Học Tập Suốt Đời
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHÍ HẬU
I. CÂU HỎI
Câu 1. Chứng minh tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta thể hiện qua nền nhiệt độ cao.
Câu 2. Chứng minh rằng khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng của gió mùa
Câu 3. Chứng minh rằng khí hậu có lượng mưa ẩm cao.
Câu 4. Chứng minh rằng khí hậu phân hóa đa dạng.
Câu 5. Vì sao nước ta có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa? Hãy nêu biểu hiện của nhiệt đới
ẩm gió mùa qua các thành phần tự nhiên của nước ta.
Câu 6. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của khí hậu đối với sự phát triển KT-XH
của nước ta.
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta thể hiện qua nền nhiệt độ cao:
Tính chất nhiệt đới của khí hậu được qui định bởi vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến.
Hằng năm, nước ta nhận được một lượng bức xạ mặt trời lớn do trong năm mặt trời luôn đứng
cao trên đường chân trời và qua thiên đỉnh hai lần. Trên toàn quốc, tổng xạ nói chung đều vượt
130 kcal/cm
2
/năm. Cân bằng bức xạ vượt trên 75 kcal/ cm
2
/năm. Tổng bức xạ lớn, cân bằng
bức xạ dương quanh năm khiến cho tổng nhiệt độ và nhiệt độ trung bình năm đều cao, vượt
tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới. Tổng nhiệt độ trong năm đạt 8000 - 9000
0
C, nhiệt độ trung bình
năm từ 22 – 27
0
C, tổng số giờ nắng tùy nơi từ 1400 – 3000 giờ.
0
C
8747
0
C
9161
0
C
9636
0
C
9818
0
C
Lưu ý:
- Tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới:
Học Tập Suốt Đời
+ Nhiệt độ trung bình năm: > 21
0
C
+ Cân bằng bức xạ: > 75 kcal/ cm
2
/năm
+ Tổng nhiệt độ năm: 7500 – 9500
0
C
- Tiêu chuẩn khí hậu xích đạo:
+ Tổng nhiệt độ năm: > 9500
Hoa rộng lớn (NPc đất), tuy có bớt lạnh khô nhưng vẫn mang lại cho mùa đông miền Bắc
nước ta thời tiết lạnh khô. Mỗi khi khối khí này tràn về, nhiệt độ hạ thấp vài độ.
+ Nửa sau mùa đông vào các tháng 2 – 3, khối khí này di chuyển về phía Đông qua biển
Nhật Bản và biển Hoàng Hải (NPc biển) vào nước ta gây nên thời tiết lạnh ẩm. Vào cuối
mùa, thời tiết ấm ẩm hơn. Lượng ẩm cao mang lại mưa phùn mùa đông cho vùng ven biển
và đồng bằng ở miền Bắc.
Gió mùa đông bắc vào nước ta không kéo dài liên tục mà chỉ từng đợt bởi tầng khí áp của
Học Tập Suốt Đời
trung tâm không dày (chỉ từ 1500 -2000m) và không ổn định. Khối khí NPc hoạt động ở
Việt Nam chỉ mạnh vào mùa đông và ở miền Bắc, hình thành ở miền Bắc nước ta một mùa
đông có 2 – 3 tháng lạnh với những ngày nửa đầu mùa đông thời tiết lạnh khô và nửa sau
mùa đông là những ngày lạnh ẩm. Khi di chuyển xuống phía Nam, khối khí này suy yếu
dần và dường như kết thúc bởi bức chắn dãy Bạch Mã. Từ Đà Nẵng, vĩ tuyến 16
0
B trở vào,
tín phong nửa cầu Bắc cũng thổi theo hướng Đông Bắc trở nên ưu thế làm thành “gió mùa
mùa đông” ở miền không có mùa đông do không bị khối khí cực đới tràn về.
- Gió mùa mùa hạ
Vào mùa hạ có hai luồng gió cùng hướng Tây Nam thổi vào Việt Nam. Đầu mùa, từ tháng
4 – 5, trung tâm áp thấp Ấn Độ - Mianma khơi sauu, trung bình chỉ dưới 1000
mb
hút gió từ
Ấn Độ Dương qua vịnh Bengan (khối khí nhiệt đới vịnh Bengan – TBg). Khối khí này có
nguồn gốc biển nóng ẩm nên thường gây ra đông nhiệt mạnh. Vào đầu mùa hạ, trong các
tháng 5,6 khối khí TBg di chuyển theo hướng Tây Nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn
cho đồng bằng ven biển Nam Bộ và Tây Nguyên. Vượt dãy Trường Sơn khối khí trở nên
đặc trưng
chủ yếu
Gió
mùa
Cực
đới
Qua
đất
NPc
đất
Xibia
(Hồ Bai
Hoa
Trung
9 -6,
mạnh
Bắc vĩ
độ 16
0
B
Lạnh khô
quang
Học Tập Suốt Đời
Can) Hoa Nam
nhất 10,
11,12
mây biến
phùn
mùa
đông
Chí tuyến
Bán cầu
Bắc
Tm Tây
Thái
Bình
Dương
Philippin,
Biển
Đông
Cả năm Cả
nước
Mùa
đông: mưa
nhỏ ở Bắc
Bộ, mưa
địa hình ở
Trung Bộ,
nắng ở
Nam Bộ.
Mùa hạ:
mưa rào,
dông
Chí tuyến
vịnh
Malaysia
Vịnh
Thái Lan
6, 7, 8, 9
ở Nam
Bộ sang
tháng 10
Cả
nước
Mát, nhiều
mây mưa
dai dẳng
có dông
Sự luân phiên các khối khí hoạt động theo mùa khác nhau cả về hướng và về tính chất đã tạo nên
sự phân mùa trong chế độ khí hậu Việt Nam. Ở miền Bắc có hai mùa khí hậu là mùa đông lạnh
khô ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều. Ở miền Nam, trong chế độ khí hậu có sự phân chia
hai mùa khô, ẩm rõ rệt.
Câu3. Khí hậu có lượng mưa ẩm cao.
Biển Đông cùng với các khối khí đi qua biển đã mang lại lượng mưa lớn cho nước ta. Lượng mưa
Học Tập Suốt Đời
trung bình năm dao động từ 1500 – 2000mm. Ở những sườn đón gió biển và các khối núi cao,
lượng mưa có thể lên đến 3500 – 4000mm. Độ ẩm không khí cao, dao động từ 80 – 100%. Cân
bằng ẩm luôn luôn dương.
Một vài chỉ số về tính chất nóng của khí hậu tại một số địa phương
Địa điểm Lượng mưa Khả năng bốc hơi Cân bằng ẩm
≥ 9
0
C ≤ 140 kcl/cm
2
≥ 2000 giờ
Miền khí hậu phía
Nam
< 9
0
C > 140 kcl/cm
2
> 2000 giờ
+ Miền khí hậu phía Bắc:
Khí hậu trong năm có mùa đông lạnh. Mùa đông với 3 tháng lạnh (t
0
< 20
0
C) thể hiện rõ ở
đồng bằng Bắc Bộ và vùng núi phía Bắc. Về phía Nam, gió mùa đông bắc yếu dần, số tháng
lạnh giảm còn 1 – 2 tháng, tới Huế chỉ còn thời tiết lạnh. Mùa đông lạnh khiến cho nhiệt độ hạ
thấp 4 – 5
0
C so với các trị số trung bình của các vùng có cùng vĩ độ. Đặc điểm nổi bật của
miền là tính bất ổn định rất cao trong diễn biến thời tiết, khí hậu, biên độ nhiệt 9 - 14
0
C. Độ
Học Tập Suốt Đời
lạnh giảm dần về phía Tây, đồng thời với thời kì bắt đầu mùa mưa chậm dần về phía Nam là
cơ sở chia miền khí hậu này ra bốn vùng khí hậu.
bào mòn tạo thành đất xám bạc màu; Hiện tượng đất trượt, đá lở xảy ra khi mưa lớn.
+ Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông: đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long hằng năm lấn ra biển vài chục đến hàng trăm mét.
- Sông ngòi:
Học Tập Suốt Đời
+ Mạng lưới sông ngòi dày đặc:
Nước ta có 2360 con sông có chiều dài hơn 10km.
Trung bình cứ 20km đường bờ biển gặp một cửa sông.
+ Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa. Tổng lượng nước là 839 tỷ m
3
/năm. Tổng lượng phù
sa hàng năm khoảng 200 triệu tấn.
+ Chế độ nước theo mùa. Mùa lũ tương ứng với mùa mưa, mùa cạn tương ứng mùa khô.
Chế độ mưa thất thường cũng làm cho chế độ dòng chảy của sông ngòi cũng thất thường.
- Đất đai:
Quá trình Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu ở nước ta. Trong điều kiện
nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra với cường độ mạnh tạo nên lớp đất dày. Mưa
nhiều rửa trôi các chất ba-zơ dễ tan làm đất chua, đồng thời có sự tích tụ oxit sắt và oxit
nhôm tạo ra màu đỏ vàng. Loại đất này gọi là đất feralit đỏ vàng.
- Sinh vật:
+ Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh là cảnh quan chủ yếu ở nước ta với
các loài nhiệt đới chiếm ưu thế. Thực vật phổ biến là các loài thuộc các họ cây nhiệt đới
như: họ đậu, dâu tằm, dầu… Động vật trong rừng là các loài chim, thú nhiệt đới…
+ Có sự xuất hiện các thành phần cận nhiệt đới và ôn đới núi cao.
Câu 6. Những thuận lợi và khó khăn của khí hậu đối với sự phát triển KT-XH.
a. Thuận lợi
Nông nghiệp:
- Khí hậu nhiệt đới (nhiệt cao, giờ nắng nhiều…) nông nghiệp nhiệt đới phát triển, nhiều vụ
quanh năm, có khả năng xen canh gối vụ.
ĐỊA HÌNH
I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày những đặc điểm cơ bản của địa hình nước ta.
Câu 2. Phân tích đặc điểm địa hình vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với quá trình xâm thực –
bồi tụ diễn ra mạnh.
Câu 3. Phân tích đặc điểm địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi
núi thấp.
Câu 4. Trình bày ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến các thành phần tự nhiên nước ta.
Câu 5. Trình bày đặc điểm địa hình núi vùng Đông Bắc và địa hình núi vùng Tây Bắc.
Câu 6. Trình bày đặc điểm địa hình núi vùng Trường Sơn Bắc và đại hình núi vùng
Trường Sơn Nam.
Câu 7. Trình bày ý nghĩa của địa hình đồi núi nước ta.
Câu 8. Trình bày những đặc điểm của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
Câu 9. Trình bày những đặc điểm của đồng bằng ven biển miền Trung.
Câu 10. Trình bày thế mạnh và hạn chế của khu vực đồng bằng
Học Tập Suốt Đời
Câu 11. Trình bày đặc điểm của địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Những đặc điểm cơ bản của địa hình nước ta.
- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
+ Đồi núi chiếm ¾ diện tích cả nước, đồng bằng chiếm ¼ diện tích cả nước.
+ Đồi núi thấp chiếm hơn 60% nếu kể cả đồng bằng thì địa hình thấp dưới 1000m chiếm
85% diện tích, núi cao trên 2000m chiếm khoảng 1% diện tích cả nước
- Cấu trúc địa hình nước ta khá đa dạng:
+ Địa hình được trẻ hóa và có tính phân bậc rõ rệt.
+ Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
+ Địa hình gồm hai hướng chính:
Hướng Tây Bắc – Đông Nam: dãy núi vùng Tây Bắc, Bắc Trường Sơn.
Nam hiện tại.
Câu 3: Đặc điểm địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp.
Phần đất liền của lãnh thổ Việt Nam tuy nhỏ, hẹp ngang, nhưng hiện lên rõ nét trên bản đồ
địa hình Đông Nam Á một hệ núi kéo dài trên 1400km từ biên giới Việt – Trung đến Đông
Nam Bộ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chạy sát bên bờ biển Đông, làm thu hẹp diện tích
đồng bằng. Đồi núi chiếm tới ¾ diện tích đất đai, đồng bằng chỉ còn là những châu thổ nhỏ,
những dải đất trùng xen cồn cát trải dọc ven biển. Địa hình nhiều đồi núi đã khiến cho thiên
nhiên Việt Nam chủ yếu là cảnh quan đồi núi và có sự phân hóa khác nhau giữa các khu vực.
Hệ thống núi ở Việt Nam đã tạo nên sự phân bậc rõ ràng, trong dó đồi núi thấp chiếm ưu
thế tuyệt đối. Địa hình thấp dưới 1000m chiếm tới 85% diện tích tự nhiên, núi cao trên 2000m
chỉ chiếm 1% diện tích. Địa hình đồi núi thấp chiếm chủ yếu có ý nghĩa lớn đối việc bảo toàn
tính chất nhiệt đới gió mùa của thiên nhiên Việt Nam.
Câu 4. Ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến các thành phần tự nhiên nước ta
- Khí hậu:
+ Các dãy núi cao chính là ranh giới khí hậu giữa các vùng. Chẳng hạn như, dãy Bạch Mã
là ranh giới giữa khí hậu phía Bắc và phía Nam – ngăn gió mùa Đông Bắc từ Đà Nẵng vào;
dãy Hoàng Liên Sơn là ranh giới giữa khí hậu Tây Bắc và Đông Bắc; dãy Trường Sơn tạo
nên gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ.
+ Độ cao của địa hình tạo nên sự phân hóa khí hậu theo đai cao. Tại các vùng núi cao xuất
hiện các vành đai khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới.
- Sinh vật và thổ nhưỡng:
+ Ở vành đai chân núi diễn ra quá trình hình thành đất feralit và phát triển cảnh quan rừng
nhiệt đới ẩm gió mùa. Trên các khối núi cao hình thành đai rừng cận nhiệt đới trên núi và
đất feralit có mùn. Lên cao trên 2.400m, là nơi phân bố của rừng ôn đới núi cao và đất mùn
alit núi cao.
+ Thảm thực vật và thổ nhưỡng cũng có sự khác nhau giữa các vùng miền : Bắc – Nam,
Đông – Tây, đồng bằng lên miền núi.
Câu 5. Đặc điểm địa hình núi vùng Đông Bắc và địa hình núi vùng Tây Bắc
Học Tập Suốt Đời
+ Phía Tây là các cao nguyên xếp tầng tương đối bằng phẳng, cao khoảng từ 500 – 800 -
1000m : Plâycu, Đăk Lăk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh, tạo nên sự bất đối xứng giữa hai
sườn Đông – Tây của địa hình Trường Sơn Nam.
Câu 7. Ý nghĩa của địa hình đồi núi nước ta.
- Thuận lợi:
Học Tập Suốt Đời
+ Khoáng sản: nhiều loại, như đồng, chì, thiếc, sắt, crôm, bô xít, apatit, than đá, vật liệu
xây dựng… Thuận lợi cho nhiều ngành công nghiệp phát triển.
+ Thủy năng: sông dốc, nhiều nước, nhièu hồ chứa Có tiềm năng thủy điện lớn.
+ Rừng : chiếm phần lớn diện tích, trong rừng có nhiều gỗ quý, nhiều loại động thực vật,
cây dược liệu, lâm thổ sản, đặc biệt là ở các vườn quốc gia… Nên thuận lợi cho bảo tồn hệ
sinh thái, bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, khai thác gỗ…
+ Đất trồng và đồng cỏ: Thuận lợi cho hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp
(Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung du miền núi Bắc Bộ…), vùng đồng cỏ thuận lợi cho
chăn nuôi đại gia súc. Vùng cao còn có thể nuôi trồng các loài động thực vật cận nhiệt và
ôn đới.
+ Du lịch: điều kiện địa hình, khí hậu, rừng, môi trường sinh thái thuận lợi cho phát triển
du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng , tham quan…
- Khó khăn:
+ Xói mòn đất, đất bị hoang hóa, địa hình hiểm trở đi lại khó khăn, nhiều thiên tai: lũ quét,
mưa đá, sương muối…
+ Khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất của dân cư, đầu tư tốn kém, chi phí lớn cho phòng và
khắc phục thiên tai.
Câu 8. Những đặc điểm của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
- Đồng bằng sông Hồng:
+ Diện tích: 15.000 km
2
+ Đồng bằng phù sa của hệ thống sông Hồng và Thái Bình bồi đắp, được khai phá từ lâu,
+ Thuận lợi cho phát triển nơi cư trú của dân cư, phát triển các thành phố, khu công
nghiệp…
+ Phát triển GTVT đường bộ, đường sông.
- Hạn chế:
+ Bão, lũ lụt, hạn hán thường xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và tài sản
+ Đồng bằng sông Hồng vùng trong đê phù sa không được bồi đắp dẫn đến đất bạc màu và
tạo thành các ô trũng ngập nước.
+ Đồng băng sông Cửu Long do địa hình thấp nên thường ngập lụt, chịu tác động mạnh mẽ
của sóng biển và thủy triều, dẫn tới diện tích đất ngập mặn nhiễm phèn lớn.
+ Đồng bằng ven biển miền Trung thì quá nhỏ hẹp, bị chia cắt, nghèo dinh dưỡng.
Câu 11. Đặc điểm của địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
Nằm chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi là cá bề mặt bán bình nguyên hoặc các đồi
trung du có độ cao dưới 300m, độ cắt xẻ giữa các quả đồi 50 – 60m, tối đa là 100m. Bán bình
nguyên hiện rõ ở Đông Nam Bộ với bậc thềm phù sa cổ ở độ cao 100m và bề mặt hình thành từ
phun trào bazan coa chừng 200m. Địa hình đồi trung du phần nhiều là di tích của tác động ngoại
lực chia cắt các thềm phù sa cổ. Càng gần đồng bằng đồi càng thấp, nhỏ, thung lũng mở rộng. Dải
đồi trung du rộng nhất nằm ở rìa đồng bằng sông Hồng và thu hẹp ở rìa đồng bằng ven biển. Địa
hình bán bình nguyên và đồi trung du thích hợp cho trồng các cây công nghiệp, các mô hình nông
lâm kết, đôi nơi được biến đổi để trồng lúa và hoa màu. Nhiều đồi trung du đã trở thành vùng đất
trống, bạc màu. Cần nhanh chóng phục hồi lớp phủ thực vật và sử dụng hợp lí đối với vùng đất dễ
bị thoái hóa này.
Địa hình phân hóa đa dạng phức tạp đã tạo nên sự phân hóa đa điều kiện tự nhiên và tiềm
năng tài nguyên các vùng lãnh thổ Việt Nam. Vì thế, nghiên cứu sự phân hóa địa hình là cơ sở để
hiểu biết sâu sắc đặc điểm tự nhiên và tài nguyên mỗi vùng nhằm sử dụng hợp lí cho mục tiêu
phát triển kinh tế.
Học Tập Suốt Đời
ĐẤT ĐAI
I. CÂU HỎI
Câu 1. Chứng minh rằng ở nước ta quá trình Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu
macgalit. Nhưng trong điều kiện nhiệt ẩm cao ở Việt Nam, đất này cũng bị Feralit hóa, tạo
thành đất Feralit. Quá trình Feralit cũng diễn ra mạnh mẽ trên các đồi, thềm phù sa cổ. Ngay
tại các vùng đất bồi tụ phù sa với thời gian và nếu sử dụng không hợp lí thì quá trình Feralit
cũng tiến triển, thể hiện ở những vết lốm đốm đỏ vàng và các kết von. Với địa hình đồi núi
thấp chiếm ưu thế, có thể nói Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu ở Việt Nam.
Câu 2. Thổ nhưỡng nước ta có sự phân hóa đa dạng
Các nhân tố và điều kiện hình thành đất gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật có sự
phân hóa đa dạng, thêm vào đó do tác động của con người khiến cho thổ nhưỡng Việt Nam
Học Tập Suốt Đời
phân hóa đa dạng. Ở nước ta có tới 19 nhóm đất với 54 loại đất gộp theo hai hệ đất chính là đất
đồng bằng và đất đồi núi.
a. Hệ đất đồng bằng.
Hệ đất đồng bằng chiếm gần ¼ diện tích đất tự nhiên, gồm nhiều nhóm đất. Nhóm đất phù
sa chiếm diện tích lớn nhất 3,4 triệu ha. Ngoài ra, nhóm đất phèn (chua mặn) cũng chiếm
diện tích khá lớn, hơn 1,85 triệu ha; nhóm đaát mặn ven biển có diện tích gần 1 triệu ha,
nhóm đất cát biển hơn 500.000 ha. Tại vùng thấp trũng hình thành nhóm đất glây và nhóm
đất than bùn, tập trung nhất ở vùng Đồng Tháp, U Minh.
b. Hệ đất đồi núi
- Hệ đất đồi núi tại các vùng đồi núi nước ta, quá trình hình thành đất Feralit chiếm chủ yếu.
Có sự phân hóa đất theo đai cao. Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp chân núi chiếm diện
tích lớn nhất hơn 20 triệu ha (trên 60% diện tích đất tự nhiên). Trong đó các loại đất Feralit
đỏ vàng phát triển trên đá mẹ axit, đá phiến sét, đá cát chiếm tới 14,8 triệu ha. Trong nhóm
đất này, tốt nhất là loại đất Feralit nâu đỏ (2,4 triệu ha) phát triển trên đá mẹ badan và đá
vôi. Đất xám phù sa cổ có diện tích hơn 1,2 triệu ha, phân bố tập trung nhất ở Đông Nam
Bộ 900.000 ha, còn ở rìa Đồng bằng Bắc Bộ. Do quá trình canh tác tưới nước lâu ngày, đất
bị trôi hết chất màu, nhiều nơi biến đổi thành đất xám bạc màu. Các loại đất nâu đỏ, đất
xám phù sa cổ rất thích hợp cho việc trồng cây ăn quả và cây công nghiệp. Một số nhóm
trường sống của các loài sinh vật, là cơ sở để xây dựng nhà máy, xí nghiệp, cơ sở hệ
thống và cũng là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp… Nên vấn đề sử dụng hợp lí
đia đôi với bảo vệ, cải tạo … là vấn đề cần được quan tâm.
- Diện tích phần lãnh thổ nước ta là 331.212 km
2
, bình quân/người là 0,4 ha/người, bằng 1/6
mức bình quân thế giới, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 0,1 ha/người… Như vậy tài
nguyên đất đai ở nước ta là tài nguyên vô cùng quí giá, là vốn đất mà chúng ta phải sử
dụng như thế nào cho nó hiệu quả.
- Nước ta trải qua quá trình lịch sử hình thành lâu dài và phức tạp (lịch sử địa chất, tác động
của con người, tác động của tự nhiên như khí hậu, thủy sản, sinh vật…) nên tài nguyên đất
ở nước ta rất phong phú đa dạng với nhiều loại hình và cấu trúc khác nhau, hiện nay có hơn
64 loại đất được chia làm 13 nhóm, trong đó có 2 nhóm chính là đất Feralit (khoảng 24
triệu ha) và đất phù sa (khoảng 9 triệu ha). Lãnh thổ nước ta ¾ là đồi núi, ¼ là đồng bằng.
a. Đất Feralit:
- Nguồn gốc hình thành từ quá trình phân hóa các loại đá mẹ
- Phân bố chủ yếu ở miền núi trung du rộng lớn, độ dốc cao nên đất dễ bị xói mòn, rửa trôi,
không thuận lợi cho tưới tiêu và tổ chức sản xuất.
- Tầng phong hóa dầy, hàm lượng chất khoáng, chất sắt, nhôm, magiê… khá cao nên thuận
lợi cho cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi và trồng rừng phát triển…
- Các loại đất Feralit:
+ Đất feralit trên đá badan (khoảng 24 triệu ha): phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ, duyên hải Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An…). Đất này có tầng
phong hóa sâu, giầu chất dinh dưỡng, nhiều nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, rộng
(Tây Nguyên) thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp với
quy mô lớn (vùng chuyên canh cây cà phê ở Tây Nguyên, Cao su ở Đông Nam Bộ…)
+ Đất Feralit hình thành trên đá vôi: Diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở TDMN phía Bắc,
nhìn chung khá màu mỡ thoát nước tốt, tuy nhiên tầng đất mỏng, khó khai thác chủ yếu để
trồng ngô, một số cây đặc sản và cây ăn quả, cây dược liệu…
+ Đất cát ven biển: phân bố dọc ven biển nhiều nhất ở ven biển miền Trung, đất này thích
hợp trồng hoa màu như sắn, ngô, khoai… cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương…
+ Các loại đất khác như đất xói mòn, rửa trôi, bạc màu, glây hóa…Đất có diện tích mặt
nước nuôi trồng thủy sản từ Móng Cái đến Hà Tiên dài 3260 km trên đó có hàng trăm ngàn
đầm phá, cửa sông, vũng vịnh, bãi triều như Phá Tam Giang, đầm Cầu Hai, đầm lợ Cà
Mau…
Tài nguyên đất của nước ta có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của
đất nước, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp (đáng kể là hai loại đất Feralit và đất phù
sa) nên vấn đề sử dụng hợp lí đất đai, đi đôi với cải tạo, bảo vệ phải đặt lên hàng đầu.
Học Tập Suốt Đời
Câu 4. Phương hướng để sử dụng hợp lí đất đai ở nước ta.
a. Đất Feralit:
- Song song với khai thác phải tiến hành trồng rừng phòng hộ để đảm bảo độ ẩm, hạn chế
xói mòn đất, đặc biệt quan tâm đến bảo vệ rừng đầu nguồn. Khi khai thác rừng cần quy
hoạch khai thác lâu dài.
- Sử dụng đất hợp lí “đất nào cây ấy” và hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với đặc
tính của đất trồng
- Song song với mở rộng các vùng chuyên canh phải xây dựng các hồ chứa nước, các công
trình thủy lợi với quy mô khác nhau để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, điều tiết nước cho phù
hợp với thời vụ và hạn chế tốc độ thoái hóa đất trồng.
- Tuyên truyền phổ biến cho đồng bào các dân tộc những hiểu biết về đặc điểm, sự thay đổi
đặc tính của đất trồng để vận động họ sử dụng hợp lí, định canh định cư, không phá rừng
làm nương rẫy.
- Nhà nước cần phải có chính sách hỗ trợ và giúp đỡ về kỹ thuật, vốn, tạo việc làm để ổn
định cuộc sống cho đồng bào các dân tộc.
- Cần phân bố lại dân cư giữa đồng bằng và miền núi (đặc biệt là lao động có kỹ thuật) để sử
dụng hợp lí hơn tài nguyên đất.
b. Đất phù sa:
- Song song với đẩy mạnh thâm canh tăng vụ cần phát triển công trình thủy lợi để chủ động
a. Mạng lưới sông ngòi dày đặc.
Đặc điểm này của thủy văn Việt Nam là hệ quả tác động của khí hậu nhiệt đới gió
mùa ẩm trên nền địa hình mà quá trình xâm thực là chủ yếu.
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc. Chỉ tính những con sông có chiều dài trên
10km có nước chảy thường xuyên, thì trên toàn lãnh thổ đã có 2.360 sông (bao gồm
106 dòng sông chính với 2254 phụ lưu). Mật độ lưới sông trung bình 0,6 km/km
2
,
nơi có mật độ sông lớn 1,5 km/km
2
, ở đồng bằng châu thổ 3 – 4 km/km
2
. Dọc bờ
biển cứ 20km gặp một cửa sông. Sông ngòi nước ta nhiều, nhưng phần lớn là sông
nhỏ. Có tới 2170 con sông (chiếm 92,5% tổng số sông) có diện tích lưu vực nhỏ hơn
500km
2
với chiều dài ngắn hơn 100km.
b. Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa.
Mưa nhiều mang lại lượng dòng chảy lớn, hơn nữa sông ngòi nước ta nhận một
lượng nước lớn từ lưu vực nằm ngoài lãnh thổ. Tổng lượng nước chảy trong sông
ngòi trung bình hàng năm là 835 tỉ m
3
, trong đó lượng nước phát sinh từ lãnh thổ là
337 tỉ m
3
chiếm khoảng 37,5%. Lượng nước từ lưu vực bên ngoài gần gấp đôi
(chiếm 62,5% tổng lượng nước). Lượng dòng chảy mặt chiếm tới 2/3 tổng lượng
dòng chảy, trong đó lượng nước phát sinh từ lãnh thổ chỉ chiếm hơn 1/3.
Lượng nước phân bố không đều giữa các hệ thống sông. Sông Mê Công có lượng
nghiệp, giao thông vận tải và bảo vệ môi trường.
Thuận lợi
a. Nông nghiệp:
- Sông ngòi nhiều nước, mật độ dày, phân bố tương đối đồng đều thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp ( tưới tiêu thau chua rửa mặn), 1ha lúa cần 15.000 – 60.000 m
3
nước/năm.
- Sông ngòi mang nhiều phù sa, là nguồn phân bón rất tốt cho đồng ruộng, đồng thời chống
thoái hóa đất, nếu 1 lớp phù sa mới dày 5cm cho năng suất thêm 400kg/ha, đồng thời còn
góp phần mở rộng diện tích đồng bằng.
- Sông ngòi nước ta là địa bàn tốt để nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ như cá lồng, cá
bè, nhân giống cá…
b. Công nghiệp
- Sông ngòi nước ta nhiều nước lại chảy trong những vùng có độ dốc lớn nên trữ năng thủy
điện lớn từ 20 – 30 triệu kw bằng 260 đến 279 tỉ kw/h (sông Hồng 11 triệu kw, sông Đà 6tr
kw bằng 37% trữ lượng điện cả nước). Hệ thống sông Đồng Nai bằng 19% cả nước, công
suất các nhà máy thủy điện là:
+ Hòa Bình: 1,9 trkw trên sông Đà.
+ Yaly: 700.000 kw trên sông Xê san – Kon Tum.
+ Trị An: 400.000 kw trên sông Đồng Nai
+ Đa Nhim: 160.000 kw trên sông Đa Nhim
+ Thác Bà: 110.000 kw trên sông Chảy.
+ Thác Mơ: 150.000 kw trên sông Bé.
+ Sông Hinh: 70.000 kw trên sông Hinh – Phú Yên.
+ Vĩnh Sơn: 60.000 kw trên sông Hà Giao – Bình Định
+ ĐRây Hlinh: 12.000 kw trên sông Xròpôk – Đắc Lắc
+ Các nhà máy đang xây dựng như Sơn La: 2,4 triệu kw trên sông Đà
Học Tập Suốt Đời
c. Sông ngòi nước ta phân hóa mạnh theo lòng sông, miền núi bờ cao lòng hẹp nhiều
thác ghềnh gây hạn chế cho GTVT, ở đồng bằng lòng sông rộng uốn khúc quanh co,
bên lở bên bồi nên kéo dài dòng vận chuyển và lấp dòng sông.
Sông ngòi nước ta có dòng chảy cát bùn lớn nên lắng đọng ở cửa sông gây tốn kém cho
nạo vét cửa sông.
BIỂN ĐÔNG Học Tập Suốt Đời
I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày các đặc điểm cơ bản của Biển Đông
Câu 2. Chứng minh rằng thiên nhiên nước ta mang tính bán đảo và chịu ảnh hưởng sâu sắc
của biển
Câu 3. Trình bày các nguồn lợi thiên nhiên của Biển Đông và những thiên tai do Biển Đông
mang lại. Nêu chiến lược khai thác tổng hợp kinh tế biển của nước ta.
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Đặc điểm cơ bản của Biển Đông
- Biển Đông là một trong số các biển lớn của thế giới, có diện tích 3,447 triệu km
3
. Chiều dài
Biển Đông khoảng 3000km, chiều rộng 1000km, độ sâu trung bình của biển Đông là
1140m. Gần bờ, đáy vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan sâu chưa tới 100m, ra ngoài khơi, gần
Philippin và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mới gặp lòng chảo sâu 4000m, chỗ sâu
nhất đạt 5554m.
- Phần Biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nm rộng khoảng trên một triệu km
2
, trong đó có hai
vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ (150.000 km
2
năm. Sự hạ thấp nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển vào mùa đông do gió mùa đông
bắc cũng biểu hiện rõ rệt từ vĩ tuyến 16
0
B trở ra, giống như trên đất liền.
- Biển Đông còn là vùng biển tương đối kín. Hình dạng khép kín của vùng biển tạo nên tính
chất khép kín của dòng hải lưu với hướng chảy chịu ảnh hưởng của gió mùa. Tại hai vịnh
Bắc Bộ và vịnh Thái Lan cũng hình thành những dòng hải lưu chảy theo những vòng tròn
nhỏ hơn. Thành phần sinh vật biển Đông cũng tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới, số lượng
loài rất phong phú, riêng cá có tới 2000 loài.
Học Tập Suốt Đời
Như vậy, tính chất nhiệt đới gió mùa và tính chất khép kín địa phương của các yếu
tố khí tượng – hải văn, sinh vật là hai đặc điểm cơ bản nhất của biển Đông. Hai đặc điểm
này thể hiện tính thống nhất giữa biển và đất liền của lãnh thổ Việt Nam và cũng thể hiện
ảnh hưởng mạnh mẽ của biển tới các đặc điểm thiên nhiên trên đất liền.
Câu 2. Thiên nhiên nước ta mang tính bán đảo và chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển.
Diện tích biển của nước ta gấp trên 3 lần so với diện tích đất liền. Phần biển của đất
nước cũng có tới khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ. Độ dài bờ biển thì ở nước ta là 3260km,
nếu tính tỉ lệ diện tích đất liền trên chiều dài bờ biển thì ở nước ta cứ 100km
2
đất liền đã có
1km đường bờ biển. Tỉ lệ này gấp 6 lần trung bình của thế giới. Tính bán đảo được thể hiện
trước hết ở khí hậu, địa hình ven biển và ở cảnh quan thiên nhiên nước ta.
a. Khí hậu mang tính hải dương điều hòa
Biển Đông rộng và chứa một lượng nước lớn là nguồn dự trữ ẩm làm cho độ ẩm tương
đối của không khí trên 80%. Các luồng gió hướng đông nam từ biển thổi vào luồn sâu
theo các thung lũng sông làm giảm độ lục địa ở các vùng cực tây của đất nước. Biển
Đông làm biến tính các khối khí đi qua biển vào nước ta. Về mùa đông các dòng khí
lạnh khô từ lục địa phương Bắc tràn xuống qua vùng biển nóng ẩm nhận thêm nhiệt và
ẩm nên giảm bớt tính chất lạnh khô, mang lại thời tiết mưa phùn cho vùng đồng bằng
Câu 3. Các nguồn lợi thiên nhiên của Biển Đông và những thiên tai do Biển Đông mang lại.
Chiến lược khai thác tổng hợp kinh tế biển của nước ta.
- Biển Đông góp phần làm giàu tài nguyên thiên nhiên nước ta. Vùng thềm lục địa chứa các
mỏ khoáng sản trầm tích hữu cơ và trọng sa. Khoáng sản có trữ lượng lớn và giá trị nhất là
dầu khí. Hai bể dầu lớn nhất là bể chứa Nam Côn Sơn có diện tích 70000km
2
và bể chứa
Cửu Long diện tích khoảng 23000 km
2
hiên đang được khai thác. Các bể dầu khí Malai –
Thổ Chu và bể sông Hồng có diện tích nhỏ hơn cũng có trữ lượng đáng kể và còn hơn chục
mỏ dầu khí khác đã được xác định. Lượng dầu thô khai thác được hàng năm của chúng ta
đạt hàng chục triệu tấn. Ngoài ra, các mỏ sa khoáng, các bãi cát ven biển có trữ lượng lớn
là nguồn nguyên liệu quý cho ngành công nghiệp. Vùng ven biển nước ta còn thuận lợi cho
nghề làm muối, nhất là vùng ven biển Nam Trung Bộ.
- Sinh vật Biển Đông tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới giàu thành phần loài và có năng suất
sinh học cao, nhất là ở vùng ven bờ, nơi giàu nguồn thức ăn có mật độ tập trung sinh vật
cao nhất. Trong biển Đông có tới trên 2000 loài cá, trên 100 loài tôm, khoảng vài chục loài
mực, hàng nghìn loài sinh vật phù du và sinh vật đáy khác. Trên các đảo, nhất là tại hai
quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa, ta còn có nguồn tài nguyên quý giá, các rạn san hô
cùng đông đảo các loài sinh vật khác tập trung ven đảo.
- Bão, sóng lừng, nước dâng là những thiên tai do Biển Đông gây ra làm ảnh hưởng không
nhỏ đến cảnh quan thiên nhiên và sự phát triển kinh tế, xã hội nước ta. Mỗi năm trung bình
vùng đồng bằng và ven biển nước ta đón nhận 3 – 4 cơn bão trực tiếp từ biển Đông đổ vào.
Năm bão nhiều có tới 8 – 10 cơn, năm ít cũng 1 – 2 cơn bão. Bão qua Biển Đông gây mưa
to, lượng mưa đột ngột tăng lên đến 300 – 400 mm trong một ngày đêm, nước dâng nhanh,
gió giật mạnh, sóng lớn làm phá hủy các công trình xây dựng, đắm chìm tàu bè và làm
ngập mặn đất đai. Những đợt sóng lớn do gió bão gây nên có thể rất cao, độ cao cực đại ở
Cô Tô, Bạch Long Vĩ là 6 – 7m, ở Hoàng Sa, Trường Sa đến 11m. Bão lớn, sóng lừng,
nước dâng là những thiên tai bất thường, khó phòng tránh vẫn thường xuyên hàng năm đe
có nguồn gốc bản địa, Malaixia – Inđônêxia và Ấn Độ - Mianma. Thực vật phổ biến là các
loài thuộc các họ cây nhiệt đới như đậu, vang, dâu tằm, dầu. Động vật trong rừng là các
loài chim thú nhiệt đới, nhiều nhất là công, trĩ, gà, lôi, khỉ, voọc, vượn, nai, hoẵng, sơn
dương… Ngoài ra, còn cả một thế giới các loài bò sát, ếch nhái, côn trùng vô cùng phong
phú.
Sự phân hóa đa dạng, phức tạp của cảnh quan thiên nhiên Việt Nam được biểu hiện
trực quan sinh động nhất ở giới sinh vật với sự đa dạng các kiểu hệ sinh thái.