Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân sách nhà nước hay còn gọi là ngân sách chính phủ là một thành phần
trong hệ thống tài chính. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, điều chỉnh đời sống xã
hội. Nguồn ngân sách nhà nước là chìa khóa là điều kiện để thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở mỗi quốc gia. Nguồn vốn từ ngân sách có
một vai trò rất lớn trong việc phát triển đất nước, đặc biệt là đầu tư công có ý nghĩa
xã hội rất lớn trong định hướng phát triển chung, mang cả tính hiệu quả về mặt kinh
tế cũng như xóa đói giảm nghèo, phát triển an sinh xã hội .
Mặc dù cải cách công tác quản lý đầu tư từ ngân sách nhà nước đã diễn ra
trên mọi góc độ trong hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế từ phân cấp quản lý đến phân
bổ, quản lý giá và vấn đề cấp phát, thanh toán vốn đầu tư…Dàn trải, lãng phí,
không hiệu quả là những tính từ quen thuộc gắn liền với nguồn vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước trong nhiều năm nay. Trong quá trình xây dựng dự toán vẫn còn xảy
ra tình trạng thiếu minh bạch công khai, thiếu hẳn các căn cứ kinh tế xã hội, làm
cho hiệu quả đầu tư công không đạt như mong đợi.
Thanh Trì là một huyện ngoại thành nằm ở phía Nam của thành phố, là
một huyện đang có tốc độ đô thị hóa rất nhanh, trong những năm qua đã có rất
nhiều công trình và dự án của thành phố đã và đang được đầu tư xây dựng,
nguồn ngân sách đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội là vô cùng lớn. Song việc
sử dụng và dàn trải vốn như thế nào, ưu tiên cho hạng mục nào lại là một câu
hỏi lớn đặt ra.
Vì vậy việc sử dụng nguồn ngân sách như thế nào cho hiệu quả, như
thế nào để tránh thất thoát lãng phí. Làm sao để tăng thu cho ngân sách nhà nước,
làm sao để sử dụng hiệu quả từng đồng vốn từ ngân sách cho đầu tư phát triển,
chống thất thoát lãng phí?
Là sinh viên ngành Kế hoạch, thông qua đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân
sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội huyện Thanh Trì” em hy vọng có
thể đóng góp một số ý kiến để đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng ngân sách một
cách có hiệu quả nhất để đạt kết quả tích cực và toàn diện hơn
“ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội ở mọi
quốc gia. Song, quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất. Trên thực tế,
người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước không giống nhau tuỳ
theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau hoặc
tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì ngân sách nhà
nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết
lập hàng năm.
Giáo trình quản lý tài chính nhà nước: ngân sách nhà nước là một phạm trù
kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoá -
tiền tệ. Nói một cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá
tiền tệ như những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại của kinh tế hàng hoá
tiền tệ những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại của ngân sách nhà nước.
Hai tiền đề nói trên xuất hiện rất sớm trong lịch sử, nhưng thuật ngữ ngân sách nhà
nước lại xuất hiện muộn hơn, vào buổi bình minh của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Thuật ngữ này chỉ các khoản thu và các khoản chi của nhà nước để thể
chế hoá bằng pháp luật thực hiện quyền lập pháp về ngân sách nhà nước (quyết định
về các khoản thu, các khoản chi, tổng số thu, tổng số chi ) còn quyền hành pháp
giao cho chính phủ thực hiện. Trong thực tế vai trò điều hành ngân sách của chính
phủ rất lớn nên còn thuật ngữ “ngân sách chính phủ” mà thực ra là nói tới “Ngân
sách nhà nước”.
Giáo trình lý thuyết tài chính: “ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế và
phạm trù lịch sử. Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các
nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
3
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các
nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”.
Luật ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
chi riêng. Đó là một lối đi đúng đắn trong quá trình phát triển nền tài chính quốc
gia. Trước tiên, nó giúp cho ngân sách cấp tỉnh, trung ương giảm được khối lượng
công việc. Tiếp theo, nó giúp cho các cấp chính quyền có thể nắm bắt được tình
hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở.
Ngân sách huyện mang bản chất của ngân sách nhà nước, đó là mối quan hệ
giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình
phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được điều
chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là
Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của công nhân và nhân dân lao động, bộ phận
người chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội. Do vậy, lợi ích của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa Việt Nam không có gì hơn ngoài mong muốn được phục vụ tổ quốc, phục vụ
nhân dân.
Có thể nói, việc Ngân sách Huyện trở thành một cấp ngân sách đã làm cho
bộ mặt ngân sách nhà nước mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc
gia trở nên lành mạnh và hiệu quả hơn. Thực tế đã chứng minh, trong những năm
qua, xét riêng ở cấp độ huyện, tình hình kinh tế - tài chính có những bước tiến đáng
kể. Ngoài ra, Ngân sách Huyện còn thể hiện bản chất chính trị của Nhà nước ta
thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ chương, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã phát huy được
là một loạt những hạn chế cần khắc phục kịp thời, đòi hỏi sự quan tâm, tâm huyết
của các cá nhân, ban, ngành phối hợp cùng giải quyết.
Là một cấp chính quyền Huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thống các
cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước. Điều đó
cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được cần phải có một
quỹ tài chính tập trung cho nó - đó chính là Ngân sách Huyện. Mặc dù không lớn
mạnh như ngân sách trung ương nhưng Ngân sách Huyện cũng tạo cho mình một vị
thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước ở điạ
phương. Tuỳ theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế xã hội trên từng Huyện mà nhu
cầu đảm bảo này là khác nhau.
c) Các khoản phí và lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp Huyện
quản lý.
d) Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp Huyện quản lý.
đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho cấp
Huyện theo quy định của pháp luật.
g) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho
Ngân sách Huyện.
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
6
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
h) Thu từ xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thu từ các hoạt động
chống buôn lậu và kinh doanh trái phép luật theo phân cấp của tỉnh.
i) Thu kết dư ngân sách cấp huyện.
k) Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh.
l) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh
và Ngân sách Huyện và Ngân sách xã, thị trấn.
a) Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
b) Thuế nhà đất.
c) Tiền sử dụng đất.
d) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa Ngân sách cấp tỉnh và
Ngân sách trung ương, do tỉnh quy định trong phạm vi tỉnh được phân cấp.
e) Các khoản thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; lệ phí trước bạ
nhà đất; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào mặt hàng (Ngân
sách địa phương hưởng 100%). Việc phân cấp cho Ngân sách các cấp (tỉnh, huyện,
xã) do cấp tỉnh quy định. Riêng tỷ lệ phần trăm phân chia thuế sử dụng đất nông
nghiệp cho xã, thị trấn tối đa là 100%, tối thiểu là 20%.
3.2 Nội dung chi của Ngân sách Huyện
Nếu như quá trình thu là quá trình tạo lập, hình thành Ngân sách thì chi Ngân
sách là quá trình sử dụng Ngân sách. Nó ngược lại hoàn toàn với quá trình thu
h ) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp Huyện theo quy
định của pháp luật.
i ) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3.2.1.2 Chi đầu tư phát triển:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo phân
cấp của tỉnh, thành phố.
- Chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập, các công trình phúc lợi
công cộng, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông nội thị, an toàn giao thông
vệ sinh đô thị.
- Chi bổ sung cho Ngân sách cấp dưới.
Cấp phát kinh phí, các khoản chi của Ngân sách -Huyện
Căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước năm được giao và dự toán Ngân
sách quý; căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, Phòng Tài chính- kế hoạch
tiến hành cấp phát kinh phí theo nguyên tắc cấp trực tiếp đến các đơn vị sử dụng
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
8
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
Ngân sách và thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người được hưởng
Các hình thức cấp phát kinh phí:
a) Cấp phát bằng hạn mức kinh phí
Đối tượng cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí là các khoản chi thường
xuyên của các đơn vị dự toán của ngân sách nhà nước, bao gồm :
- Các cơ quan hành chính Nhà nước
- Các đơn vị sự nghiệp hoạt động dưới hình thức thu đủ, chi đủ hoặc gán thu
- bù chi.
- Các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề
nghiệp thường xuyên được ngân sách nhà nước cấp kinh phí.
b) Cấp phát bằng hình thức lệnh chi tiền
Đối tượng cấp phát theo hình thức lệnh chi tiền là các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế - xã hội không có quan hệ thường xuyên với Ngân sách , các khoản
giao hiện vật, giá hiện vật được duyệt, cơ quan tài chính quy đổi ra đồng Việt nam
để làm lệnh ghi thu, ghi chi Ngân sách gửi Kho bạc Nhà nước để hạch toán thu, chi
ngân sách nhà nước.
Đối với các khoản chi bằng ngày công lao động: Căn cứ giá ngày công lao
động được duyệt, cơ quan tài chính làm lệnh ghi thu, ghi chi gửi Kho bạc Nhà nước
để hạch toán thu, chi Ngân sách.
i) Cấp phát kinh phí uỷ quyền:
Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản
lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của mình thì phải
chuyển kinh phí từ Ngân sách từ cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó.
Hình thức chuyển kinh phí chủ yếu bằng hạn mức kinh phí. Đối với các khoản chi
nhỏ, nội dung chi đã xác định rõ thì có thể chuyển kinh phí bằng hình thức lệnh chi
tiền.
k) Cấp phát cho các tổ chức chính trị-xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp:
- Đối với các tổ chức chính trị -xã hội:
+ Các tổ chức chính trị -xã hội được Ngân sách bảo đảm cân đối kinh
phí hoạt động theo quy định.
+ Sau khi được giao nhiệm vụ chi Ngân sách, từng tổ chức chính trị
-xã hội thực hiện phân bổ dự toán Ngân sách (Phần được ngân sách nhà
nước cấp ) chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.
+ Cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí hàng quý cho các tổ
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
10
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
chức chính trị- xã hội theo quy trình cấp phát hạn mức kinh phí quy định,
trừ các trường hợp đặc biệt thủ trưởng cơ quan tài chính quyết định cấp
phát bằng lệnh chi tiền.
- Đối với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp thuộc đối
tượng được Nhà nước tài trợ kinh phí theo quy định:
+ Cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí như các tổ chức chính trị -xã hội
vật chất kỹ thuật làm chỗ dựa cho các ngành các thành phần kinh tế trong phát triển
kinh tế. Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định tiền tệ giá cả thị trường, góp phần ổn
định và phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.
4.3 Chức năng của ngân sách nhà nước trong việc ổn định chính trị bảo vệ
thành quả cách mạng
Chức năng của ngân sách nhà nước trong phân phối tổng sản phẩm xã hội,
trong ổn định và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho
ổn định chính trị thông qua ngân sách nhà nước bảo đảm các nhu cầu và điều kiện
để không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà nước, phát huy vai trò của bộ máy nhà nước
trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ
và phát triển những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp cách mạng.
4.4 Chức năng kiểm tra của ngân sách nhà nước
Thông qua ngân sách nhà nước kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốc
dân, cũng như các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm thúc đẩy, phát hiện,
khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản nhà nước,
chống thất thoát lãng phí, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về ngân sách nhà nước,
kỷ luật tài chính, bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính.
Ngoài ra ngân sách đảm bảo chi thường xuyên, quốc phòng, an ninh là ngân
sách can thiệp vào kinh tế. Nhà nước cần phải tác động vào quá trình phát triển kinh
tế dù đó là kinh tế kế hoạch tập trung hay kinh tế thị trường. Với ý nghĩa đó, tiềm
lực tài chính của Nhà nước phải đủ mạnh đảm bảo cho Nhà nước chủ động thực
hiện chính sách tài khoá nới lỏng hoặc thắt chặt, thực hiện kích cầu đầu tư, tiêu
dùng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, không một Nhà nước nào
không sử dụng ngân sách để tác động vào nền kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế, vai
trò công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định, điều tiết vĩ mô của một Ngân sách phát
triển đã được nhận thức vận dụng rất khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi Nhà
nước, tuỳ theo bối cảnh kinh tế của mỗi thời kỳ.
Tất cả những điều đó thể hiện vị trí quan trọng của ngân sách nhà nước với
tư cách là một công cụ tài chính vĩ mô sắc bén, nhạy cảm, hiệu quả để Nhà nước
hiệu quả trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm sự hài hoà lợi ích của các bên,
phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người sản xuất. Để làm được điều đó,
ngân sách Huyện đã bố trí tăng chi cho đầu tư phát triển đạt trên 30% tổng chi ngân
sách huyện, tập trung nguồn vốn để thực hiện các công trình trọng điểm, ưu tiên cho
xây dựng cơ bản đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế như kênh mương, cầu cống.
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
13
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
2. Đối với phát triển xã hội
Ngân sách Huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo
công bằng xã hội, đảm bảo các chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo, cải thiện mức sống
mức sinh hoạt nhất là về giáo dục, y tế.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia. Nó có tác
dụng xoa dịu nền kinh tế thị trường. Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là chạy
theo lợi nhuận bất chấp hậu quả. Do đó, một loạt các vấn đề xảy đến: Thất nghiệp,
hố ngăn cách giàu nghèo tăng, không quan tâm đến người già, trẻ em, người tàn tật,
lừa đảo, chiếm đoạt, môi trường ô nhiễm Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế -
xã hội một vực thẳm phía trước. Cấp huyện theo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp xã,
phường phải có biện pháp giải quyết.
Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, Huyện phải
thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hoá, tinh thần của quần chúng, cải tạo các
sân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ. Các dịch vụ công cộng như giáo
dục, y tế phải giảm được chi phí cho người dân, làm sao để ai cũng được học hành,
chăm sóc sức khoẻ đầy đủ.
3. Đối với bảo vệ môi trường
Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai ”. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát
triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt
được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã
Trên giác độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả sử dụng ngân sách được thể hiện
tổng hợp ở mức độ thỏa mãn nguồn ngân sách đầu tư với nhu cầu phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Xét theo phạm vi từng
ngành từng lĩnh vực từng giải pháp thì hiệu qủa chính là thể hiện ở mức độ đáp ứng
đầu tư với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội đã đặt ra.
Ở tầm vĩ mô các hiệu quả kinh tế thường biểu hiện một cách không rõ nét,
thường phải chờ đợi một thời gian dài mới thấy hết hiệu quả của nó. Hiệu quả đầu
tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đạt
được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một
thời kỳ nhất định. Các chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vi mô. Là các chỉ tiêu đo
lường và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vi mô, tức là đo lường và đánh giá
hiệu quả của từng dự án đầu tư cụ thể, từng công trình xây dựng. Trên giác độ toàn
bộ nền kinh tế của một địa phương ta xét tổng hợp các chỉ tiêu này theo nhiều góc
độ khác nhau.
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
15
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
1. Tốc độ tăng trưởng thu nhập và thu nhập bình quân
Ngân sách và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau, có thể
nói là mối quan hệ nhân quả. Vì khi ta sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội nghĩa là đầu tư khoản tiền vào các công trình, dự án, đó cũng gọi là
đầu tư. Chỉ có đầu tư mới tạo thêm năng lực mới, mở rộng cả chiều rộng và chiều
sâu cho sản xuất cũng như cho toàn nền kinh tế. Theo kết quả nghiên cứu của các
nhà kinh tế học cho thấy: Muốn giữ được ổn định về kinh tế và tốc độ tăng trưởng
trung bình thì tỷ trọng đầu tư so với GDP phải đạt từ 15-20% tùy theo tình hình
thực tế của mỗi địa phương.
Các chỉ tiêu quen thuộc thường sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư ngân
sách của nền kinh tế là hệ số ICOR. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn đầu tư là
tổng thể các yếu tố về lợi ích đo được bằng việc giá trị của các yếu tố thu được nhờ
hiệu quả đầu tư. Xét với nguồn ngân sách đầu tư cho các khu vực công thì hiệu quả
là vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội năm báo cáo.
G
t1
là GDP tính theo giá thực tế của năm báo cáo.
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
16
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
G
t0
là GDP tính theo giá thực tế của năm trước.
Hệ số ICOR theo phương pháp này thể hiện: Để tính GDP theo giá thực tế thì tăng
một đồng đòi hỏi phải có bao nhiêi đồng vốn đầu tư phát triển cho xã hội.
Phương pháp 3
ICOR =
01
1
GsGs
Vs
−
Trong đó:
V
S1
là tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tính theo giá so sánh.
G
S0
là GDP tính theo giá so sánh của năm trước.
G
S1
là GDP tính thep giá so sánh của năm báo cáo.
Để GDP tính theo giá so sánh tăng 1 đồng đòi hỏi phải có bao nhiêu đồng vốn
I: Mức tăng đầu tư trong kỳ.
Chỉ tiêu hiệu suất vốn đầu tư phản ánh tổng hợp hiệu quả vốn đầu tư, nhưng chỉ tiêu
này có nhược điểm cơ bản là sự hạn chế về tính so sánh được giữa tử số và mẫu số
của chỉ tiêu, vì giữa GDP và vốn đầu tư trong cùng một thời kỳ không tồn tại mối
quan hệ trực tiếp. Thời kỳ ngắn thì nhược điểm này càng bộc lộ rõ.
2. Tỷ lệ giảm nghèo
Tỷ lệ giảm nghèo là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội của việc
sử dụng ngân sách. Hiệu quả xã hội là tổng thể các yếu tố lợi ích về mặt xã hội do
việc thực hiện đầu tư mang lại. Những lợi ích của tính hiệu quả xã hội thu được là
do việc đầu tư có thể được lượng hóa cũng như được định tính. Nhờ đầu tư vào các
công trình trọng điểm, ở khu vực công mà tạo ra thêm nhiều việc làm, xóa đói giảm
nghèo.
Các chỉ tiêu ảnh hưởng tới tỷ lệ giảm nghèo trước hết là quy mô tốc độ giảm thất
nghiệp và chỉ tiêu số lao động được giải quyết việc làm. Hai chỉ tiêu này ảnh hưởng
không nhỏ tới tỷ lệ giảm nghèo của địa phương, vì có việc làm thì đời sống người
dân mới được cải thiện, có thu nhập thì mức sống và khoảng cách giữa thành thị và
nông thôn mới được cải thiện.
Xét về quy mô tốc độ giảm thất nghiệp: Thất nghiệp và ổn định cho sự phát triển
luôn luôn gắn liền với nhau. Nếu thất nghiệp ít, tốc độ giảm thất nghiệp càng nhanh
càng có lợi cho phát triển. Thất nghiệp mà lớn thì dẫn đến xã hội bất ổn định, nền
kinh tế không thể phát triển được, nguy cơ đói nghèo càng gia tăng. Tình hình thất
nghiệp cũng phản ánh được hiệu quả sử dụng ngân sách. Có thể đánh giá hiệu quả
sử dụng ngân sách và tỷ lệ thất nghiệp giữa các thời kì và giữa các địa phương để
đưa ra kết luận
Xét về chỉ tiêu số lao động được giải quyết việc làm và đầu tư tạo ra mỗi chỗ
làm: Chỉ tiêu này đánh giá tác động đầu tư của việc sử dụng vốn đầu tư và vấn đề
thu hút thêm lao động và giảm thất nghiệp trong xã hội.
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
18
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
việc làm ở nông thôn hiện nay, đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó đầu tư ngân
sách có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển kinh tế và hiệu quả giữa
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
19
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
các vùng. Đưa vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Mặt khác, nhờ
có chi ngân sách nên phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, vị trí địa
lý, kinh tế chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh để tìm ra động lực
thức đầy kinh tế phát triển. Như vậy, đầu tư ngân sách vào khu vực công đã có vai
trò tích cực đối với quá trình hoàn thiện cơ cấu kinh tế, nhờ đó mà mục tiêu của
chiến lược phát triển kinh tế xã hội mới được đảm bảo thành công.
4. Mức độ ô nhiễm môi trường
Trong phát triển bền vững, bảo vệ môi trường là yêu cầu tối cao đối với phát
triển kinh tế xã hội. Sử dụng ngân sách có tính tới yêu cầu phát triển bền vững. Bảo
vệ môi trường sống cũng như đầu tư trực tiếp cho việc bảo vệ môi trường là vấn đề
cực kì quan trọng không thể thiếu vắng trong quá trình thực hiện ngân sách. Tiêu
chí phản ánh mức độ ô nhiễm môi trường chính là:
- Tỷ lệ các nhà máy trong khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt
chuẩn.
- Tỷ lệ các cơ sở sản xuất trong khu dân cư bị xử lý về việc gây ô nhiễm môi
trường.
- Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch.
- Mức độ xử lý và thu gom rác thải.
Mức độ ô nhiễm môi trường xét về nguồn nước, không khí, chất lượng cuộc sống,
chất lượng môi trường sinh thái, sức khỏe cộng đồng luôn luôn là thước đo phản
ánh hiệu quả của việc sử dụng ngân sách.
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
20
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
đất tự nhiên là 6.292,7 ha, trong đó có 3.495 ha đất nông nghiệp (chiếm
55,5%). Là một huyện ven đô đang được đô thị hoá, những năm qua nhiều
công trình, dự án của Thành phố và Huyện đã được đầu tư xây dựng. Diện tích
đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp trong khi đó nhu cầu nông sản thực
phẩm phục vụ đời sống của nhân dân ngày càng tăng về số lượng và chất
lượng cùng với việc giải quyết lao động, việc làm, môi trường, xã hội là
những vấn đề bức xúc đòi hỏi cần phải được quan tâm. Tình hình kinh tế - xã
hội có nhiều biến động như: dịch cúm gia cầm, thời tiết khó khăn rét đậm, rét
hại kéo dài, hạn hán, úng ngập Đặc biệt là sự suy giảm kinh tế trong nước
và thế giới vừa qua đã làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của Huyện.
Song được sự quan tâm của Thành phố, sự lãnh đạo sát sao, quyết liệt của
Huyện uỷ, sự giám sát của Hội đồng nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân huyện
Thanh Trì đã tập trung chỉ đạo điều hành các ngành, các cấp, các đơn vị, tổ
chức khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu nên kinh tế - xã hội của Huyện
đã có những chuyển biến rõ rệt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
ngày càng được cải thiện, nâng cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
được giữ vững, ổn định.
2.2 Xã hội
Văn hóa - xã hội của huyện có nhiều tiến bộ về nhiều mặt, nhất là đảm bảo an
sinh xã hội; vấn đề phát triển bền vững đã được quan tâm.
Công tác dân số, lao động việc làm, giáo dục đào tạo, chính sách đối với người
có công được chú trọng thường xuyên và thực hiện đạt kết quả.
Quản lý văn hóa- thể dục thể thao đi vào chiều sâu có hiệu quả, chủ trương
đầu tư vào văn hóa thông tin, tôn tạo các di tích lịch sử được quan tâm đúng mức.
Hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí bám sát các nhiệm vụ chính trị, tiếp tục
giữ gìn, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Thể dục thể thao có bước
phát triển. Lĩnh vực lao động và việc làm được quan tâm, bình quân hàng năm giải
quyết được một số lượng đáng kể lao động .Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
được chú trọng; mạng lưới y tế được củng cố và nâng cấp; hoạt động y tế dự phòng
được đẩy mạnh; dịch bệnh mới phát sinh (H
(Kế hoạch 17% – 18%).
Tốc độ tăng trưởng Thương mại dịch vụ bình quân hàng năm đạt 22,4% (Kế
hoạch 18 – 19%).
Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân hàng năm đạt 0,03% (Kế
hoạch từ 2% – 2,5%).
2.1 Bảng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng qua các năm
Chỉ tiêu
KH 2006-
2010 (%)
TH 2006-
2010 (%)
Tăng/giảm
so KH(%)
Tốc độ tăng trưởng bình quân năm 14 - 15 17,1 2,1
Tốc độ tăng trưởng Công nghiệp – XD 17 - 18 20,2 2,2
Tốc độ tăng trưởng TMDV 18 - 19 22,4 3,4
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 2 - 2,5 0,03 - 2,47
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
23
Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh trì
b. Cơ cấu kinh tế:
- Cơ cấu kinh tế của huyện tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
+ Tỷ trọng nông nghiệp năm 2006 là 22,4%, đến năm 2009 giảm xuống còn
5%.
+ Tỷ trọng công nghiệp - XD năm 2006 là 59,5%, đến năm 2009 tăng lên
72%.
+ Tỷ trọng TMDV năm 2006 là 18,04%, đến năm 2009 tăng lên 23%.
- Cơ cấu trong nông nghiệp: tiếp tục giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ
5 Thể dục thể thao 39.703 2,29
6 Nhà văn hoá xã 16.600 0,96
7 Nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc 84.902 4,89
8 Chợ 29.408 1,70
9 Công trình khác 206.261 11,89
Tổng cộng 1.734.655 100
Nguồn: Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện Thanh Trì
- Tập trung đầu tư để từng bước hoàn thành các dự án trọng điểm các dự
án kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, các dự án dân sinh cấp thiết như: Dự án
khu tưởng niệm danh nhân Chu Văn An, đường vào Bến xe phía Nam, dự án
Cầu Hữu Hoà, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu đấu giá quyền sử dụng đất
Tứ Hiệp – Ngũ Hiệp, dự án đường Ngọc Hồi - Vĩnh Quỳnh - Đại Áng… Hiện
đang đề nghị Thành phố cho xây dựng tuyến đường nối đường Phan Trọng
Tuệ – Vĩnh Quỳnh - Đại áng, đường vào khu tưởng niệm danh nhân Chu Văn
An, đường Phan Trọng Tuệ kéo dài từ Thị trấn Văn Điển đến đường cao tốc
Pháp Vân - Cầu Giẽ theo phương thức BT.
- Hoàn thành đầu tư xây dựng 25 trường học đạt Chuẩn quốc gia và phấn
đấu đến năm 2010 có 30 trường Chuẩn quốc gia, đến năm 2015 là 50 trường;
100% Trạm y tế các xã được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và các trang thiết
bị y tế theo tiêu chuẩn xã chuẩn quốc gia về y tế, đảm bảo công tác khám chữa
bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; hoàn thành cải tạo, xây
Phạm Thị Ngọc Quỳnh - Lớp KH48B
25