Tài liệu LUẬN VĂN: Phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta - Pdf 10

LUẬN VĂN:
Phép biện chứng duy vật đối với sự
nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta
phần Mở đầu

Mười năm nỗ lực phấn đấu, nhất là 5 năm qua, nhân dân ta đã tạo nên những
đổi mới kinh tế quan trọng. Trong khi nhịp độ tăng trưởng nhanh và vượt mức kế

thành từ nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, nhiều quá trình khác nhau. Giữa chúng có mối
liên hệ, tác động lẫn nhau trong đó sẽ có những liên hệ trái ngược nhau, gọi là các
mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn của sự vật. Các mặt đối lập thường xuyên tác động
qua lại lẫn nhau gây nên một biến đổi nhất định, làm cho sự vật vận động phát triển.
Các mặt đối lập là những mặt có xu hướng phát triển trái ngược nhau nhưng
chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể duy nhất là sự vật. Quan
hệ đó thể hiện các mặt vừa thống nhất vừa tiêu diệt nhau. Sự thống nhất giữa các mặt
đối lập là sư lương tựa, rằng buộc, phụ thuộc lẫn nhau làm tiền đề để tồn tại và phát
triển cho nhau, có mặt này mới có mặt kia. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự bài
trừ gạn bỏ, phủ định lẫn nhau giữa chúng. Hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một thể
thống nhất, chúng thường xuyên muốn tiêu diệt lẫn nhau. Đó là một tất yếu khách
quan không tách rời sự thống nhất giữa chúng.
Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh là hai mặt đối lập tồn tại không tách rời
nhau. Sự thống nhất giữa các mặt chỉ diễn ra trong những điều kiện nhất định với một thời gian xác định. Bất cứ sự thống nhất nào cũng diễn ra sự đấu tranh giữa các mặt
đối lập làm cho nó luôn luôn có xu hướng chuyển thành cái khác. Còn đấu tranh diễn
ra từ khi thể thống nhất xác lập cho đến khi nó bị phá vỡ để chuyển thành mới. Đấu
tranh giữa các mặt đối lập diễn ra trải qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khác
nhau, từ khác biệt đến đối lập, từ đối lập đến xung đột, từ xung đột đến mâu thuẫn.
Đến đây nếu có đủ điều kiện thích hợp thì nó diễn ra sự chuyển hoá cuối cùng
giữa các mặt đối lập. Cả hai đều có sự thay đổi về chất, cùng phát triển đến một trình
độ cao hơn. Từ đó mâu thuẫn được giải quyết sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ và
quá trình lại tiếp tục.
Vì thế đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự
phát triển.
II. Tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần
Trong thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế do lịch sử để lại và
còn có lợi cho sự phát triển kinh tế CNXH: Kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể.

CHXN, bỏ qua chế độ Tư bản, từ một nước xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến,
lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để
lại còn nặng nề, kinh tế nông nghiệp kém phát triển. Bên cạnh những nước XHCN đã
đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hoà
bình và cách mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần
quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
vẫn còn là một nước XHCN lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Vì thế mâu thuẫn giữa
CHXH và CNTB đang diễn ra gay gắt. Trước mắt CNTB còn có tiềm năng phát triển
kinh tế nhờ ứng dụng những thành tựu đổi mới khoa học công nghệ, cải tiến phương
pháp quản lý. Chính nhờ những thứ đó mà các nước tư bản có nền đại chủ nghĩa tư
bản phát triển. Các nước XHCN trong đó có Việt Nam phải tiến hành cuộc đấu tranh
rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới
dưới mọi hình thức chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức chống sự can
thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc.
Chính sự vận động của tất cả các mâu thuẫn đó đã dẫn tới hậu quả tất yếu phải đổi mới nền kinh tế nước ta và một trong những thành tựu về đổi mới nền kinh tế là bước
đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần khắc
phục được tình trạng độc quyền, tạo ra động lực cạnh tranh giữa các thành phần kinh
tế thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần là đặc trưng cơ bản của kinh tế quá độ, vừa là tất yếu, cần thiết, vừa là phương
tiện để đạt được mục tiêu của nền sản xuất xã hội nó vừa tạo cơ sở làm chủ về kinh tế
vừa đảm bảo kết hợp hài hoà hệ thống lợi ích kinh tế. Đó là đông lực của sự phát
triển.
III. Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế
1. Mặt thống nhất
Hiến pháp Nhà nước 1992 xác nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo

định hướng, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và sử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động
kinh tế, bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Công cuộc cải
cách kinh tế ở Việt nam đã làm nền kinh tế thay da đổi thịt đưa tốc độ phát triển kinh
tế bình quân từ 4,9% trong thời kỳ 1986 - 1990 lên 7,7% trong thời kỳ 1990 - 1995
và giảm tốc độ lạm phát từ 7,75% (năm 1986) xuống 12,7% (1995). Thành công của
cải cách không những là nhờ các chính sách tài chính tiền tệ thích hợp và còn vì việc
mở cửa cho nền kinh tế khu vực tư nhân vào đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Nhà
nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế thành phần, không phân biệt đối xử
không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể tư liệu sản xuất, không áp đặt
hình thức kinh doanh khuyến khích các hoạt động cho quốc tế nhân sinh. Các thành
phần kinh tế nước ta có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất. Chúng đều là bộ phận
cấu thành của hệ thống nhân công lao động xã hội thống nhất và mục tiêu duy nhất
và chung nhất của chúng ta là đáp ứng nhu cầu của xã hội và cư dân trên thị trường
để hướng tới một mục đích cuối cùng phát triển nền kinh tế đất nước, đưa nước ta trở
thành một nước có nền công nghiệp phát triển. Nền kinh tế nhiều thành phần nước ta
phát triển theo định hướng XHCN nhưng đều chịu sự điều tiết thống nhất của các quy
luật kinh tế khách quan đang tác động trong thời kỳ quá độ (Nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc). Đó
là"Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng
cố mở rộng. Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con
đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư
nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp
quy định. Phát triển kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức. Kinh tế gia đình
được khuyến khích phát triển mạnh nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc
lập. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế
đa dạng. Các tổ chức kinh tế chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất
kinh doanh "Mặc dù thành phần kinh tế đều chịu sự điều tiết của Nhà nước những

hướng phát triển kinh tế - xã hội: Định hướng XHCN và định hướng phi XHCN. Đó
là mâu thuẫn bên trong của nền kinh tế nước ta hiện nay. Hai định hướng đó song
song và thường xuyên tác động lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản chi phối
quá trình phát triển nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Do vậy
vận động nền kinh tế nước ta không thể tách rời sự vận động của thế giới của thời
đại. Ngày nay những nhân tố bên trong và bên ngoài của cách mạng Việt Nam gắn bó
khăng khít với nhau hơn bao giờ hết cho nên còn có một mâu thuẫn nữa tác động
mạnh mẽ vào quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay là mâu thuẫn của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giữ vững nền độc lập dân tộc và kiên định đi
theo con đường XHCN với các thế lực phản động trong và ngoài nước. Có một điều
có vẻ như ngược đời trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay là xây
dựng CNXH bằng cách mở rộng đường cho CNTB. Nhưng CNTB ở đây là CNTB
hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước XHCN. Và không dẹp bỏ kinh tế tư nhân và
TBCN như chúng ta đã làm trước đây. Trái lại ngày nay chúng ta bảo hộ và khuyến
khích các thành phần kinh tế phát triển. Điều này không phải là chúng ta thay đổi con
đường phát triển kinh tế - xã hội, không phải là từ bỏ sự lựa chọn XHCN. Việc xóa
bỏ chế độ tư hữu kiểu trước đây là trái với qui luật khách quan. Vì thế sẽ không thúc
đẩy mà trái lại làm trở ngại cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, mục tiêu dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh khó có thể thực hiện được. Do đó tình
trạng nghèo nàn lạc hậu là"giặc dốt"v.v vẫn còn tồn tại trên đất nước ta. Đây là
những nguy cơ và hiểm hoạ đối với sự tồn vong của cơ chế mới mà chúng ta đang gắng sức xây dựng. Sự phát triển của kinh tế cá thể, tư bản tư nhân ở trong nước và
việc mở cửa cho CNTB nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức của "chế
độ tô nhượng", đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ sẽ thực sự làm cho nền kinh tế
mạnh lên, nhưng cũng thực sự sẽ diễn ra 2 cuộc đấu tranh giữa hai định hướng phát
triển kinh tế xã hội. Chính sách phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi có
sự khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ vì hiện nay sự phát triển đó còn
thấp, chưa tương ứng với tiềm năng hiện có. Tuy nhiên đường lối đó cũng đòi hỏi

xác định được xu thế phát triển của nó phải tìm cho được mâu thuẫn bên trong của sự
vật. Bên trong bản thân các thành phần kinh tế còn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích các
ngành trong thành phần kinh tế đó, những ngành độc quyền như CN quốc phòng,
Ngân hàng Nhà nước, Bưu chính viễn thông, không phải là không chịu sự cạnh tranh
khốc liệt của nền kinh tế thị trường. Ngành nào c ũng muốn - kinh doanh đạt hiệu quả
cao nhất. Trong nền kinh tế hiện nay thực hiện điều đó không phải là dễ dàng. Nhưng
chính sự cạnh tranh đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển cao hơn với
chất lượng và số lượng sản phẩm ngày càng phong phú hơn. Chuyển sang kinh tế thị
trường tất yếu phải hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong thời đại ngày nay, mọi
nền kinh tế dân tộc đều không hướng tới xuất khẩu, không coi mũi nhọn vươn lên ra
bên ngoài thì không thể đưa nền kinh tế trong nước tăng trưởng theo kịp bước tiến
hoá chung của nhân loại. Nền ngoại thương Việt Nam những năm 1981 - 1982 còn
nhỏ bé và mất cân đối nghiêm trọng. Tổng kim ngạch không vượt quá 500 triệu USD
và tỉ lệ xuất nhập là 1/4 (xuất 1 thì nhập 4). Những năm đầu thay đổi (1986 - 1987)
kim ngạch xuất khẩu khoảng 800 triệu USD với tỷ lệ xuất nhập khẩu là 1/1,7. Năm
1986 - 1989 kim ngạch xuất khẩu đã trên 1 tỷ USD, năm 1991 gần 2 tỷ USD và năm
1992 trên 2,4 tỷ với cán cân ngoại thương thăng bằng. Đó là những bước tiến hết sức
quan trọng tại những cơ sở, những tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế nước ta. Đó là
do sự cạnh tranh gay gắt của các ngành trong kinh tế quốc doanh, mà ngành nào cũng
cho mình là then chốt. Đấu tranh và phát triển là hai mặt của hiện tượng, là quan hệ
nhân - quả của một vấn đề. Có đấu tranh mới có phát triển vì vậy như bất kỳ một giá
trị nào, sự đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hoá g iữa
chúng. Trong cơ chế thị trường mặc dù là sự cạnh tranh rất khốc liệt "Thương trường
là chiến trường" nhưng những gì còn tồn tại được và mặt hàng nào được người tiêu
dùng chấp nhận, đó chính là do sự nỗ lực đổi mới của bản thân ngành đó. Chính vì
vậy các doanh nghiệp không thể ngồi yên thụ động mà phải đổi mới, cải tiến đáp ứng
nhu cầu của thị trường, thúc đẩy tính năng động sáng tạo và sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Đó là tính ưu việt của mâu thuẫn nhưng bên cạnh đó những mâu thuẫn
này cũng đã nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Đó là sự coi trọng lợi ích và đồng tiền, vì
tiền họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình. Điều này có sự

nước trở lại cho nó 1:3.
*Hiện nay sau đổi mới cơ cấu thành phần kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế, tuy
có tạo nên sự chuyển biến bước đầu, một số xí nghiệp đã vượt qua khó khăn tạo nên
thế ổn định để đi ra và đi lên. Song những nhân tố đó chưa nhiều và những chuyển
biến đó chưa có cơ sở vững chắc và lâu dài. Đến 31/12/1991 đã có 500 xí nghiệp Nhà
nước phá sản và ngừng hoạt động. Việc sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo
Nghị định 388 - HĐBT chỉ mới được ở 10 Bộ, trong đó số doanh nghiệp hiện có là
1566, số đủ điều kiện tồn tại là 1.096, số phải chuyển thể là 470. Về địa phương đã
tiến hành được 10 tỷ . Thành phần trong đó số doanh nghiệp hiện có 2464, số đủ điều kiện 582, số phải chuyển thể 882, việc triển khai thí điểm cổ phần hoá theo quyết
định 202 - HĐBT chưa tiến hành được bao nhiêu, do nhiều nguyên nhân khác nhau
làm ách tắc và chậm chạp.
* Từ thực trạng nói trên. Ta có thể thấy một số đặc trưng của xí nghiệp quốc
doanh hiện nay là :
- Sau một số khó khăn tất yếu, đã có vài doanh nghiệp trụ lại, vươn lên góp
phần đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội và dân cư, dập tắt những cơn sốt
hàng hoá, góp phần bình ổn giá cả. Tuy vậy số doanh nghiệp này chưa nhiều và chưa
vững chắc.
- Sự tồn tại thành phần kinh tế là cần thiết nhưng còn quá nhiều với ngân sách,
chất lượng và hiệu quả rất thấp.
- Sự tăng trưởng và tồn tại hay hồi sinh của một số xí nghiệp về mặt thực chất
vẫn còn lợi dụng kẽ hở của bao cấp Nhà nước, những sơ hở của pháp luật.
- Quen sống trong cơ chế bao cấp nên thiếu độ nhạy cảm với các thông số biến
động của thị trường.
Nhiều doanh nghiệp đã trở thành nơi để cho người lợi dụng quốc doanh để buôn
lậu, tham nhũng làm thất thoát tài sản vốn liếng của Nhà nước.
2. Kinh tế tập thể:
Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu tập thể về TLSX (trừ ruộng đất sở hữu toàn

miền thì các tỉnh phía nam chiếm 72,5% số dự án và 73,5% tổng số vốn đăng ký cả
nước. Còn số dự án đầu tư và đang có chiều hướng tăng lên, tính đến tháng 6 năm
1994 đã có 800 dự án với tổng số vốn đăng ký là 8,7 tỷ USD và dự báo đến năm
2000 có thể đạt 20 tỷ USD. Kinh tế tư bản Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc
vận động tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ khả năng quản lý của các nhà tư bản vì
lợi ích của họ cũng như lợi ích của đất nước. Nhà nước cần phát triển rộng rãi các
hình thức liên doanh, nhiều phương thức góp vốn thích hợp giữa kinh tế Nhà nước
với tư bản tư nhân trong và ngoài nước, để tạo đà cho các doanh nghiệp Việt nam
phát triển, bằng khả năng hợp tác và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. 4. Thành phần kinh tế tư nhân:
Trên thực tế kinh tế tư nhân ở nước ta bao gồm: Các xí nghiệp tư nhân, hộ tư
nhân và cá thể tuy nhiên việc phân loại này cả lý luận và thực tiễn còn đang có chỗ
chưa thống nhất. Nhưng mặc dù khu vực kinh tế này mới được hồi sinh, nhưng từ
năm 1989 đến nay đã phát triển nhanh và mạnh. Ví dụ: ngành công nghiệp chiếm
27,2% (1989) đến nay gần 30% trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp; tính đến
năm 1991 trong thương nghiệp thành phần kinh tế tư nhân có 730 nghìn hộ với 950
nghìn người kinh doanh chuyên nghiệp và 1,2 triệu người buôn bán nhỏ. Số hộ qui
mô vừa và nhỏ chiếm đại bộ phận. Tính đến giữa tháng 8 năm 1992 đã 571 hộ kinh
doanh lớn được phép chuyển thành doanh nghiệp tư nhân với số vốn là 114 tỷ đồng
Việt Nam ; 412 hộ chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn với số vốn 268 tỷ
đồng Việt nam; 29 hộ chuyển thành công ty cổ phần vơí số vốn 159 tỷ đồng Việt
Nam. Trên thị trường xã hội, thành phần kinh tế này đua tranh với thương nghiệp
quốc doanh và tập thể nên đã chiếm lĩnh về bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng từ 60,8%
(1989) lên 73,1% (1991). Theo sự phân loại, kinh tế nông hộ cũng thuộc khu vực
kinh tế này. Cho đến nay có khoảng 10.402 hộ trong đó hộ sản xuất hàng hoá có mức
thu nhập từ 5 triệu đồng trở lên chiếm 22,4%; hộ tự cấp tự túc chiếm 62,8%; hộ
nghèo và quá nghèo chiếm 14,8%. Khu vực kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế
phát triển mạnh. Cuối năm 1988 đến nửa năm 1990 kinh tế tư bản tư nhân phát triển

doanh mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, tạo môi trường hợp tác và cạnh tranh
bình đẳng giữa các đơn vị kinh tế.
Để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan
hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng
trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế lao động là chủ yếu. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Đảng ta đã khảng định: Xây dựng nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng
cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tăng trưởng kinh tế
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc,
bảo vệ môi trường sinh thái. Cần tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước
khai thác mặt tích cực và khắc phục, ngăn ngừa hạn chế những tác động tiêu cực của
cơ chế thị trường. Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ từ pháp luật của mọi
doanh nghiệp, cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế.

Kết luận

Trên đây là những khái quát sơ bộ nhất về quan hệ năm thành phần kinh tế nước
ta hiện nay. Để thực hiện mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế năm
2000: ổn định tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo kém
phát triển, cải thiện đời sống nhân dân củng cố quốc phòng và an ninh, và tạo điều
kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21, thì việc xác định đúng
quan hệ và có chính sách phù hợp với năm thành phần kinh tế là một nhiệm vụ cấp
bách và rất cần thiết của Đảng và Nhà nước ta trong những năm này.

Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status