng
Như vậy khi lãi suất tiền vay càng thấp thì số dự án thỏa mãn yêu cầu
càng nhiều ,hay nói cách khác là tổng cấu vốn đầu tư càng lớn. điều này phù
hơp với lý thuyết cung cầu về kinh tế: khi giá của một hàng hóa giảm thì
lượng cầu của nó sẽ tăng.

23
2. Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận với quy mô vốn đầu tư
Cùng với lãi suất, tỷ suất lợi nhuận là một trong những nhân tố quan
trọng ảnh hưởng tới quy mô vốn đầu tư. Nhà kinh doanh sẽ không chỉ căn cứ
vào mức lãi suất trên thị trường vốn để đưa ra quyết định đầu tư của mình mà
còn phải căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận thực tế nhận được của quyết định đầu tư
đó. Nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư chừng nào tỷ suất lợi nhuận còn lớn hơn
mức lãi suất trên thị trường vốn. Khi tỷ suất lợi nhuận càng lớn động lực đầu
tư càng mạnh, quy mô vốn đầu tư càng mở rộng. Ngược lại khi tỷ suất lợi
nhuận giảm, nhà đầu tư sẽ quyết định không mở rộng quy mô sản xuất, thậm
chí có khuynh hướng thu hẹp đầu tư làm quy mô vốn đầu tư của nền kinh tế
giảm.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status