1 | P a g e
Phần I : NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN
Câu 1: Hãy nêu và phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lênin?
Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó?
Trả lời:
Trong tác phẩm: “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh kiệm phê phán (1906-
1909)” Lê Nin đã phát biểu định nghĩa chủ nghĩa vật chất như sau: “ Vật chất là
một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
Vật chất là một phạm trù triết học?
Lênin cho rằng cần phải phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với
“khái niệm” vật chất của khoa học tự nhiên, nên khi định nghĩa vật chất đối lập với
ý thức là chỉ ra đặc tính chung, phổ biến nhất của vật chất là tồn tại khách quan, để
phân biệt sự khác nhau căn bản giữa vật chất và ý thức.
Vật chất là những gì có thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức
của con người, khi tác động vào giác quan của con người thì sinh ra cảm giác. Vật
chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được ý
thức con người phản ánh. Do đó về nguyên tắc không thể có đối tượng vật chất mà
con người không thể biết mà chỉ có những đối tượng vật chất mà con người chưa
thể nhận thức được.
Từ những phân trích trên có thể khẳng định rằng định nghĩa vật chất của Lê Nin
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Vật chất – cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức không phụ thuộc vào ý thức.
-Vật chất – cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động lên giác quan của con người.
-Vật chất – cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh nó.
2 | P a g e
qua lao động và sinh hoạt xã hội bộ não con người ngày càng hoàn, thiện ý thức
ngày càng phát triển mà không một sinh vật nào có thể so sánh được.
Sự xuất hiện ngôn ngữ trong quá trình lao động đã trở thành phương tiện vật
chất để đáp ứng như cầu khách quan về quan hệ giao tiếp, trao đổi những kinh
nghiệm và tình cảm….Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp
của tư tưởng, là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy của con người.
Bản chất của ý thức là sự phản ánh mang tính tích cực, năng động và sáng tạo. Ý
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não người, nhưng không phải
là sự phản ánh đơn giản, thụ động mà là sự phản ánh mang tính tích cực. Tính năng
động và sáng tạo của ý thức là quá trình cải biến các đối tượng vật chất đã được di
chuyển vào bộ não con người, thành cái tinh thần, cái thánh thể tinh thần.
Ý thức mang tính chất xã hội.
Vai trò của ý thức khoa học:
Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, sự hình thành và phát triển của trí
thức có liên quan mật thiết đến quá trình con người nhận thức về thế giới, tích lũy
những tri thức, sự hiểu biết nói chung. Ngày nay trong sự chuyên môn hóa, tự động
hóa ngày càng cao, tri thức khoa học được kết tinh trong mọi nhân tố của lực lượng
sảnxuất – trong đối tượng lao động – kỹ thuật – quá trình công nghệ và cả trong
hình thức tổ chức tương ứng của sản xuất, người lao động không còn là nhân tố
thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là vân dụng tri thức khoa học
để điều khiển và kiểm tra quá trình sản xuất, hoàn thiện việc quản lí kinh tế…Khoa
học ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thành đối tượng lao động,
thành máy móc thiết bị và phương pháp công nghệ mới, thành các hình thức tổ
chức sản xuất mới, nên tri thức khoa học không thể thiếu được trong các hoạt động
thực tiễn của con người.
4 | P a g e
Câu 3: Trình bày nội dung cơ bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến và nguyên lý về sự phát triển? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận của nó và liên hệ thực tiển của bản thân.
hiện tượng.
Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận
động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính
giai đoạn, tính lịch sử cụ thể. Cho nên khi phân tích toàn diện về mối liên hệ của sự
vật phải đặt nó trong mối liên hệ cụ thể, với điều kiện lịch sử cụ thể của các mối
liên hệ đó.
Liên hệ thực tiễn bản thân:
2.Nguyên lý về sự phát triển:
Khái niệm: không khái quát mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát những
vận động đi lên, sự xuất hiện cái mới theo một chiều hướng chung là từ đơn giản
đến phức tạp, từ cái chưa hoàn thiện đến cái hoàn thiện, từ cái thấp đến cao.
Quan điểm sự biến chứng về sự phát triển: sự phát triển bao gồm sự vận động,
sự xuất hiện cái mới theo chiều hướng đi lên. Tuy nhiên không nên hiểu phát triển
không phải bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, thẳng tắp. Xét từng trường
hợp cá biệt thì có những vận động đi lên tuần tự và đồng thời có những cận động đi
xuống hoặc thụt lùi….Nhưng về quá trình và trong phạm vi rộng lớn thì vận động
đi lên là khuynh hướng tất yếu. Chính vì vậy, phát triển là khuynh hướng chung
của sự vận động của các sự vật và hiện tượng.
Ý nghĩa phương pháp luận:
_Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp ta nhận thức được rằng, muốn nắm
được bản chất của sự vật và hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động của
chúng, phải có quan điểm phát triển.
_Quan điểm phát triển với yêu cầu khi phân tích một sự vật, hiện tượng phải đặt nó
trong sự vận động, phải phát hiện được xu hướng biến đổi, chuyển hóa giữa chúng.
Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới
phù hợp với quy luật, cái mới là tiêu chuẩn của sự phát triển
Liên hệ thực tiễn bản thân:
7 | P a g e
Chiều ngược lại của quy luật:
Quy luật lượng chất không chỉ nói lên một chiều là sự biên đổi về lượng dẫn đến
sự biến đổi về chất mà còn có chiều ngược lại. Đó là quá trình hình thành sự vật
mới, chất mới và chất mới quy định lượng mới của nó. Khi sự vật mới bao hàm
chất mới, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó và trong sự vật mới lặp lại
quá trình thay đổi lượng – chất- sự vật…
Từ những phân tích ở trên có thể rút ra nội dung của quy luật chuyển hóa từ
những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại như sau: Mọi
sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong
khuôn khổ của độ tới điểm sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua
bước nhảy, chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình
tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển biến đổi.
Ý nghĩa của phương pháp luận:
Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển. Do đó, trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất
theo quy luật. Từ đó tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, “đốt nóng
giai đoạn” muốn thực hiện những bước nhảy liên tục.
Khi đã tích lũy đủ về số lượng phải có đủ quyết tâm để thực hiện những bước
nhảy, phải kịp thời chuyển đổi những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất, từ những thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính
chất cách mạng. Chỉ có như vậy chúng ta mới khắc phục đươc những tư tưởng
mang tính chất bảo thủ, trì trệ thường được biểu hiện ở chỗ coi sự phát triển chỉ là
sự thay đổi đơn thuần về lượng.
Trong hoạt động thực tế của chúng ta còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình
thức của bước nhảy. Điều đó phụ thuộc vào việc phân tích đúng đắn những biểu
hiện khách quan và những nhân tố chủ quan cũng như sự hiểu biết sâu sắc về quy
luật này. Tùy từng trường hợp và điều kiện cụ thể chúng ta sẽ lựa chọn hình thức
bước nhảy phù hợp để đạt tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình.
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thực. Mục đích cao nhất của nhận thức không
phải dừng lại để mà nhận thức, mà mục đích cao nhất của nhận thức là để thống trị
sự vật, nghĩa là làm chủ sự vật.
9 | P a g e
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm chứng nhận thức ( chân lý ). Chân lý là nội dung,
những tri thức đúng phù hợp với hiện thực khách quan được thực tiễn kiểm
nghiệm. Vì vậy, thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý, vì thực tiễn là cơ sở để
phát hiện và tìm kiếm chân lý, thực tiễn là khách quan.
2. Phê phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này
Chỉ dẫn của LêNin “không có lực lượng cách mạng thì không có phong trào
cách mạng” . Như vậy vai trò của lý luận được hiểu như sau: lý luận là người dẫn
dắt, định hướng, là kim chỉ nam. Tóm lại : lý luận không xuất phát từ thực tiễn là
lý luận suông.
Thực tiễn mà không có sự dẫn dắt của lý luận là thực tiễn mù quáng.
Từ vai trò quan trọng của lý luận đối với thực tiễn, chúng ta cần phê phán những
quan điểm sai lầm. Không được đề cao thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận để rơi
vào chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm.
Và ngược lại, không được đề cao lý luận đến mức rời xa thực tiễn, sẽ rơi vào
bệnh chủ quan duy ý chí, quan liêu.
Câu 6: Trình bày nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Vận
dụng quy luật này vào thực tiễn cách mạng nước ta?
Trả lời:
Vai trò quyết định của LLSX với QHSX:
LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất chúng tồn tại không tách
rời nhau mà tác động qua lại một cách biện chứng, tạo thành quy luật – quy luật cơ
bản nhất quan trọng nhất của sự vận động phát triển xã hội.
Gắn liền với trình độ của LLSX là tính chất của lực lượng sản xuất. Khi trình độ
kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng SX để xây dựng cơ sở kinh tế XHCN, từng
bước xã hội hóa XHCN. Trong đó kinh tế quốc dân, tập thể bao giờ cũng giữ vai
trò quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay…
11 | P a g e
Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó và phê
phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này?
1.Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xạ hội, do tồn tại xã hội quyết định:
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và
phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
Mỗi khi tồn tại xã hội, nhất là phương thức sản xuất xã hội thay đổi thì những
tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm chính trịnh pháp quyền, đạo đức…
sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo. Vì thế, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau có
những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau. Sự thay đổi của ý thức xã
hội có thể là sự phản ánh đúng, hoặc không đúng đối với tồn tại xã hội, nhưng xét
cho cùng về lâu dài, ý thức xã hội có khả năng phản ánh đúng, đầy đủ và chính xác
đối với quá trình thay đổi của tồn tại xã hội. Vấn đề này đã được Mác khẳng định:
“không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội
của họ quyết định ý thức của họ”
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, không chỉ dừng lại ở việc xác định
nguồn gốc, sự phụ thuộc của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội mà còn chỉ ra rằng
không phải bất cứ tư tưởng, quan điểm, lý luận, hình thái ý thức xã hội nào cũng
phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà xét cho cùng
những quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cahcs này hay cách khác trong những
tư tưởng quan niệm ấy…Bởi vì không chỉ có ý thức chính trị phản ánh trực tiếp,
mà nó còn được phản ánh ở các hình thái ý thức khác, mặt khác trong các hình thái
ý thức xã hội còn bao hàm sự tác động qua lại va bao hàm cả sự kế thừa với quá
khứ.
2.Tính độc lập của ý thức xã hội
Ý thay đổi và phát triển của tồn tại xã hội có khuynh hướng nhanh hơn so với sự
Ý nghĩa phương pháp luận:
Tồn tại tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng
của đời sống xã hội.Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ,xây dựng xã hội mới phải
được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội.Cần thấy
rằng,thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thưc xã hội;mặt
khác cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu
dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại,
13 | P a g e
những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng
có thể tạo ra những bến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội.
Trong sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta, một mặt chúng ta phải coi trọng
cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai trò tác động tích cực của đời sống
tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước; Mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc
xây dựng văn hoá xây dựng con người mới. Cần thấy rằng chỉ có thể thực sự tạo
dựng được đời sống tinh thần của xã hội XHCN trên cơ sở cải tạo triệt để phương
thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một
phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Câu 8: Trình bày quan điểm triết học Mác về con người và bản chất
của con người? Theo anh/ chị chúng ta cần phải làm gì để con người
được phát triển toàn diện?
Trả lời:
Quan điểm của triết học Mác Lênin về con người:
Triết học Mác Lê nin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa các yếu tố sinh học
và các yếu tố xã hội.
Tư Bản Chủ Nghĩa.
Câu 1: Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính cơ bản của hàng hóa
và tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa? Ý nghĩa phương
pháp luận của nó.
Trả lời:
_Khái niệm hàng hóa: hàng hóa là sản phẩm của lao động xã hội,có thể thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
VD: + Hàng hóa vật thể: quần áo, bát đĩa, máy móc….
+ Hàng hóa phi vật thể: dịch vụ du lịch, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ giải trí…
_Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa
Hàng hóa có 2 thuộc tính cơ bản đó là giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị sử dụng: Là công dụng của vật phẩm. VD: cơm để ăn, áo để mặc…Có
thể có một hay nhiều công dụng khác nhau của hàng hóa. Do sự phát triển của KH-
KT nên con người tìm ra rất nhiều công dụng của hàng hóa.
Giá trị sử dụng là một phạm trù lịch sử vì nó do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa
quyết định. Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng đều là hàng hóa.
VD: Không khí,nước suối,quả dại….Một vật muốn tạo thành hàng hóa thì giả thiết
sử dụng của nó phải được sản xuất ra để bán, để trao đổi và có giá trị trao đổi.
Trong nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
Giá trị ( giá trị hàng hóa): Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa thì phải thông
qua một phạm trù không gian đó là giá trị trao đổi. Nó là quan hệ tỷ lệ về lượng
giữa hai giá trị hàng hóa khác nhau nhưng ra thị trường hai người sản xuất chấp
nhận trao đổi cho nhau.
Từ giá trị trao đổi suy ra giá trị là lao động xã hội của con người được kết tinh
trong hàng hóa. Còn giá trị trao đồi là hình thái của giá trị.
16 | P a g e
Nhưng ta thấy được hao phí lao động của con người kết tinh trong hàng hóa
Thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội
cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng
hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình,
trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động xã hội trung bình so với hoàn
cảnh xã hội nhất định.
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa với thời gian lao động
xã hội cá biệt.
_ Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa.
Thứ 1: Năng xuất lao động bao gồm năng xuất lao động cần thiết và năng xuất lao
động xã hội. Trên thị trường hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội. Vì vậy,
năng xuất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng
xuất lao động xã hội.
Năng xuất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược
lại, năng xuất lao động xã hội càng giảm thì thời gian lao động xã hội cần thiết
càng tăng, lượng giá trị một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Như vậy, muốn giảm giá
trị của mỗi đơn vị hàng hóa thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.
Thứ 2: Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá
trị của hàng hóa. Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành
lao động giản đơn và lao động phức tạp. Trong cùng một đơn vị thời gian lao động
như nhau. Lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn, lao
động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp đôi. Để hàng hóa được lao
động giản đơn tạo ra có quan hệ bình đẳng với hàng hóa do lao động phức tạp tạo
ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản
đơn trung bình.
_ Liên hệ với thực tiễn:…………
18 | P a g e
Câu 3: Trình bày nội dung và tác dụng của quy luật giá trị? Ý nghĩa
của phương pháp luận này.
doanh của mình. Họ có những điều kiện khác nhau lên hao phí lao động cá biệt
cũng khác nhau. Để hao phí cá biệt < hao phí lao động xã hội thì phải cải tiến kỹ
thuật, tổ chức quản lý tiết kiệm chặt chẽ tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh
quyết liệt làm cho quá trình này phát triển mạnh mẽ kết quả là LLSXXH được thúc
đẩy mạnh mẽ.
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất thành người giàu
người nghèo.
Khi cạnh tranh thì người có điều kiện thuận lợi có hao phí thấp sẽ phát tài và trở
lên giàu có. Họ trở thành nhà tư bản, họ mua sắm theo tư liệu sản xuất để mở rộng
sản xuất. Ngược lại những người không có điều kiện thì dễ dàng phá sản. khi đó họ
trở thành người đi làm thuê.
Ý nghĩa của quy luật này:
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận
và thự tiễn hết sức to lớn. Một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tư nhiên,
đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Mặt khác phân hóa
xã hội thành kẻ giàu người nghèo tạo ra bất bình đẳng trong xã hội.
Câu 4: Tư bản là gì? Phân tích mâu thuẫn chung của công thức tư
bản?
Trả lời:
_KN: Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không
công của công nhân lao động làm thuê. Như vậy bản chất của nó là thể hiện quan
hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai
cấp công nhân sáng tạo ra.
_ Phân tích mâu thuẫn chung của công thức tư bản:
20 | P a g e
Ta có công thức T-H-T”. TRong đó T”=T+∆T là công thức chung của tư bản. Thực
ra trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì giá trị
cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư.
mà giá trị của nó có nguồn gốc sinh ra giá trị.
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện của sản xuất. Nhưng
không phải trong bất cứ điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hóa. Sức lao động
biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để biến thành tư bản. Tuy nhiên để
biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và tiền tệ phát triển đến một mức độ nhất
định. Như vậy từ sự phân tích trên thì mâu thuẫn của công thức tư bản, của tư bản
đã dần hé mở.
Câu 5: Tại sao nói: Hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết
mâu thuẫn của công thức chung của tư bản?
Trả lời:
_Để trả lời câu hỏi trên, cần trình bày những ý sau:
Hàng hóa sức lao động(SLĐ):
Theo C.Mac: "SLĐ hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần
tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận
dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó". SLĐ là yếu tố cơ bản của
mọi quá trình sản xuất. SLĐ chỉ trở thành hàng hóa khi có 2 điều kiện sau:
- Người LĐ phải là người được tự do về thân thể của mình, phải có khả năng chi
phối SLĐ ấy đến mức có thể bán SLĐ đó trong một thời gian nhất định.
- Người LĐ không còn có TLSX cần thiết để tự mình thực hiện LĐ và cũng không
còn của cải gì khác, muốn sống, chỉ còn cách bán SLĐ cho người khác sử dụng.
Cũng giống như hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị
sử dụng.
- Giá trị của hàng hóa SLĐ cũng bằng lượng LĐ XH cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất ra nó. Nhưng việc sản xuất và tái sản xuất ra SLĐ phải được thực hiện
bằng cách tiêu dùng cho cá nhân. Vì vậy, lượng hàng hóa SLĐ bằng lượng giá trị
22 | P a g e
những tư liệu cần thiết về vật chất và tinh thần để nuôi sống người công nhân và
được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều
kiện thời gian lao động tất yếu không đổi và giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng
phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.
Ví dụ: giả sử ngày lao động là 8h, trong đó 4h là thới gian lao động tất yếu và 4h
là thới gian lao động thặng dư. Do đó tỷ suất giá trị thặng dư là:
m’ = 4/4 x 100% = 100%
Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2h, trong khi thời gian tất yếu
không thay đổi, vẫn là 4h. Khi đó ngày lao động được chia như sau: thời gian lao
động tất yếu là 4h và thời gian lao động thặng dư là 6h.
m’ = 6/4 x 100% = 150%
Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động
tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị
thặng dư tăng lên. Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, thì bây giờ là 150%.
Phương pháp 2: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư
được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu để kéo dài một cách
tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng xuất lao động xã hội
trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Giá trị thặng dư được sản xuất ra
bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối.
Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4h là thời gian lao động
tất yếu và 4h là thời gian lao động thặng dư.do đó tỷ suất giá trị thặng dư là:
m’ = 4/4 x 100% = 100%
Giả định rằng ngày lao động không đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3h
lao động đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của
mình. Do đó tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3h là thời gian lao động tất
yếu và 5h là thời gian lao dộng thặng dư .Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ
là:
m’ = 5/3 x 100% = 166%
24 | P a g e
Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%.
tích lũy tư bản càng lớn.
Quy mô của tư bản ứng trước: Với trình đô bóc lột không thay đổi thì khối
lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả biến quyết định. Do đó quy mô của
tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư
bóc lột được càng lớn, tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản.