ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son
đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng.Trong nhiều văn kiện
của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được
khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Tại Đại hội IX của Đảng, khi
tổng kết những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới, Báo cáo chính trị đã chỉ
rõ bài học thứ nhất là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh”. Sự lựa chọn của Đảng ta, của nhân dân ta là hoàn toàn chính
xác.
Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến
thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược
nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các
cuộc nổi dậy khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân
dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào
Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi
nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp
thẳng tay đàn áp và thất bại.
Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng
trở nên là yêu cầu cơ bản, cấp bách. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam
khi ấy ở trong “tình hình đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường
nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?
1
Nhưng rồi chính lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch
ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác
khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp
hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người. Và người đào
huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền
đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa
xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan; xét về
lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu
thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện
cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng
của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất
quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.
Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc
theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến
và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn
chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình
thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các
quan hệ đối kháng giai cấp.
Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong việc giải quyết vấn
đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn
liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc
theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là:
Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối
ngoại; xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân
tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và
3
bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia – dân tộc nào phải do quốc gia – dân tộc
đó giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp,
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội
xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế
độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở
kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về
tinh thần, ý thức và tư tưởng. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới
đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sớm nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vấn đề
dân tộc bao giờ cũng mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp đều có quan điểm riêng
về vấn đề dân tộc. Vào những thế kỷ XVI, XVII, XVIII, dân tộc gắn với giai
cấp tư sản. Lúc đó, giai cấp tư sản giương cao ngọn cờ dân tộc chống chế độ
phong kiến lỗi thời. Thắng lợi của phong trào dân tộc lúc đó là thắng lợi của
chủ nghĩa dân tộc tư sản, thắng lợi của chủ nghĩa tư bản. Khi chủ nghĩa tư bản
chuyển sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản chẳng những là kẻ bóc
lột nhân dân trong nước, mà còn là kẻ thống trị, áp bức, bóc lột lớn nhất đối
với nhiều dân tộc trên thế giới. Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng
Mười, giai cấp công nhân, đại biểu cho phương thức sản xuất mới, phương
thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, là giai cấp duy nhất có khả nǎng giải quyết
vấn đề dân tộc, kết hợp đúng đắn lợi ích giai cấp với lợi ích chân chính của
dân tộc. Ngày nay, dân tộc gắn liền với giai cấp công nhân, với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Nước ta cũng chịu sự tác động của xu thế chung đó.
Xác định đúng địa vị lịch sử của giai cấp công nhân là điều kiện cốt yếu để
kết hợp yếu tố dân tộc với yếu tố giai cấp theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sớm điều đó. Trong bài báo
5
Cuộc kháng Pháp, Người viết: Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải
phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của
chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới". Vào những nǎm 20 của thế kỷ
này, ở Việt Nam đã có cuộc đấu tranh giữa tổ chức tiền thân của Đảng với
phong trào yêu nước mang tư tưởng quốc gia về đường lối cách mạng giải
phóng dân tộc. Nhận rõ nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước
chống Pháp dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu và các lãnh tụ nông dân, biết
những hạn chế của những cuộc cách mạng dân chủ tư sản, hơn nữa với sức
mạnh thuyết phục của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng kiểu
mới, qua cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa quốc gia, phần
lớn hội viên, đảng viên của Tâm Tâm Xã, Tân Việt đã hǎng hái tiếp thu tư
nhân. Sức mạnh của cách mạng dân tộc dân chủ bắt nguồn từ những nhân tố
đó và chính những nhân tố đó giữ vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng.
Đường lối nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng
đã khắc phục những hạn chế của nhiều nhà yêu nước trước đây là chưa thấy
rõ con đường tiến lên của dân tộc. Chính hạn chế đó là một trong những
nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào giải phóng dân tộc kiểu cũ ở
nước ta. Nhiệm vụ dân tộc dân chủ được giải quyết càng triệt để thì những
điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội càng được tạo ra đầy đủ. Bởi vì, như
Lênin nói, "không thể có một chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực
hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản cũng không thể nào chuẩn bị để chiến
thắng giai cấp tư sản được nếu nó không tiến hành một cuộc đấu tranh toàn
diện, triệt để và cách mạng để giành dân chủ". Giải quyết mối quan hệ giữa
hai giai đoạn cách mạng là một vấn đề quan trọng nhưng chưa phải là vấn đề
khó nhất. Việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm
vụ chống phong kiến để có thể phát huy cao độ yếu tố dân tộc mới là vấn đề
phức tạp. Đảng phải mất một thời gian tương đối dài mới đạt được sự nhất trí
7
cao. Về mặt chiến lược, nhiều vǎn kiện của Đảng viết: Dưới thời Pháp thuộc,
xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ
nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giai
cấp địa chủ phong kiến. Cụ thể hơn, Đảng nhận định nước ta là nước nông
nghiệp, nông dân chiếm hơn 90% số dân, chủ nghĩa đế quốc dựa vào chế độ
phong kiến để bóc lột nhân dân, chủ yếu là bóc lột nông dân. Nguyện vọng
tha thiết và trực tiếp của nông dân là dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Từ
sự phân tích trên, Đảng vạch rõ cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến
lược: đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược và thống trị, giành độc lập dân tộc, xoá
bỏ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân. Hai nhiệm vụ đó phải
được tiến hành khǎng khít với nhau, không được tách rời. Đó là tư tưởng
đúng đắn. Về chỉ đạo chiến lược, Đảng phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc
lên hàng đầu, với khẩu hiệu "Tổ quốc trên hết" để phát huy cao độ sức mạnh
phận, giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được". Từ đây, Mặt trận Việt
Minh được thành lập, Mặt trận có lực lượng lớn và ảnh hưởng mạnh, đã góp
phần quan trọng vào việc phát động cuộc Tổng khởi nghĩa mang tính toàn dân
dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, tiếp đến Mặt trận Liên Việt,
một trong những lực lượng bảo vệ thắng lợi chính quyền non trẻ và là cơ sở
của cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn chống thực dân Pháp xâm lược. Để
phản ánh đúng tư tưởng chiến lược về tính không tách rời của hai nhiệm vụ
chống đế quốc và phong kiến, phản ánh nhận thức của Đảng muốn giữ quyền
lãnh đạo dân tộc phải thực hiện những yêu cầu dân chủ đối với nông dân, Đại
hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951) đã định rõ "nhiệm vụ giải phóng
dân tộc bao gồm nhiệm vụ phản phong kiến", và thay khái niệm "cách mạng
tư sản dân quyền" bằng khái niệm "cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân".
Nhận thức của Đảng đã rõ ràng. Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện,
Đảng đã phạm sai lầm hữu khuynh, có lúc quá chú trọng tranh thủ tầng lớp
9
trên, coi nhẹ phát triển lực lượng công nhân, và sai lầm tả khuynh trong cải
cách ruộng đất. Từ những thành công cũng như sai lầm nghiêm trọng dù là
tạm thời, Đảng đã rút ra bài học quan trọng về mối quan hệ giữa chiến lược và
sự chỉ đạo chiến lược. Đó là: "nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc và
dân chủ với hai khẩu hiệu chiến lược "dân tộc độc lập" và "người cày có
ruộng", Đảng ta đã lôi cuốn được đông đảo nông dân đi theo giai cấp công
nhân, động viên được các tầng lớp nhân dân khác cùng với công, nông bước
lên trận tuyến cách mạng chống đế quốc và phong kiến. Trong quá trình cách
mạng, những nhiệm vụ chiến lược đó đã được cụ thể hoá bằng những mục
tiêu thích hợp với từng thời kỳ, dựa trên sự phân tích những mối quan hệ giai
cấp cụ thể và khả nǎng phân hoá hàng ngũ kẻ thù đế quốc và phong kiến,
nhằm tập trung ngọn lửa cách mạng vào kẻ thù nguy hại nhất trong từng lúc
một. Song, dù ở bất cứ thời kỳ nào, những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị cụ
thể do Đảng đề ra, về cơ bản đều bao hàm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ,
về cơ bản đều gắn liền hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến".
độc lập và dân chủ trong cả nước. Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ
mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau". Về vị trí chiến lược
cách mạng của từng miền, Đảng ta xác định miền Bắc xã hội chủ nghĩa giữ
vai trò quyết định nhất của sự nghiệp cách mạng cả nước và sự nghiệp đấu
tranh thống nhất nước nhà, còn cách mạng miền Nam giữ vai trò quyết định
trực tiếp đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai. Thông qua thực hiện nhiệm vụ cách
mạng ở mỗi miền mà góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của cả nước là
hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước. Bởi vậy, Đảng ta coi quan điểm chờ
miền Nam hoàn toàn giải phóng, rồi cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội là
không đúng. Đường lối trên biểu hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo của
Đảng ta. Lý luận cũng như thực tiễn chứng minh đường lối tiến hành đồng
thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền là đúng đắn. Hai chiến
11
lược đó chẳng những không mâu thuẫn mà còn hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng
phát triển. Quá trình chỉ đạo cách mạng ở hai miền cũng là quá trình Đảng ta
cụ thể hoá thêm tư tưởng chiến lược của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ III. Trong khi đề ra nhiệm vụ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, Đảng không chỉ cǎn cứ vào tình hình miền Bắc, mà còn cǎn cứ cả
vào tình hình miền Nam. Đảng đề ra những chủ trương chẳng những đáp ứng
nguyện vọng của nhân dân miền Bắc, nhân dân miền Nam, mà còn tranh thủ
được sự đồng tình ủng hộ của tầng lớp trên ở miền Nam có tinh thần dân tộc,
mở rộng mặt trận dân tộc giải phóng. Bằng công cuộc xây dựng kinh tế - xã
hội ở miền Bắc, vừa bảo đảm đời sống cho nhân dân miền Bắc, vừa tǎng
cường lực lượng làm hậu thuẫn và chi viện cho cách mạng miền Nam. Đảng
lãnh đạo nhân dân miền Bắc phối hợp với nhân dân miền Nam đấu tranh
chống những thủ đoạn xâm lược, chiến tranh chống phá của đế quốc Mỹ ở
miền Nam và cả ở miền Bắc. Đảng giáo dục nhân dân miền Nam nhận rõ vị
trí quan trọng của cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam là: trực tiếp làm
thất bại mọi chính sách xâm lược và nô dịch của đế quốc Mỹ và góp phần
tích cực bảo vệ miền Bắc, bảo vệ cǎn cứ địa cách mạng của cả nước, tạo điều
gọi: "Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam
ruột thịt". Hai là, cuối nǎm 1965, khi quân viễn chinh Mỹ ồ ạt vào miền Nam,
Nghị quyết lần thứ 12 của Trung ương Đảng nêu cao quyết tâm giữ vững
chiến lược tiến công, giữ thế chủ động trên chiến trường và nhất là kiềm chế
và thắng địch ở miền Nam. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước cho phép Đảng ta rút ra những kết luận quan trọng: - "Thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của cả hai chiến lược cách
mạng được tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ với nhau". - Cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát
triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất
13
nước nhà. Đảng khẳng định: "Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa,
suốt mười sáu nǎm qua, luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến
lược". Dù có những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình chỉ đạo thực hiện do
hạn chế lịch sử, chúng ta vẫn thấy kết luận trên của Đảng là thoả đáng. Đảng
cũng kết luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có tác dụng
quyết định trực tiếp đối với việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay
sai. Đi đôi với việc coi trọng củng cố và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc,
nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, Đảng hết sức coi
trọng việc xây dựng và phát triển thực lực cách mạng ở miền Nam. Nhờ
đường lối cứu nước đúng đắn, tinh thần hy sinh anh dũng của đông đảo cán
bộ, đảng viên và nhân dân, Đảng ta đã phát huy cao độ nghị lực chiến đấu phi
thường và sức sáng tạo vô tận của nhân dân ta, khai thác những tinh hoa
trong truyền thống bốn nghìn nǎm của dân tộc. Từ việc giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo
một loạt vấn đề lớn như đẩy mạnh cách mạng và bảo vệ hoà bình thế giới, ở
khu vực và hoà bình tương đối ở ngay miền Bắc; giữa tiến công và bảo vệ ;
bác bỏ những quan điểm hữu khuynh và phiêu lưu. Đảng ta có khả nǎng và
có điều kiện giải quyết vấn đề trên do đã từng hoạt động trong những hoàn
của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, sự bắt đầu của thời kỳ thực hiện
nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản ". Tất nhiên, việc chuyển cách
mạng sang giai đoạn mới và việc xây dựng chủ nghĩa xã hội với quy mô lớn
không đồng nghĩa với nhau. Những nǎm gần đây, tình hình quốc tế chuyển
biến rất phức tạp. Trước sau như một, Đảng ta và nhân dân ta kiên trì con
đường xã hội chủ nghĩa và nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự
nghiệp đổi mới. Đại hội lần thứ VII của Đảng nêu quyết tâm: "Toàn Đảng,
toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Bởi
15
vì: "Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và
chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc". Để thực
hiện quyết tâm đó, việc làm đầu tiên của Đảng là đánh giá một cách khách
quan những thuận lợi và khó khǎn của tình hình đất nước và tình hình thế
giới. Đảng phải mất một thời gian mới đi đến những nhận định tương đối đầy
đủ. Sức mạnh của thời đại trong giai đoạn hiện nay là sức mạnh của quy luật
tiến hoá lịch sử; là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại; là xu thế
quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới; là các lực lượng đấu tranh cho hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, v.v Loài người cuối cùng nhất
định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, dù lịch sử thế giới đang trải qua những bước
quanh co. Sức mạnh của dân tộc là: chính quyền thuộc về nhân dân; nước nhà
đi vào giai đoạn hoà bình xây dựng; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý
chí vươn lên mãnh liệt, nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao
động và sáng tạo; chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở vật chất ban đầu;
tài nguyên thiên nhiên nước ta tương đối phong phú, đa dạng; nước ta ở vào
khu vực phát triển kinh tế nǎng động, lại nằm trên các tuyến giao thông quốc
tế quan trọng. Đại hội lần thứ VII của Đảng đã xác định mục tiêu và giải pháp
chiến lược, những điều kiện tiên quyết để biến tiềm nǎng thành hiện thực,
trong đó có nhiều điểm đổi mới phải quán triệt. Phát triển một nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở
Lênin, chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân tộc sôvanh. Nhờ lực lượng
hùng hậu do đường lối này đưa lại, quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã
giành được thắng lợi trọn vẹn trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Ngày nay, tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với
nội dung mới, Đảng sẽ tiếp tục tạo ra lực lượng lớn mạnh bảo đảm cho Đảng
17
làm tròn nhiệm vụ lịch sử trong giai đoạn cách mạng hiện nay là xây dựng
thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Qua nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ Quốc, đặc biệt 15 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng
sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tín độc lập tự chủ trong mọi đường lối,
chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn,
đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và trên thế giới.Độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu,
là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm
tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội
là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của
cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến
động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của
cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với
xu thế toàn cầu hoá, thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý
thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp với
xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn
hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ Quốc, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh
vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.
18