HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
THS HOÀNG NGỌC VĨNH
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
THI HẾT HỌC PHẦN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ
DÀNH CHO HỆ VỪA HỌC VỪA LÀM
CỦA HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
HUẾ, 2013
1
Hệ thống ôn tập và thi hết học phần NNLCBCCNMLN gồm có: Học phần
NNLCBCCNMLN (1) và Học phần NNLCBCCNMLN (2). Đề thi mỗi học phần gồm 2 câu,
câu 1 thuộc khối kiến thức 1, câu 2 thuộc khối kiến thức 2. Thời gian làm bài 90 phút không kể
thời gian chép/phát đề. Sinh viên không được sử dụng tài liệu khi làm bài.
I. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (1)
Khối kiến thức 1:
1.1. Triết học là gì? Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
1.2. Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin và ý nghĩa khoa học của định nghĩa
này?
1.3. Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về
chất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động
thực tiễn?
1.4. Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định? Ý nghĩa phương pháp luận của
việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn?
1.5. Phân tích nội dung cặp phạm trù cái chung và cái riêng, từ đó rút ra ý nghĩa phương
pháp luận?
Khối kiến thức 2:
2.1. Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất? Từ đó rút ra ý nghĩa của việc vận dụng quy luật này trong thực
Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo?
HƯỚNG DẪN CHI TIẾT
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNI (1)
KHỐI KIẾN THỨC 1
1.1: Triết học là gì? Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
1. Khái niệm triết học:
“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là trí (bao gồm sự hiểu biết sâu rộng về vũ trụ và
nhân sinh), theo chữ Hy Lạp là “yêu mến sự thông thái”. Khái niệm “triết học” có những biến
đổi nhất định trong lịch sử, nhưng lúc nào cũng bao hàm: yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũ
trụ, về con người và sự giải thích bằng hệ thống tư duy) và yếu tố nhận định (đánh giá về đạo lý
để con người có thái độ và hành động).
Theo quan điểm mác–xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội; là học
thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại, của nhận thức và của thái độ con người đối
với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Đặc điểm nổi bật của triết học là cách nhìn chung về thế giới, là sự nghiên cứu thế giới
xét như một chỉnh thể, cho nên tri thức triết học trước hết là những tri thức phổ quát. Từ cách
xem xét đó, triết học có vai trò giải thích bản chất, nguyên nhân và những quy luật phát triển
của thế giới; vừa có vai trò vạch ra con đường, những phương tiện để nhận thức và cải tạo thế
giới.
Triết học chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện: Về mặt nhận thức, triết học xuất hiện khi
năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định, cho phép họ tổng kết và
khái quát những tri thức riêng lẻ thành hệ thống quan niệm, quan điểm chung. Về mặt xã hội,
triết học xuất hiện khi sản xuất vật chất của loài người phát triển đến trình độ làm nảy sinh quá
trình phân công lao động trí óc và lao động chân tay; nhưng quá trình phân công lao động này
trong thực tế chỉ diễn ra khi lịch sử nhân loại bước vào giai đoạn có phân chia giai cấp.
2. Vấn đề cơ bản của triết học:
Theo Ăng-ghen, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư
duy, hay là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vấn đề này có hai mặt:
- Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước? cái nào quyết
định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà triết học chia thành hai trào lưu chính:
chất sinh ra các hiện tượng vật chất, bản nguyên tinh thần sinh ra các hiện tượng tinh thần. Nhị
nguyên luận thể hiện lập trường dung hòa giữa duy vật và duy tâm, đó chỉ là khuynh hướng nhỏ
trong lịch sử triết học và trong cuộc đấu tranh triết học nó càng trở nên gần với chủ nghĩa duy
tâm.
1.2: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin và ý nghĩa khoa học của định
nghĩa này?
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới
nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơ sở phê
phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất
như sau:
1. Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
4
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho
con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.151).
2. Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu sau đây:
a. “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức.
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dưới
góc độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhất
phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ
thể hoặc đời sống hằng ngày.
+ Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường. Về mặt
nhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với phạm trù đối
lập của nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với nó). (Xem
thêm chương khái niệm ở giáo trình Logic hình thức)
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, Lênin
đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng, mà
nêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vận động và
phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà khoa học khi sâu vào
nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.
1.3: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này
trong hoạt động thực tiễn.
I. Nội dung quy luật:
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và số lượng
(lượng). Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những thay đổi về chất và ngược lại;
là cách thức của sự vận động và phát triển.
1. Khái niệm chất và lượng
a. Khái niệm chất:
- Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của
những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự
vật và hiện tượng khác.
- Phân biệt chất với tính cách là phạm trù triết học với chất hiểu theo khái niệm thường
dùng hàng ngày hoặc với khái niệm chất liệu.
- Phân biệt chất với thuộc tính. Mỗi chất gồm nhiều thuộc tính.
- Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có một hoặc nhiều chất tuy theo những mối quan hệ xác
định
- Chất tồn tại khách quan.
- Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng.
- Trong những trường hợp đặc biệt, chất là cái trừu tượng và dường như nằm ngoài sự
vật, hiện tượng.
b. Khái niệm lượng
- Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt qui mô, trình độ, tốc độ phát
triển của nó, biểu thị bằng các con số, các thuộc tính, các yếu tố, cấu thành nó.
- Lượng không chỉ biểu hiện bằng các con số, các đại lượng xác định cụ thể, mà lượng
còn được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hóa.
- Lượng là nhân tố quy định bên trong, nhưng đồng thời cũng có những lượng chỉ nói
Tóm lại, quy luật lượng-chất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng. Đó là quá
trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng. Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ, chất
mới ra đời với lượng mới. Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất
đang kìm hãm nó, tạo nên chất mới với lượng mới. Như vậy phát triển là quá trình vô hạn, vừa
mang tính liên tục (biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa có tính gián đoạn (biểu hiện ở sự
thay đổi về chất).
II. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Sự vận động và phát triển là kết quả của quá trình tích lũy về lượng. Trong hoạt động
thực tiễn cần chống lại hai khuynh hướng:
+ Tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích lũy đầy đủ về lượng đã
muốn thực hiện bước nhảy về chất. Hoặc chỉ nhấn mạnh đến bước nhảy, xem nhẹ tích lũy về
lượng, dẫn đến các hành động phiêu lưu mạo hiểm.
+ Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bước nhảy về chất. Hoặc chỉ
nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lương và tiến hóa
luận.
- Cần có thái độ khách quan, khoa học và có quyết tâm thực hiện bước nhảy khi điều
kiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi.
7
+ Cần phân biệt các bước nhảy trong tự nhiên và trong xã hội.
+ Phải nhận thức đúng đắn các bước nhảy khác nhau về qui mô, nhịp độ.
+ Chống chủ nghĩa giáo điều
1.4: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định. Ý nghĩa phương pháp
luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ xu hướng đi lên của sự vật, hiện tượng trong
quá trình vận động, phát triển.
1. Phủ định biện chứng:
- “Phủ định”: là khái niệm nói lên quá trình vận động của sự vật, hiện tượng. Trong đó
sự vật, hiện tượng này thay thế cho sự vật, hiện tượng khác.
- “Phủ định biện chứng”: là phủ định mà trong đó cái mới ra đời thay thế cho cái cũ. Cái
mới làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng. Phép biện chứng duy
8
- Để hoàn thành một chu kỳ phát triển, sự vật hiện tượng phải trải qua ít nhất hai lần
phủ định biện chứng.
b. Hình thức và khuynh hướng của sự phát triển:
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu tiến lên của sự vận động của sự
vật và hiện tượng. Sự phát triển đi lên đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theo đường
“xoáy ốc”.
Lênin viết: “Một sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới một
hình thức khác ở một trình độ cao hơn (phủ định của phủ định), một sự phát triển có thể nói là
theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng (Lênin toàn tập, T.26, Nxb Tiến bộ,
Maatsxcơva, 1981, tr.65).
- “Đường xoáy ốc” biểu hiện các mặt của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa,
tính lặp lại, tính tiến lên của sự vận động.
- “Đường xoáy ốc” thể hiện tính phức tạp trong quá trình biến đổi, phủ định của sự vật.
Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao.
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu rằng quá trình phát triển không diễn ra
theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định biện chứng, nhiều
khâu trung gian.
- Là cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới: trong thực tiễn xã hội, các quá trình
diễn ra phức tạp, nhưng cái cũ nhất định sẽ mất đi, cái mới nhất định sẽ xuất hiện. Cái mới ra
đời trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ. Phải biết phát hiện cái mới, duy trì và
phát triển cái mới.
- Phải có cách nhìn biện chứng khi phê phán cái cũ, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái
cũ. Tránh nhìn đơn giản trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng
xã hội. Cần chống lại hai khuynh hướng: kế thừa không chọn lọc hoặc phủ định sạch trơn.
1.5: Phân tích nội dung cặp phạm trù cái chung và cái riêng, từ đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận
1. Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Không được tuyệt đối hóa cái chung hay cái riêng mà phải thấy được mối quan hệ
biện chứng giữa chúng. Nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ dẫn đến giáo điều chủ nghĩa, rập
khuôn một cách máy móc. Ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng thì sẽ dẫn đến chủ nghĩa kinh
nghiệm, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể phường hội, địa phương chủ nghĩa và chủ nghĩa
dân tộc hẹp hòi.
- Trong nhận thức và thực tiễn để phát hiện cái chung cần phải xuất phát từ những cái
riêng, từ những sự vật, hiện tượng quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không được xuất phát từ ý
muốn chủ quan của chủ thể, và để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thì
không lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, để tránh tình trạng sa vào mò mẫm tùy
tiện.
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất chuyển hóa
thành cái chung nếu cái đơn nhất đó có lợi, và cũng phải tạo điều kiện để cái chung chuyển hóa
thành cái đơn nhất nếu cái chung đó là lạc hậu.
KHỐI KIẾN THỨC 2
2.1: Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất. Từ đó rút ra ý nghĩa của việc vận dụng quy luật này
trong thực tiễn ở nước ta hiện nay.
Bất cứ phương thức sản xuất ở một giai đoạn phát triển lịch sử nào cũng đều bao gồm
hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất - là biểu hiện mối quan hệ
giữa người và tự nhiên trong quá trình sản xuất; quan hệ sản xuất - là biểu hiện mối quan hệ
giữa người với người trong quá trình sản xuất. C.Mác đã chỉ rõ: “Trong sản xuất, con người
10
không chỉ có quan hệ với tự nhiên mà còn phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với
nhau, và chỉ trong phạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có tác động vào tự
nhiên, vào sản xuất được”.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng
phản ánh hai mối quan hệ khác nhau, đặc trưng phát triển không giống nhau, nhưng chúng có
mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời và tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật xã
hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
Điều đó cho thấy công cụ sản xuất không những là thước đo trình độ phát triển của các lực
lượng sản xuất, mà còn là dấu hiệu báo trước quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế giữa người với
người cũng biến đổi theo. C.Mác viết: “Phương thức sản xuất, những quan hệ trong đó các lực
lượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh viễn, mà chúng thích ứng với
11
sự phát triển nhất định của con người và của những lực lượng sản xuất của con người, và một
sự thay đổi trong lực lượng sản xuất của con người tất phải dẫn đến một sự thay đổi trong
những quan hệ sản xuất của con người” (C.Mác, Ăngghen tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1980, T.1, tr.396).
Điều đó chứng tỏ sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cũng phát
triển theo cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp đó là động
lực nội tại thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, lực lượng sản xuất có xu
hướng phát triển nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất lại tương đối ổn định. Khi lực lượng sản xuất
phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thành
chướng ngại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa
hai mặt của phương thức sản xuất. Một cách tất yếu là quan hệ sản xuất cũ bị xóa bỏ, quan hệ
sản xuất mới hình thành phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển,
mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
Quan hệ sản xuất cũ bị xóa bỏ, quan hệ sản xuất mới hình thành, cũng đồng thời sự diệt
vong của phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phương thức sản xuất mới. Trong xã
hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời
là cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời là tiền đề của các cuộc cách mạng
xã hội.
Sự tác động của quy luật nói trên trong lịch sử đã làm cho xã hội chuyển từ hình thái
kinh tế-xã hội thấp lên hình thái kinh tế-xã hội cao hơn một cách biện chứng.
- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Trong cấu trúc của phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực
lượng sản xuất luôn luôn phải dựa vào để phát triển. Tất nhiên quan hệ sản xuất thường xuyên
tác động trở lại với lực lượng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Theo tính tất yếu khách quan, quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ bị thay thế bằng một
tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.
Hình thái kinh tế-xã hội là một hệ thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp,
trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng.
Lực lượng sản xuất – là quan hệ giữa người với tự nhiên trong quá trình sản xuất - là
nền tảng vật chất-kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế-xã hội. Xét đến cùng, lực lượng sản xuất
quyết định sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế-xã hội. Bản thân các lực lượng
sản xuất không phải là sản phẩm riêng của một thời đại nào mà là sản phẩm của cả một quá
trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các thời đại, là sự tiếp biến không ngừng của lịch sử.
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất - là những
quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác, không có những mối
quan hệ đó thì không thành xã hội và không có quy luật xã hội. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn
khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác.
Những quan hệ sản xuất là bộ xương của cơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ tầng và trên
đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì
và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó.
Ngoài các quan hệ cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng,
trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội còn có những quan hệ dân tộc, gia đình,
- Sự phát triển của các hình thái kinh tế–xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên.
C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên” (C.Mác, Tư bản, quyển 1, T.1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1973, tr.20).
Hình thái kinh tế-xã hội được xem như là một cơ thể, một hệ thống hoàn chỉnh luôn
luôn vận động và phát triển. Đó là hệ thống các quan hệ xã hội, bao gồm những quan hệ vật
chất và quan hệ tư tưởng. Quan hệ tư tưởng được xây dựng trên những quan hệ vật chất-quan
hệ hình thành ngoài ý chí và ý thức của con người, như một kết quả của sự hoạt động của con
người để đảm bảo sự sinh tồn của mình.
13
Học thuyết hình thái kinh tế–xã hội cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử,
hiểu được logic khách quan của quá trình đó, nhìn thấy sự phát triển của xã hội loài người như
là một quá trình lịch sử tự nhiên, một quá trình diễn ra nhiều mặt và chứa đầy mâu thuẫn, quá
qua một số hình thái để đạt được những bước phát triển nhanh hơn.
Nhân loại hiện nay đang và sẽ trải qua hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ
nghĩa. Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa có ba giai đoạn phát triển: Thời kỳ quá độ từ
tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa cộng sản.
2.3. Phân tích quan điểm triết học Mác-Lênin về bản chất con người.
Thực chất của việc nghiên cứu bản chất con người là quá trình con người tự lấy mình
làm đối tượng nghiên cứu và trả lời câu hỏi con người là gì, vai trò con người trong thế giới
như thế nào?
14
1. Quan niệm chung về con người trong triết học trước Mác.
Có nhiều khoa học nghiên cứu về con người, và tiếp cận theo cách riêng của mình. Tuy
nhiên, nếu có khoa học chuyên ngành nhận thức con người bằng cách chia hệ thống yếu tố thì
ngược lại, triết học nghiên cứu con người bằng cách tổng hợp các yếu tố thành hệ thống.
Trong sự phát triển của triết học, có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất con người.
Các nhà triết học thời cổ đại xem con người là vũ trụ thu nhỏ. Triết học tôn giáo xem con người
là một thực thể nhị nguyên, là sự kết hợp giữa tinh thần và thể xác. Các học thuyết triết học duy
tâm tuyệt đối hóa hoạt động của đời sống tinh thần, điển hình là hệ thống triết học duy tâm của
Hêghen. Ông cho rằng con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là bước cuối cùng của cuộc
diễn hành của ý niệm tuyệt đối trên trái đất. Phơbách, một nhà triết học duy vật siêu hình, đã
tuyệt đối hóa mặt sinh học của con người, chia cắt con người khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, ông
cũng không giải thích được bản chất thực sự của con người.
Như vậy, triết học trước Mác về căn bản đã giải thích bản chất con người trên lập
trường duy tâm, do đó, không giải thích được nguồn gốc, bản chất thật sự của tồn tại người.
Mặc dù vậy, nó vẫn đóng góp được những thành tựu làm tiền đề cho khoa học nghiên cứu con
người.
2. Quan niệm của triết học Mác-Lênin về bản chất con người.
- Trên cơ sở tiếp thu có phê phán tư tưởng về con người của các nhà triết học trước đó
trong lịch sử, C.Mác đã khẳng định rằng: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hòa những quan hệ xã hội” (Luận cương về Phoiơbắc).
- Dựa vào những thành tựu của khoa học hiện đại, triết học Mác-Lênin xem sự tồn tại
minh, ngày càng “người” hơn.
- Nhu cầu tự nhiên là mục đích của sự phát sinh những nhu cầu xã hội. Điều đó, có
nghĩa rằng sản xuất ra đời sống vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài người và con người.
3. Một số kết luận:
- Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Điều
đó có nghĩa phải thừa nhận tính thống nhất không thể tách rời giữa con người sinh học và con
người xã hội. Bản chất con người không là cái bẩm sinh mà luôn xuất hiện, tồn tại và phát triển
dựa trên nền tảng tự nhiên của con người.
- Nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội ngày càng phát triển. Vì vậy, bản chất con người
không phải sinh ra một lần là xong, mà nó gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử-xã hội,
gắn với quá trình con người không ngừng tự hoàn thiện mình.
- Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Tạo ra
những điều kiện lịch sử, những tiền đề kinh tế-xã hội cho sự phát triển toàn diện của con người
là mục đích vươn tới của chính bản thân con người.
2.4. Phân tích mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong sự phát
triển lịch sử, từ đó rút ra ý nghĩa của vấn đề này trong việc quán triệt bài học “lấy dân
làm gốc”.
1. Các khái niệm:
- Khái niệm quần chúng nhân dân.
Là bộ phận dân cư có cùng chung lợi ích căn bản liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh
đạo của một thủ lĩnh, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã
hội của thời đại họ.
Khái niệm quần chúng nhân dân luôn được xác định bởi:
+ Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất - hạt nhân cơ bản của quần chúng
nhân dân.
+ Những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị, áp bức bóc lột đối kháng với nhân
dân.
+ Những giai cấp, những tầng lớp thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
- Khái niệm vĩ nhân-lãnh tụ:
+ Vĩ nhân-lãnh tụ là người có thể thúc đẩy nhanh tiến trình cách mạng, đem lại hiệu quả
cao nhất cho hoạt động của quần chúng nhân dân, nếu vĩ nhân-lãnh tụ hiểu và vận dụng đúng
đắn các quy luật khách quan. Song, vĩ nhân-lãnh tụ cũng là người có thể làm suy giảm hiệu quả
của hành động cách mạng của quần chúng nhân dân nếu vĩ nhân-lãnh tụ thiếu tài, kém đức, và
do đó lịch sử có thể phải trải qua những bước quanh co.
+ Không có vĩ nhân-lãnh tụ cho mọi thời đại. Mỗi vĩ nhân-lãnh tụ chỉ có thể là vĩ nhân-
lãnh tụ của thời đại mình. Sau khi hoàn thành chức năng lãnh đạo quần chúng nhân dân, vĩ
nhân-lãnh tụ đi vào lịch sử như những vĩ nhân, sống trong tâm tưởng, trong giá trị tinh thần của
các thời đại sau.
+ Vĩ nhân-lãnh tụ thường là người sáng lập ra các tổ chức chính trị-xã hội, là linh hồn
của tổ chức đó.
3. Ý nghĩa của vấn đề này trong việc quán triệt bài học “lấy dân làm gốc”.
17
- Vấn đề trên đặt cơ sở khoa học cho ta hiểu đầy đủ vai trò, sức mạnh của quần chúng
nhân dân, cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu,
khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, Đảng ta lãnh đạo
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
- Nó là cơ sở lý luận khoa học giúp chúng ta tránh hai khuynh hướng sai lầm: không
thấy vai trò của quần chúng nhân dân, coi thường quần chúng nhân dân hoặc đề cao quá mức
dẫn đến sùng bái vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ.
- Vì vậy, cần phải thấy mối quan hệ biện chứng của vai trò đó là quần chúng nhân dân là
chủ thể sáng tạo lịch sử, vĩ nhân-lãnh tụ là người định hướng và thúc đẩy sự phát triển của lịch
sử. Điều đó, càng trở nên có ý nghĩa trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.
2.5. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó
rút ra ý nghĩa phương pháp luận.
Tồn tại xã hội là toàn bộ đời sống vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã
hội. Kết cấu của tồn tại xã hội gồm ba yếu tố: Điều kiện tự nhiên, điều kiện dân số và phương
thức sản xuất do phương thức sản xuất quyết định.
Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội
giương cao ngọn cờ tư tưởng đó, phụ thuộc vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối
với nhu cầu phát triển xã hội, phụ thuộc vào mức độ thấm nhuần, mở rộng tư tưởng trong quần
chúng nhân dân.
Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này:
Nếu chỉ thấy tính quyết định của tồn tại xã hội một cách may móc sẽ rơi vào duy vật
tầm thường. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức xã hội sẽ rơi vào chủ nghĩa duy
tâm. Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức phải luôn đấu tranh khắc phục cả hai khuynh
hướng đó. Trong cải tạo xã hội cũ, xã hội xã hội mới phải tiến hành cả trên hai lĩnh vực tồn tại
xã hội và ý thức xã hội.
19
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN (2)
KHỐI KIẾN THỨC 1
1.1. Trình bày điều kiện ra đời, tồn tại, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá?
1. Khái niệm sản xuất hàng hóa: Là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm được sản xuất ra để
trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.
2. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa.
Thứ nhất: Có sự phân công lao động xã hội. Tức phải chuyên môn hóa trong sản xuất
hàng hóa: Mỗi người hoặc mỗi bộ phận người lao động chỉ sản xuất một loại hàng hóa nhất định.
Thứ hai: Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa.
Tức do quan hệ sở hữu khác nhau đối với tư liệu sản xuất làm cho những người sản xuất độc lập,
đối lập nhau nhưng lại cùng nằm trong một hệ thống phân công lao động xã hội phải phụ thuộc lẫn
nhau về sản xuất và tiêu dùng.
Tóm lại, điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa là những người sản xuất hàng hóa
phải độc quyền đối với sản phẩm do quá trình sản xuất của mình tạo ra.
3. Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá.
Thứ nhất: Sản xuất hàng hoá là sản xuất cho thị trường trên cơ sở khai thác những lợi thế
về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển. Tức sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Thứ hai: Cạnh tranh đòi hỏi phải cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao chất
được thể hiện; Giá trị sử dụng là cấu nội dung vật chất của của cải; Đã là hàng hóa thì nhất thiết nó
phải có giá trị sử dụng, nhưng không phải vật có giá trị sử dụng nào cũng là hàng hóa. Một vật chỉ
trở thành hàng hóa khi giá trị sử dụng của nó được phải được sản xuất ra để bán, để trao đổi, tức vật
đó phải có giá trị trao đổi.
* Giá trị của hàng hoá:
- Khái niệm: Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong
hoàng hóa.
Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó
những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Để trao đổi được thì giữa các giá trị sử dụng khác nhau đó phải có cái chung mà các giá trị
sử dụng khác nhau phải được quy thành cái chúng đó: Chúng là sản phẩm của lao động. Tức là sự
hao phí lao động của con người – sức lạo động của con người kết tinh trong sản phẩm.
- Đặc điểm giá trị hàng hóa: Giá trị là một phạm trù lịch sử vì hao phí lao dộng của con
người kết tinh trong sản phẩm khong phải lúc nào cũng là giá trị. Chỉ khí nào người ta làm ra sản
phẩm để trao đổi thì hao phí lao động đó mới mạng hình thái giá trị. Hàng hóa bao giờ cũng phải có
đủ hai thuộc tính – thuộc tính tự nhiên là giá trị sử dụng và thuộc tính xã hội là hao phí lao động
kết tinh trong nó (giá trị).
3. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính.
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: đã là hàng hóa thì phải có đầy đủ 2 thuộc tính, nếu thiếu
một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hàng hoá.
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hoá thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đồng nhất về chất. Nhưng
ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hoá lại đồng nhất về chất, tức là đều có sự kết tinh của
lao động, hay là lao động đã được vật hoá.
Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng hoá, nhưng quá trình
thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả không gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước, trong
lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó, nếu giá
trị của hàng hoá không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa.
Như vậy, mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá cũng chính là một trong
những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa.
lại). Lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động xã hội cần thiết kết tinh
troang hàng hóa và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội => Muốn giảm giá trị của hàng
hóa thì phải tăng năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Trình độ khéo léo của người lao động;
Sự phát triển của KHKT-CN và trình độ ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất; Sự kết hợp xã
hội của sản xuất; Hiệu quả của TLSX và các điều kiện tự nhiên.
Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệt
nhọc của người lao động. Khi cường độ lao động tăng thì lượng hao phí trong cùng một đơn vị
thời gian tăng, lượng sản phẩm được tạo ra tăng nhưng lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm
thì không đổi. Về bản chất tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động.
Thứ hai, mức độ phức tạp của lao động: Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh
hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa.
22
+ Lao động giản đơn là sự hao phí lao động một cách giản đơn mà bất kỳ một người
bình thường nào có khả năng lao động cũng thực hiện được.
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động
lành nghề.
Trong cùng 1 thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.
Tuy nhiên, để tiến hành trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp được quy thành lao động
giản đơn trung bình trên cơ sở lao động phức tạp bằng bội số của lao động giản đơn hay bằng
lao động giản đơn nhân bội lên.
Lượng giá trị của hàng hóa vì thế được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản
đơn trung bình.
Cấu thành lượng giá trị của hàng hóa là W = c + v + m. Trong đó c là giá trị cũ (lao
động cụ thể của người sản xuất bảo tồn và di chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm);
v + m là giá trị mới trong sản phẩm (lao động trừu tượng – hao phí lao động sống trong quá
trình sản xuất ra sản phẩm – làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm).
1.4. Làm rõ nội dung và vai trò của quy luật giá trị? Ý nghĩa của việc nghiên cứu
quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay?
Sản xuất hàng hóa chịu sự tác động của nhiều quy luật kinh tế chung như: Quy luật về
đó sẽ lên cao, nhờ đó mà mở rộng sản xuất. Ngược lại ngành nào cung > cầu thì giá cả hàng
hóa của ngành đó sẽ thấp hơn, vì thế buộc phải thu hẹp sản xuất.
+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường. Biến
động của giá cả thị trường có tác dụng thu hút hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao
làm cho hàng hóa lưu thông thông suốt.
Biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn
có tác dụng điều tiết nền kinh tế hàng hóa.
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển. Trong sản xuất hàng hóa, người nào có hao phí lao động cá biệt
nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết của hàng hóa sẽ ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao,
hoặc ngược lại. Để giành lợi thế cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản người sản xuất
hàng hóa phải hạ thấp lao động cá biệt của mình ít nhất là bằng hao phí lao động xã hội cần
thiết. Vì thế họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm
chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh này mang tính xã hội là sự thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển.
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành
giàu, nghèo. Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị kết quả là người có điều kiện thuận lợi, có
trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt sẽ phát tài, giàu lên nhanh chóng. Hoặc ngược lại
sẽ thua lỗ và trở thành nghèo khó.
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa một mặt chi phối sự lựa
chọn tự nhiên đào thải các yếu kém, kích thích nhân tố tích cực phát triển. Mặt khác phân hóa
xã hội thành giàu nghèo tạo ra bất bình đẳng xã hội.
3. Ý nghĩa thực tiễn
- Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn, lâu dài của quy
luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta.
- Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước để phát huy vai trò tích
cực của nó, thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo đảm sự công bằng xã hội.
- Kinh tế thị trường tự nó sẽ đưa nước ta lên CNTB. Vì thế nền kinh tế thị trường ở
nước ta nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN. Hiện nay do quản lý
Nhà nước chưa tốt đã và đang dẫn đến sự chệch hướng XHCN.
chút thặng dư (∆T) nào. Vì đến khi anh ta bán cũng buộc phải bán hàng hóa thấp hơn giá trị.
Thứ 3, nếu xã hội có một số kẻ lường gạt chuyên mua rẻ, bán đắt thì cái ∆T hắn có là do
chiếm đoạt của người khác mà có. Cái hắn được là cái người khác mất đi, nhưng trong toàn xã
hội thì tổng giá trị của hàng hóa là không thay đổi.
Như vậy, trong lưu thông dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá đều không tạo ra
giá trị thặng dư cho các nhà tư bản.
+ Ngoài lưu thông:
Nếu người trao đổi vẫn đứng 1 mình với hàng hóa của anh ta, thì giá trị của hàng hóa ấy
không hề tăng lên.
Nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm thặng dư thì phải bằng lao động của chính
mình. Chẳng hạn da thuộc phải trở thành giày da, ở đó giày da có giá trị lớn hơn da thuộc vì nó
đã thu hút nhiều lao động vào trong giày da. Còn giá trị của da thuộc vẫn không đổi.
25