LUẬN VĂN:
Quy luật giá trị thặng dư hoạt
động và phát huy những đặc
điểm của nó
I - Phần mở bài:
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vận động phát triển không ngừng
trong tiến trình diễn ra của dòng thời gian và lịch sử. Nhìn lại những gì mà nền
kinh tế thế giới đã, đang đạt được chúng ta không thể phủ nhận rằng trong khi
hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa như nước ta đang gặp khó khăn, phát triển
chậm chạp thì các nước tư bản chủ nghĩa lại đạt được những thành tựu to lớn
trong phát triển đất nước với tốc độ phát triển chóng mặt ở tất cả các lĩnh vực
mà xuất phát điểm là từ sự phát triển của nền kinh tế: kĩ thuật và công nghệ bỏ
V. I Lênin đã đánh giá rất cao quy luật này. Ông coi quy luật giá trị thặng dư là
hòn đá tảng trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Marx và học thuyết kinh tế của
Marx lại là nội dung căn bản của chủ nghĩa Marx. Vì vậy, nó chứng tỏ quy luật
giá trị thặng dư có một vai trò to lớn trong lý luận của chủ nghĩa Marx. Chủ
nghĩa tư bản đã vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong nền sản xuất hàng hoá
tư bản bởi tác dụng của quy luật này. Việc tạo ra giá trị thặng dư chính là động
lực kích thích kĩ thuật tiến bộ, phân công lao động xã hội sâu sắc, lực lượng sản
xuất phát triển không ngừng, khối lượng của cải vật chất tạo ra rất lớn, năng
suất lao động nâng cao, nền kinh tế phát triển hiện đại. Các nước tư bản sở dĩ có
bước tiến xa vượt bậc như vậy là do họ đã vận dụng triệt để quy luật giá trị
thặng dư. Việc tìm hiểu bí mật và thực chất của nền sản xuất hàng hoá tư bản:
quy luật giá trị thặng dư là cần thiết và quan trọng.
2. Mặt chất của giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư được tìm hiểu đầy đủ thông qua cả mặt chất và mặt lượng.
Nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư sẽ cho thấy bản chất của nó.
2.1. Điều kiện ra đời của giá trị thặng dư:
(a).Công thức chung của Tư bản:
Trong sản xuất hàng hoá, nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất là tiền vì
mọi quan hệ mua bán trao đổi giao dịch đều được thực hiện thông qua đồng
tiền. Tất cả các tư bản đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền mặt nhất định.
Điều này dễ dẫn đến sự lầm tưởng mọi đồng tiền bỏ ra đều là tư bản. Bản thân
tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản khi chúng được sử dụng để
bóc lột lao động của người khác. Với tư cách là tiền thông thường, nó được
dùng làm vật ngang giá chung, làm môi giới trong mua và bán hàng hoá. Tiền
đơn giản chỉ là phương tiện của lưu thông hàng hoá giản đơn. Nhưng với tư
cách là tư bản, nó được thể hiện rõ trong công thức của lưu thông hàng hoá tư
bản chủ nghĩa.Thực vậy, hãy xem xét kĩ và so sánh hai công thức lưu thông đó.
an toàn hơn nhiều. Như vậy là khi ném tiền vào lưu thông anh ta phải thu được
một cái gì đó rất có ý nghĩa làm cho anh ta bất chấp tất cả những rủi ro có thể
gặp phải trong lưu thông. Vì mục đích lưu thông hàng hóa của tư bản là giá trị,
hơn nữa là giá trị tăng thêm. Vì vậy, T' = T + t (t: giá trị mới dôi ra hay giá trị
thặng dư). Công thức này không có giới hạn, nhà tư bản luôn mong muốn
không ngừng gia tăng số tiền của họ. ở đây, tiền là tư bản. Vậy tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư.
Rõ ràng ta thấy giá trị thặng dư được tạo ra. Nhưng nó được tạo ra từ đâu? Trả
lời câu hỏi này dẫn ta tới mâu thuẫn sau:
(b).Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:
Hãy thử đặt câu hỏi lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng giá trị hay
không? Nếu trong lưu thông, ta trao đổi ngang giá thì giá trị riêng của từng
người và tổng giá trị của xã hội không đổi, do đó không có động lực thúc đẩy
lưu thông hàng hoá. Ngược lại nếu trao đổi không ngang giá, mua rẻ, bán đắt.
Ta biết rằng mỗi người đều có hai vai trò người mua và người bán. Giả sử
người đó bán đắt hơn so với giá trị đã mua thì số tiền anh ta có được từ bán đắt
cũng chính là số tiền anh ta mất đi khi mua đắt. Nếu anh ta mua được hàng hoá
với giá rẻ hơn giá trị của nó thì số tiền anh ta có nhờ mua rẻ cũng chính là số
tiền anh ta mất do phải bán rẻ.Thực chất trong xã hội tổng giá trị không thay
đổi, chỉ có sự phân phối lại giá trị giữa các cá nhân trong xã hội mà thôi, hơn
nữa, giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng của giai cấp mình, không thể
làm tổn hại và diệt vong chính bản thân giai cấp của mình. Như vậy cả trao đổi
ngang giá hay không ngang giá đều không tạo ra giá trị thặng dư hay lưu thông
không tạo ra giá trị thặng dư . Nhưng ta không thể nói lưu thông không hề có
tác dụng gì trong việc tạo ra giá trị thặng dư . Vì nếu không có lưu thông thì tiền
của nằm trong két, hàng nằm trong kho và không thể có giá trị thặng dư. Vậy
mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là giá trị thặng dư vừa được tạo ra
trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông.
tố tinh thần và lịch sử. Nhà tư bản khi đã mua được hàng hoá sức lao động trong
lưu thông rồi sẽ sử dụng nó như thế nào trong sản xuất để tạo ra giá trị thặng
dư?
2.2. Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư:
(a).Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất của hai quá trình sản
xuất ra giá trị sử dụng và giá trị thặng dư:
Nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Marx đã phát hiện ra
sự thống nhất của hai quá trình: Sản xuất ra giá trị sử dụng và sản xuất ra giá trị
thặng dư. Xét sự thống nhất của hai quá trình là lao động và tạo ra giá trị thì quá
trình sản xuất là quá trình sản xuất hàng hoá. Còn nếu xét sự thống nhất của quá
trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá
trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Điều này được minh chứng qua quá trình sản
xuất sau:
Trong tay nhà tư bản, sức lao động được sử dụng triệt để nhằm phát huy
hết khả năng của nó, tạo ra sản phẩm thặng dư cho nhà tư bản càng nhiều càng
tốt. Khi mua hàng hoá sức lao động nhà tư bản đã tính toán đến sự khác nhau
giữa giá trị sức lao động mà họ phải trả khi mua và giá trị thực tế mà sức lao
động đó có thể tạo ra cho họ(giá trị này luôn lớn hơn giá trị mà nhà tư bản đã
trả). Nguyên nhân là nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong một ngày
làm việc và việc họ sử dụng sức lao động đó như thế nào phụ thuộc vào họ.
Trong tay nhà tư bản sức lao động giống như những tư liệu sản xuất khác và
được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất. Ta hãy xét một ví dụ cụ thể:
Giả sử một nhà máy sản xuất giấy. Để sản xuất 1kg giấy cần 2kg gỗ nguyên liệu
có giá 1.700đ. Trong một ngày nhà máy sản xuất được 5kg giấy tức là cần 10kg
gỗ nguyên liệu, hao mòn máy là 3.000đ, giá trị mỗi công nhân tạo ra trong một
giờ lao động là 500đ, tiền thuê lao động một ngày(16 giờ) là 4.000đ.Ta có số
liệu sau:
trị sức lao động của người công nhân do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng vật
ngang giá mới.
Điều này là do ngày lao động của người công nhân được chia thành hai
phần. Phần lao động mà người công nhân tạo ra với một lượng giá trị bằng giá
trị sức lao động của mình được gọi là thời gian lao động cần thiết. Trong ví dụ
trên thời gian lao động cần thiết của người công nhân là 8 giờ. Tuy nhiên trong
thực tế người công nhân phải lao động nhiều hơn số thời gian trên, tức là vượt
quá thời gian lao động cần thiết. Phần thời gian còn lại của ngày lao động sau
khi đã trừ đi thời gian lao động cần thiết được gọi là thời gian lao động thặng
dư. Chính thời gian lao động thặng dư của người công nhân đã tạo ra giá trị
thặng dư _ cái mà mục đích sản xuất của nhà tư bản hướng vào, là giá trị mà
nhà tư bản muốn chiếm không của người công nhân. Hiện tượng này xảy ra là
do nhà tư bản có trong tay lượng tư bản nhất định, do đó họ sở hữu tư liệu sản
xuất và như C.Marx nói: họ chi phối được một số lượng lao động không công
nhất định của người khác. Sau khi đã mua hàng hoá sức lao động họ sử dụng nó
như các tư liệu sản xuất khác, tức là sao cho có lợi nhất cho họ, tạo ra nhiều giá
trị thặng dư nhất. ở ví dụ trên 8 giờ lao động còn lại trong ngày chính là thời
gian lao động thặng dư và đã tạo ra giá trị thặng dư là 4.000đ. Giá trị của sản
phẩm sản xuất ra có hai phần: Phần giá trị cũ do lao động cụ thể của người
công nhân tạo ra và phần giá trị mới (gồm giá trị sức lao động và giá trị thặng
dư) do lao động trừu tượng của người công nhân tạo ra.
Như vậy không thể tách biệt nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng
và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Chúng thống nhất trong quá trình sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Vì vậy nên nhiều khi nội dung đích thực của quá trình
sản xuất giá trị thặng dư bị lu mờ.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư thông qua việc sử dụng tư bản của
nhà tư bản. Trong sản xuất nhà tư bản phải ứng trước ra một số tư bản nhất định
thấy vai trò của từng loại: Tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu
để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong
quá trình đó vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên. Tư bản khả biến (chuyển
hoá thành sức lao động làm thuê) chính là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị
thặng dư. Như vậy giá trị hàng hoá được biểu hiện một cách đầy đủ như sau:
H = C + V + m
Từ phân tích ta rút ra định nghĩa về tư bản: Tư bản là giá trị mang lại giá
trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. Nó là quan hệ xã hội - quan
hệ bóc lột giữa nhà tư bản và người công nhân. Quá trình sản xuất ra giá trị
thặng dư cho thấy nguồn gốc, bản chất của nó và cho thấy bản chất bóc lột của
chủ nghĩa tư bản.
2.3. Kết luận:
Như vậy, mặt chất của giá trị thặng dư chính là giá trị mới dôi ra ngoài
giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Giá trị
thặng dư là kết quả của quá trình sử dụng lao động làm thuê của người công
nhân vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong thời gian lao động thặng dư để
làm tăng thêm giá trị .Đó là kết quả của quá trình kết hợp chặt chẽ, hợp lý hai
yếu tố tư bản: tư bản bất biến C và tư bản khả biến V.
3. Mặt lượng của giá trị thặng dư:
Nếu như mặt chất của giá trị thặng dư phản ánh bản chất bóc lột của chủ
nghĩa tư bản thì mặt lượng của giá trị thặng dư sẽ phản ánh mức độ của sự bóc
lột ấy. Mặt lượng được biểu hiện thông qua hai phạm trù là tỷ suất giá trị thặng
dư và khối lượng giá trị thặng dư.
3.1. Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỉ suất giá trị thặng dư là tỉ số tính theo % giữa giá trị thặng dư m và tư
bản khả biến v cần để sản xuất ra giá trị thặng dư đó, tức là tỉ số theo đó tư bản
khả biến tăng thêm giá trị. C.Marx ký hiệu tỷ xuất giá trị thặng dư là m', công
3.2. Khối lượng giá trị thặng dư:
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng
tư bản khả biến V đã được sử dụng, ký hiệu là M. Công thức tính:
M=m'*V
Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột. Nó cho thấy
số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian sản xuất
nhất định. Trong công thức tính khối lượng giá trị thặng dư thì m/v phản ánh
quy mô bóc lột theo chiều sâu, v là lượng xác định vì tiền công của công nhân
là không đổi tính trong khoảng thời gian ngắn và các điều kiện nhất định. Còn
V là tổng tư bản khả biến, đại biểu cho tổng số công nhân được sử dụng. Nó
phản ánh quy mô bóc lột theo chiều rộng.
Khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào tỉ suất giá trị thặng dư m' và
tổng tư bản khả biến V hay khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào thời gian
và cường độ lao động của mỗi công nhân, phụ thuộc vào số lượng công nhân
mà nhà tư bản đã sử dụng. Cùng với sự phát triển củachủ nghĩa tư bản, khối
lượng giá trị thặng dư không ngừng được gia tăng. Vì mục đích của các nhà tư
bản là lợi nhuận, sản xuất ra càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt nên toàn bộ
hoạt động của họ đều hướng tới việc tăng cường tạo ra giá trị thặng dư. Các
phương pháp được sử dụng là sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối
và siêu ngạch.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp trong đó
giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách kéo dài ngày lao động và điều kiện thời
gian lao động cần thiết không thay đổi. Phương pháp này được áp dụng trong
giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi kĩ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp.
Ví dụ ngày lao động là 10h, 5h là thời gian lao động cần thiết, 5h là thời
gian lao động thặng dư. Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là m'=(5/5)* 100 =
100%. Nhưng giả định ngày lao động kéo dài thêm 2h trong điều kiện thời gian
lao động cần thiết không đổi. Như vậy thời gian lao động thặng dư là 7h. Tỷ
Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động dưới chủ
nghĩa tư bản trải qua ba giai đoạn: hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và
đại cơ khí. Nhà tư bản đã sử dụng cả hai phương pháp trên để nâng cao trình độ
bóc lột công nhân làm thuê trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Phương pháp thứ ba được sử dụng là phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư siêu ngạch. Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm
xuất hiện khi giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội .
Nguyên nhân là do có sự cạnh tranh giũa các nhà tư bản buộc họ phải cố
gắng tăng năng suất lao động cá biệt trong xí nghiệp của mình để giảm giá trị cá
biệt của hàng hoá ở xí nghiệp của họ so với giá trị xã hội của hàng hoá. Và nhà
tư bản chiếm phần chênh lệch giữa giá trị xã hội và giá trị cá biệt chừng nào mà
năng suất lao động xã hội còn chưa tăng lên để số chênh lệch đó không còn
nữa.
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều có cơ sở
chung là dựa trên tăng năng suất lao động. Nhưng giá trị thặng dư tương đối
dựa trên tăng năng suất lao động xã hội, toàn bộ giai cấp tư sản đều thu được.
Nó biểu hiện sự tiến bộ kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng rộng rãi.
Quan hệ kinh tế chủ yếu là quan hệ giữa nhà tư bản và người công nhân làm
thuê. Còn giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên tăng năng suất lao động cá biệt,
chỉ có ở một hay một số nhà tư bản mà thôi chứ không phải là toàn bộ giai cấp
tư sản. Sở dĩ chỉ có một số nhà tư bản có giá trị thặng dư siêu ngạch là nhờ vào
ưu thế kĩ thuật của riêng nhà tư bản đó. Nó là hình thái biến tướng của giá trị
thặng dư tương đối và được thay bằng giá trị thặng dư tương đối khi trình độ kĩ
thuật mới từ trường hợp áp dụng cá biệt trở thành được áp dụng phổ biến. Nó
biểu hiện không chỉ quan hệ giữa nhà tư bản với giai cấp công nhân mà còn có
cả quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau.
Tuy nhiên giá trị thặng dư siêu ngạch là mục đích trực tiếp của cạnh tranh
dung của quy luật là sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho tư bản. Vì
mục đích trực tiếp của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là sản xuất giá trị
sử dụng mà là giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. C.Marx đã nói :'' Mục đích
của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giàu, là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do
đó bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá trị thăng dư. Như vậy sản xuất ra giá trị
thặng dư tối đa cho nhà tư bản bằng tăng số lượng lao động làm thuê và tăng
mức bóc lột họ là nội dung của quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Quy luật giá trị thặng dư quyết định tới mọi mặt của xã
hội tư bản: sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng
xã hội khác cao hơn là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Nguyên do là ảnh hưởng hai mặt của quy luật giá trị thặng dư như sau:
Tác dụng tích cực của quy luật giá trị thặng dư là thúc đẩy kĩ thuật và
phân công lao động xã hội phát triển. Các nhà tư bản luôn luôn tìm cách cải tiến
kĩ thuật, ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại nhất làm cho lực
lượng sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, máy móc hiện đại, công nghệ
tiến bộ được sử dụng rộng rãi nên khối lượng giá trị thặng dư được tạo ra chủ
yếu do tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động có đặc điểm là chi
phí lao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm vì bị máy móc hiện đại thay
thế; đồng thời cũng làm giảm một cách tuyệt đối chi phí lao động quá khứ trong
một đơn vị sản phẩm. Nó cũng gây ra sự biến đổi lớn trong cơ cấu lao động xã
hội ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển: do cơ sở công nghệ mới, sản xuất
phát triển theo chiều sâu, lao động phức tạp tăng lên và thay thế lao động giản
đơn khiến nhân cách sáng tạo của lao động làm thuê được chú trọng. Lao động
trí óc, lao động có trình độ kĩ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong
việc sản xuất giá trị thặng dư. Chính tầng lớp công nhân này đem lại tỷ suất giá
trị thặng dư tăng lên cho các nhà tư bản.
con đường của mình để xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Riêng với nước
ta, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa từ chế độ phong
kiến, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, xuất phát điểm là một nền kinh
tế nghèo nàn lạc hậu, chủ yếu là dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra là phải
từng bước xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, chúng
ta phải học tập những thành tựu mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được, trong đó quan
tâm đặc biệt đến quy luật kinh tế cơ bản của nó là quy luật giá trị thặng dư, sửa
chữa quan niệm sai lầm trước kia xây dựng nền kinh tế tự cấp khép kín, kế
hoạch hoá tập trung. Ngày nay chúng ta thực hiện chính sách kinh tế mới:
chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy nên hiểu như
thế nào cho đúng?
1.2. Hiểu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thuật ngữ được sử dụng là kinh tế hàng hóa: nền kinh tế hàng hóa là một
nền kinh tế mà trong đó hầu hết các quan hệ kinh tế được thực hiện trên thị
trường dưới hình thái hàng hoá. Chúng ta đã xoá bỏ chế độ bao cấp, tem phiếu.
Ngày nay, quan hệ trên thị trường Việt Nam là quan hệ trao đổi hàng hoá-tiền
tệ. iệt Nam đã mở cửa nền kinh tế, cho phép cơ chế thị trường hoạt động. Cơ
chế thị trường là những nhân tố, biện pháp, quan hệ, công cụ mà nhà nước sử
dụng để tác động đến nền kinh tế thị trường để nó vận động theo những quy luật
vốn có của nó nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kì
nhất định. Trong cơ chế thị trường mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá.
Trước đây, sự hoạt động của nền kinh tế chịu sự quản lí, điều tiết của nhà nước
từ vĩ mô đến vi mô, nhiều chính sách không phù hợp với quy luật vận động của
nền kinh tế đã làm cho kinh tế trì trệ, chậm phát triển. Công nhận cơ chế thị
trường và ủng hộ cho kinh tế phát triển tự do theo những quy luật vốn có của nó
thì mới có thể phát triển được kinh tế.
Tuy nhiên, nếu để cơ chế thị trường tự do hoạt động thì sẽ làm chệch
hướng kinh tế thị trường theo chủ nghĩa xã hội.
Từ những đặc điểm trên cho thấy trong chính sách phát triển kinh tế của
nhà nước ta đã cho phép sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư - quy luật
kinh tế căn bản tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Trước đây khi nền kinh tế vận
hành theo kế hoạch hoá tập trung, làm việc tập thể, làm chung hưởng chung,
phân phối bình quân, không thừa nhận sở hữu tư nhân và tư hữu. Vì vậy rõ ràng
quy luật giá trị thặng dư không tồn tại. Sự hoạt động của quy luật này ở nước ta
tác động tới các lĩnh vực của sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, ở đây chỉ
xin đề cập đến ý nghĩa thực tiễn của quy luật giá trị thặng dư với việc quản lý
các doanh nghiệp.
3. Tác dụng của quy luật giá trị thặng dư trong quản lý các doanh nghiệp
nước ta:
.3.1. Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp phổ biến ở nước ta:
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc các đoàn thể hoặc
tư nhân đầu tư vốn thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Hiện nay trong nước ta tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp như saư: bao
gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các công ty, các hợp tác
xã…Trong đó doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, các doanh nghiệp tư
nhân đang tăng lên cả số lượng và vai trò, các loại hình công ty rất đa dạng.
Sự tác động của quy luật giá trị thặng dư tới công tác quản lý trong các
loại hình doanh nghiệp khác nhau rất khác nhau:
3.2. Giá trị thặng dư trong quản lý doanh nghiệp tư nhân:
Việc vận dụng quy luật giá trị thặng dư đã đem lại những thành tựu to lớn
trong công tác quản lý trong các doanh nghiệp tư nhân mà chủ yếu là các doanh
nghiệp tư bản tư nhân dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất và có sự bóc lột lao động làm thuê. Tuy mới chỉ bước đầu làm
quen và ứng dụng quy luật giá trị thặng dư nhưng cũng đã tạo ra những bước
cho đất nước. Nhưng lợi ích quốc gia phải đặt trên lợi ích cá nhân thì mới có cơ
sở vững chắc để mọi người cùng xây dựng. Vì vậy tình trạng tham ô, tham
nhũng, quản lý kém hiệu quả gây ra thua lỗ hàng tỷ đồng ngân sách nhà nước
đã là tình trạng diễn ra phổ biến.
So sánh như vậy để khi nêu ra thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay sau
khi có sự xâm nhập của quy luật giá trị thặng dư trong hoạt động kinh tế đã có
những chuyển biến ra sao và giúp chúng ta nhìn thấy rõ hơn tác động của quy
luật giá trị thặng dư trong công tác quản lý các doanh nghiệp nước ta hiện nay.
Trước hết quy luật giá trị thặng dư phát huy vai trò của nó một cách rõ nét
nhất trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Nhà
nước ta đã công nhận thành phần kinh tế này là một trong những thành phần
kinh tế được phép tồn tại hoạt động trong nền kinh tế Việt Nam. Đặc thù của
các doanh nghiệp tư bản tư nhân là nó mang đầy đủ tính chất của một doanh
nghiệp trong chủ nghĩa tư bản. Chủ doanh nghiệp là các cá nhân, các nhà tư
bản. Họ nắm tư bản trong tay và sử dụng tư bản của mình trong sản xuất kinh
doanh ở các lĩnh vực nhằm thu lại lượng tư bản lớn hơn số vốn họ bỏ ra. Các
doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân tức là không bị ràng buộc
của pháp luật quy định về vốn góp tối thiểu để thành lập doanh nghiệp và về
nhân sự. Sở dĩ có điều này vì nhà nước ta đã công nhận sở hữu tư nhân (tư hữu)
và đề cao lợi ích cá nhân. Những người này được gọi là các nhà tư bản. Họ
dùng tư bản mua đầu vào sản xuất từ máy móc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật
liệu cho đến việc thuê lao động để sản xuất và trả lương. Số lượng vốn góp vào
doanh nghiệp nhiều, ít là do chủ doanh nghiệp quyết định. Lãi hưởng toàn bộ
còn lỗ cũng phải chịu trách nhiệm toàn bộ. Hoạt động của họ dựa trên quy luật
giá trị thặng dư: cái làm cho tư bản của họ tăng lên chính là giá trị thặng dư mà
họ chiếm của người công nhân làm thuê. Mục đích của họ là làm sao cho giá trị
thặng dư mà họ chiếm được ngày càng nhiều lên đáng kể. Vì vậy công tác quản
lý là một hoạt động quan trọng. Họ trực tiếp quản lý hoặc thuê các nhà quản lý
lao động không công nhất định và làm giá trị sức lao động giảm. Phẩm chất của
người lao động Việt Nam là cần cù chịu khó và chịu được những công việc
nặng nhọc với mức lương thấp do đời sống còn khó khăn. Vì vậy khối lượng giá
trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm là rất lớn. Người ta thường nói lao động cật
lực là cái giá phải trả cho mức lương cao hơn khi làm việc cho các doanh
nghiệp tư nhân. Có làm việc hiệu quả họ mới có chỗ đứng, có khả năng bám trụ
và hưởng lương cao.
Ta không thể phủ nhận quy luật giá trị thặng dư đã cải thiện hoàn toàn
công tác quản lý bằng những gì nó thể hiện trong các doanh nghiệp tư bản tư
nhân. Mục đích là giá trị thặng dư đã kích thích cải tiến kỹ thuật và công nghệ,
nâng cao trình độ phân công lao động, tăng năng suất lao động, phát triển lực
lượng sản xuất, tạo ra công ăn việc làm, thu nhập cao và khối lượng sản phẩm
lớn cho xã hội.
Với mục đích không ngừng nâng cao khối lượng giá trị thặng dư các nhà tư
bản đã vận dụng nhiều cung cách quản lý khác nhau, trong đó vận dụng kĩ thuật
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối, giá trị thặng dư
siêu ngạch. ở nước ta chủ yếu hiện giờ là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Nguyên nhân là do trình độ kĩ thuật còn lạc hậu, công nghệ yếu kém nên khả
năng nâng cao năng suất lao động rất hạn chế. Hơn nữa do nguồn nhân lực rất
dồi dào nên có nhiều khả năng và dễ dàng hơn khi tăng thời gian lao động. Các
chủ tư bản thường yêu cầu công nhân làm việc thêm giờ, làm ca ba, ban đêm.
Tình trạng này rất phổ biến ở nước ta. Đối với các doanh nghiệp cá thể thì
người chủ kéo dài thời gian lao động của bản thân họ.
Tuy nhiên sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong trong các
doanh nghiệp tư bản tư nhân nước ta là khác biệt so với các doanh nghiệp của
chủ nghĩa tư bản. Sở dĩ như vậy là do có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước
nên quy luật này không gây ra những tác hại nghiêm trọng như dưới chủ nghĩa
nhưng mọi doanh nghiệp đều nỗ lực tìm kiếm phương thức cải tiến, sử dụng kĩ
thuật mới cho hiệu quả sản xuất cao hơn.
Sự hoạt động của các doanh nghiệp tư bản tư nhân chịu nhiều sự can thiệp,
giám sát của nhà nước. Nhà nước chỉ cho phép các doanh nghiệp tư nhân quy
mô vừa và nhỏ hoạt động. Các doanh nghiệp lớn phần lớn là doanh nghiệp của
nhà nước hoặc liên doanh giữa tư bản với nhà nước. Đây là thành phần kinh tế
tư bản nhà nước.
3.3. Doanh nghiệp tư bản nhà nước.
Mở rộng ra bên công việc quản lý giá trị thặng dư hoạt động một cách rõ
rệt trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân. Những ảnh hưởng của nó tới tất cả
các thành phần, đơn vị doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tới tất cả nền kinh tế.
Một hình thức kết hợp tư bản với nhà nước là thành phần kinh tế tư bản
nhà nước trong đó có sự can thiệp của nhà nước vào các doanh nghiệp tư bản
trong nước và nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Thường các doanh
nghiệp tư bản nhà nước có quy mô lớn hơn rất nhiều so với doanh nghiệp tư bản
tư nhân. Nếu với các doanh nghiệp tư bản tư nhân Nhà nước chỉ quản lý ở cấp
vĩ mô bằng các chính sách thì đối với các doanh nghiệp tư bản nhà nước Nhà
nước là một thành viên quản lý trực tiếp của doanh nghiệp. Thành phần kinh tế
này tồn tại chủ yếu dưới hình thức các doanh nghiệp liên doanh.
Có thể cả nhà nước và tư bản góp vốn khi nhà nước cần huy động thêm
vốn từ tư bản cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể vốn là của các nhà
tư bản đóng góp, còn nhà nước đóng góp về danh nghĩa hay bất động sản, tài
nguyên thiên nhiên đất nước , những tài sản lớn thuộc sở hữu toàn dân.
Trong các doanh nghiệp liên doanh này tất nhiên không thể tồn tại cung
cách quản lý kém hiệu quả cũ mà đòi hỏi một cơ chế quản lý thông thoáng và
hiệu quả hơn nhiều, đảm bảo sự cộng tác lâu dài. Các nhà tư bản khi đầu tư tư
bản cái mà họ muốn thu về là lợi nhuận. Nhà nước liên doanh với các nhà tư