những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác-lênin (phần 2) - Pdf 10

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (phần 2)
Đề 1:
1) a) Thế nào là giá trị hàng hóa? b) Vì sao nói giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ
sản xuất xã hội?
2) Nhà nước ta đã làm gì để chống suy thoái kinh tế hiện nay. Hãy cho biết những
mặt đã làm được và những hạn chế, cho hướng giả quyết.
Bài làm:
1)
a) Muốn hiểu được giá trị hàng hóa trước hết phải đi từ giá trị trao đổi (giá tri troa đổi
biểu hiện ra như một quan hệ về số lượng, là một tỉ lệ theo đó những giá trị sử dụng
loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác).
Sở dĩ hai hàng hóa khác nhau lại có thể trao đổi được cho nhau, bởi vì giữa những
hàng hóa khác nhau đó có cái gì đó chung. Các giá trị trao đổi khác nhau phải được
quy thành cái chung đó, và mỗi giá trị trao đổi đều đại biểu cho một lượng nhiều hay ít
của cái chung ấy.
Vậy cái chung ấy phải chăng là giá trị sử dụng của hàng hóa?
Mác viết: “Nét đặc trưng của quan hệ trao đổi hàng hóa chính là việc phải tạm gạt
giá trị hàng hóa sang một bên”.
Nếu không phải là giá trị sử dụng, thì cái gì là chung cho mọi giá trị trao đổi?
Mác chỉ rõ: “Nếu gạt giá trị sử dụng hàng hóa của vật thể sang một bên, thì vật thể
hàng hóa chỉ còn một thuộc tính mà thôi, cụ thể là: chúng là sản phẩm của lao đông”.
Như vậy một khi không kể đến giá trị sử dụng của hàng hóa, nó chỉ còn lại có tính
chất chung của các thứ lao động khác nhau, đó là sự hao phí lao động của con người.
Vì vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động của
mình ẩn dấu trong hàng hóa ấy. chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở
chung của việc trao đổi và nó trở thành giá trị của hàng hóa.
Vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội cảu người sản xuất kết tinh trong
hàng hóa, còn giá trị trao đổi chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hóa.
b) Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ rang buộc lẫn nhau. Trong
đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu
hiện của giá trị ra bên ngoài. Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất

xã hội.
 Tuy tác động khác nhau đến với từng quốc gia và khu vực và phụ thuộc vào
mức độ liên kết, vào thị trường và khả năng nội lực của nền kinh tế cũng như
những chính sách đối phó và xử lý khi khủng hoảng xảy ra của mỗi nước Châu
Á và khu vực ASEAN
2
 Nhìn chung tác động có mức độ không như các khu vực phát triển có thể thoát
ra nhanh hơn.
Ảnh hưởng đến Việt Nam, dấu hiệu suy giảm đã rõ, tác động trực tiếp đến sản xuất
kinh doanh, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đầu tư và việc làm của người lao động.
 Những hoạt động ảnh hưởng ngay như doanh số giảm do doanh nghiệp không tiêu
thụ được hàng hoá (xuất khẩu thấp, giá hạ; tiêu dùng trong nước không tăng do đời
sống thu hẹp, xã hội giảm nhu cầu mua sắm);
 Lãi xuất tăng vọt làm chi phí giá thành tăng, nợ quá hạn, nợ xấu dềnh lên.
 Hệ thống tài chính ngân sách nguồn thu giảm rõ rệt qua lãi doanh nghiệp và thuế
của dân và tổ chức kinh tế giảm.
 Các chi phí cho hỗ trợ an sinh xã hội tăng.
 Bội chi ngân sách vượt khỏi tầm kiểm soát và khả năng cân đối của nền tài chính
thị trường chứng khoán giảm sút nghiêm trọng và gây rủi ro cho dân và cho hệ
thống kinh doanh chứng khoán và nhà đầu tư kể cả trong và ngoài nước.
 Thị trường Bất động sản đóng băng, thị trường lao động bất ổn, việc làm giảm một
số lao động ở các khu công nghiệp phải về nông thôn và tìm việc làm mới.
 giá trị sản xuất công nghiệp giảm, xuất khẩu giảm liên tục, dịch vụ (du lịch, vận tải,
xây dựng tổng mức luân chuyển hàng hóa, nông nghiệp giảm rõ rệt), thu ngân
sách giảm… chiều hướng hầu hết các chỉ tiêu phát triển kinh tế tiếp tục suy giảm,
ảnh hưởng lớn đến thu nhập và đời sống của người dân.
(Từ giữa năm 2007, đặc biệt là từ đầu năm 2008, do chịu tác động mạnh mẽ của cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế nước ta đã rơi vào tình
trạng lạm phát cao, giá cả tăng vọt và suy giảm kinh tế ngày càng sâu. Lạm phát lúc
cao nhất lên tới trên 22%, tốc độ tăng trưởng GDP tụt giảm mạnh, từ 8,23% năm 2006

trọng và đầu tư nhà ở cho người nghèo, đồng thời hoàn thiện các văn bản pháp lý
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nhất là
các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và thu hút nhiều lao động.
+ Cơ cấu lại xuất nhập khẩu, cao hơn là điều chỉnh mô hình kinh tế định hướng
xuất khẩu. Theo đó không nên tiếp tục xuất khẩu bằng mọi giá mà cần quan tâm đến
chất lượng và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Trước mắt, kim ngạch xuất khẩu có thể giảm nhưng bù lại, cơ cấu mặt hàng và cơ cấu
thị trường sẽ được tính toán lại cho mục tiêu dài hạn hơn, phục vụ thị trường nội địa
bền vững hơn. Một mặt, giảm nhập khẩu những nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, mà
nên thay thế bằng những hàng hoá, dịch vụ trong nước có khả năng thay thế được. Mặt
khác, linh doạt vận dụng chính sách thuế quan và thuế tiêu thụ đặc biệt để yêu cầu các
doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh và điều tiết thu nhập của nhóm
người có thu nhập cao tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ cao cấp, đắt tiền và phần lớn
là nhập khẩu và để tránh tăng thâm hụt cán cân thương mại và cán cân vãng lai.
+ Đối với chi đầu tư trực tiếp từ Ngân sách nhà nước và chi tín dụng ưu đãi của
Nhà nước, một mặt cần lựa chọn các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng,
có hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, tạo ra nhiều việc làm; mặt khác, sự đầu tư Nhà
nước cần hướng vào phát triển con người, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực để
4
thông qua đó người lao động có việc làm, có thu nhập thì mới phát triển được thị
trường trong nước bền vững.
Những mặt đã làm được của nhà nước để chống suy thoái
Dù các nước chịu tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu,
Việt Nam vẫn là nước phục hồi nhanh và bước đầu phát triển trở lại. Đó là kết
quả vào cuộc quyết liệt của toàn xã hội, trong đó vai trò quản lý Nhà nước đóng
vai trò then chốt.
- Nhờ các giải pháp chính sách kịp thời và mạnh mẽ, Việt Nam đã vượt qua suy thoái
kinh tế toàn cầu và dự kiến tăng trưởng cao hơn vào năm 2010 - 2011. Lạm phát dự
báo ở mức trung bình 10%.
- Với chính sách tài khóa thắt chặt nhằm đạt mục tiêu hạn chế thâm hụt tài khóa 8,3%

chính sách tiền tệ sẽ siết chặt một số khách hàng vay, có thể dẫn đến sự gia tăng
các khoản nợ xấu, gây thêm căng thẳng trong hệ thống ngân hàng.
- Quản lý sự giảm sút tăng trưởng tín dụng và cung tiền thông qua việc tăng lãi
suất một cách thiếu trật tự và tình trạng thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân
hàng.
- Cùng với đó là xu hướng giá cả tăng lên, và nếu hiệu quả của nền kinh tế Việt
Nam không được cải thiện , lạm phát có thể quay trở lại. Lạm phát sẽ làm cho
người nghèo phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất và những kỳ vọng về phá giá sẽ
không khích lệ được luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài vốn là động lực của tăng
trưởng kinh tế nhanh. Đây là những khó khăn chúng ta cần lường trước và dùng
sức mạnh kinh tế cùng những thuận lợi, thời cơ để có những bước phát triển.
- Hiệu quả đầu tư của chúng ta là chưa cao. Mô hình phát triển bền vững thì đúng
là đang phải tìm tòi. Trình độ quản lý, kinh nghiệm, đầu tư có tính đồng bộ, quy
hoạch của chúng ta chưa thật khoa học. Chúng ta đầu tư đơn lẻ, đầu tư từng bộ
phận, đầu tư từng công trình một thì hiệu quả chưa thể cao được, nhưng cũng
không thể không đầu tư. (Tuy hiệu quả đầu tư của chúng ta dù chưa cao nhưng
tác dụng của nó ngày càng lớn, ví dụ như các nhà máy điện, nhà máy xi măng,
nhà máy lọc dầu, đường sá, cầu cống, bến cảng… Hiệu quả so sánh thì chưa
cao nhưng hiệu quả về mặt xã hội vẫn được phát huy rất tốt).
- Về mô hình phát triển thì phải nói rằng, cả thế giới đều nói đến tái cấu trúc.
Thực ra phát triển bền vững ở đây bao hàm rất nhiều ý nghĩa: Làm sao quy
hoạch phải tốt hơn, cơ cấu đầu tư sắp tới để định hướng cơ cấu của nền kinh tế,
ngành nào phát triển, ngành nào là mũi nhọn, rồi đến mức cụ thể hơn là nhà
máy nào, công trình nào được đầu tư tốt…
- Phát triển bền vững bao hàm cả việc phải bảo vệ môi trường, cả cân đối trong
toàn ngành kinh tế. Chúng ta có thể đảm bảo kinh tế vừa hội nhập được nhưng
vẫn có tính độc lập tự chủ cao. Nghĩa là bản thân nền kinh tế phải có sức chịu
đựng, tự khẳng định để hội nhập. Đây là điều mà trong tái cấu trúc chúng ta cần
tính.
- Một yếu tố nữa phải quan tâm đến là xóa đói giảm nghèo, đảm bảo bình ổn xã

nước ta hiện nay là rất quan trọng.
- Trong quản lý điều hành cũng cần thực hiện các biện pháp điều hành kinh tế vĩ mô
linh hoạt, thận trọng đối với chính sách tài chính, tiền tệ, thị trường (vì đây là những
lĩnh vực rất nhạy cảm) để ổn định vĩ mô, ngăn ngừa tái lạm phát, phục vụ mục tiêu
tăng trưởng nhanh và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Tăng cường các giải pháp,
chính sách về tạo việc làm để thu hút hết số lượng lao động vào guồng máy sản xuất
tạo ra của cải cho xã hội và thu nhập cho người lao động, giảm nghèo tới mức thấp
nhất, ổn định đời sống nhân dân.
- Song song với công tác quản lý, điều hành, từng bước tái cấu trúc nền kinh tế theo
phương hướng thiết lập một cơ cấu kinh tế dựa trên công nghệ xanh và giá trị gia tăng
cao, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và thân thiện với môi
trường. Đây là thời điểm cơ hội và thuận lợi nhất để tái cấu trúc nền kinh tế theo
phương hướng trên nhằm phục vụ mục tiêu “vàng” - tăng trưởng nhanh và bền vững
của nền kinh tế Việt Nam sau khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu. Đẩy mạnh cải
cách hành chính, xóa bỏ tất cả các thủ tục hành chính gây phiền hà, sách nhiễu cho
người dân và các đơn vị sản xuất kinh doanh, thực hiện “cơ chế một cửa”; nâng cao
năng lực chỉ đạo và tổ chức thực hiện của bộ máy Nhà nước, đưa chính sách và mục
tiêu thành hiện thực trong cuộc sống.
7
- Một vấn đề cũng rất quan trọng trong thực thi các giải pháp đó chính là phải làm tốt
công tác thông tin, tuyên truyền và phổ biến chủ trương chính sách, tạo sự đồng thuận
cao trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội từ nhận thức đến hành động. Phải
công khai và minh bạch thông tin, làm rõ chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước. Công tác thông tin tuyên truyền phải vì lợi ích của đất nước, của nhân dân và
phải kịp thời bác bỏ những thông tin thất thiệt; tạo ra nhận thức đúng đắn và sự đồng
thuận xã hội cao, hành động theo cùng một hướng. Thời gian qua chúng ta đã ngày
càng làm tốt hơn yêu cầu này, cần làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.
- Có chiến lược có lộ trình hoạt động hướng mạnh vào khai thác thị trường nội địa phát
huy tiềm năng thế mạnh của nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống doanh nghiệp nhỏ và
vừa và kinh tế tư nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status