LUẬN VĂN:
Phân tích quan điểm cho rằng ngày nay
không phải sức lao động của công nhân
nhân mà máy móc tự động, người máy
tạo nên lợi nhuận cao Phần mở đầu
Phải nói rằng, khi chúng ta bước sang một thập kỉ mới, một thế kỉ mới, cũng có
nghĩa chúng ta sang một thời đại mới, một thời đại tân tiến, cao hơn, phát triển hơn thời
đại trước. Mỗi thời kì đó nó đều tiềm ẩn một nền kinh tế tri thức phát triển cao của con
người. Nó thể hiện với sự phát triển không ngừng của máy móc và khoa học kĩ thuật
hiện đại, từ những công nghệ tân tiến đó nó đã thay thế cho lao động chân tay, lao động
cơ bắp của vô số công nhân lao động. Có phải hiện tượng này đã làm cho người ta lầm
tưởng rằng: “không phải sức lao động của công nhân mà máy móc tự động, người máy
Sức lao động trở thành hàng hoá khi và chỉ khi có hai điều kiện (biểu hiện hai
điều kiện của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá)
Một là, người lao động phải được tự do về thân thể. Sức lao động chỉ xuất hiện
trên thị trường với tư cách là hàng hoá nếu nó do bản thân người có sức lao động đưa ra
bán. Vậy người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sức lao động của
mình, thì mới đem bán sức lao động được.
Hai là, người lao động bị tước đoạt hếy tư liệu sản xuất và của cải khác để sinh
sống, buộc họ phải đi làm thuê, tức là bán sức lao động của mình.
1.2/ Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
* Giá trị hàng hoá sức lao động:
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng như mọi hàng hoá khác, được quy định bởi số
thời gian lao động lao động cần thiết để sản xuất và do đó, để tái sản xuất ra sức lao
động. Sức lao động chỉ tồn tại như là một năng lực của con người sống.
Giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm những yếu tố: Một là, giá trị những tư
liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời
sống công nhân. Hai là, phí tổn đào tạo công nhân. Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt
vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái công nhân.
* Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động:
Hàng hoá sức lao động không chỉ có giá trị, mà còn có giá trị sử dụng. Mà giá trị
sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng chỉ thể hiện trong quá trình tiêu dùng sức lao
động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động. Quá trình đó là quá trình sản
xuất ra một loạt hàng hoá nào đó; đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị
của bản thân hàng hoá sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư
bản chiếm đoạt. Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có tính chất đặc
biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản
thân nó.
1.3/ Hàng hoá sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt và khác so với những hàng
Quá trình sản xuất trong xí nghiệp tư bản đồng thời là quá trình nhà tư bản tiêu
dùng sức lao động và tư liệu sản xuất mà nhà tư bản đã mua, nên nó có đặc điểm: Một
là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, giống như các yếu tố khác của
sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất. Hai là, sản phẩm được làm
ra thuộc sử hữu của nhà tư bản, chứ không thuộc về công nhân.
2.2/ Bài toán sản xuất:
a - Giả định cần thiết:
* Giả định: - Nhà tư bản mua tư liệu sản xuất và sức lao động đúng giá trị
- Khấu hao máy móc, vật tư đúng tiêu chuẩn kĩ thuật.
- Năng suất lao động ở một trình độ nhất định
* Để sản xuất 10 kg sợi, nhà tư bản chi phí các yếu tố sản xuất:
- Mua 10 kg bông giá 10 $, hao mòn máy móc 2$
- Giá trị sức lao động trong một ngày 3$
- Lượng giá trị lao động của công nhân 0,5$/ giờ
b – Phương án sản xuất:
* Trong 6 giờ đầu của ngày lao động:
Nhà tư bản phải ứng ra là 15$ và giá trị của sản phẩm mới mà nhà tư bản thu
được cũng là 15$. Như vậy, nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm đủ bù đắp
lại giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động tất yếu, thì chưa sản xuất
ra giá trị thặng dư; nhà tư bản không có lợi gì và người công nhân không bị bóc lột.
* Nếu nhà tư bản bắt công nhân lao động 12 giờ trong ngày:
Vì lao động phải làm gấp đôi, công nhân phải tiếp tục là việc thêm 6 giờ
nữa.Trong 6 giờ sau này, nhà tư bản chỉ cần đầu tư thêm 10 kg bông hết 10$ và hao
mòn máy móc để chuyển 10 kg bông thành sợi là 2$. Quá trình lao động lại tiếp tục và
kết thúc quá trình này, người công nhân tạo ra được số sản phẩm sợi có giá trị là 15$,
tức cả ngày lao động công nhân tạo ra sản phẩm có giá trị là 30$. So với số tư bản ứng
trước (27$) sản phẩm sợi thu được có giá trị lớn hơn là 3$. Phần giá trị mới dôi ra so với
biến. Sự phân chia đó dựa vào vai trò khác nhau của các bộ phận của tư bản trong quá
trình sản xuất giá trị thặng dư; do đó, vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ
có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
3. Lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thựng dư:
3.1/ Lợi nhuận và quan hệ giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư:
Lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ
của toàn bộ tư bản ứng trước. Quan hệ giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư được thể hiện
qua hai mặt.
Về mặt lượng: đều có nguồn gốc và bản chất chung là lao động thặng dư (không
được trả công) của người lao động làm thuê mà chủ tư bản thu được.
Về mặt chất: thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳng
qua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư. C.Mác viết: “Giá trị thặng dư,
hay là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hoá so với chi phí sản
xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá
so với số lượng lao động đựơc trả công chứa đựng trong hàng hoá”.
3.2/ Lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư:
Hao phí lao động thực tế của xã hội dể sản xuất hàng hoá là c+v+m. Nếu gọi G là
giá trị hàng hóa thì : G = c+v+m
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là c+v. Nếu ký hiệu chi phí sản xuất tư bản chủ
nghĩa là K thì: K = c+v
Khi c+v chuyển thành K thì số tiền nhà tư bảnthu được trội hơn so với chi phí
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Số tiền trội hơn đó được quan niệm là sự tăng lên của toàn bộ
tư bản ứng trước và gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p
Nếu hàng hoá bán đúng giá trị thì G = K+m sẽ chuyển hoá thành G = K+p. Nhìn
bề ngoài, tưởng như lượng tư bản ứng trước (c+v), nhà tư bản thu được lợi nhuận, tức
lợi nhuận là do toàn bộ tư bản ứng trước tạo ra.
Máy móc đã xã hội hoá lao động và sản xuất hết sức sâu rộng và nhanh chóng:
việc sử dụng máy móc đẻ ra những xí nghiệp lớn tập trung hàng nghìn, hạng vạn công
nhân; tạo ra nhiều ngành và nhiều vùng sản xuất mới, thúc đẩy sự phát triển của phân
công lao động xã hội; phát triển và mở rộng thị trường, biến thị trường địa phương nhỏ
hẹp thành thị trường quốc gia thống nhất và thị trường thế giới rộng lớn; thúc đẩy sự ra
đời của các trung tâm công nghiệp và thành thị lớn làm cho lao động và tư liệu sản xuất
di chuyển và điều hoà dễ dàng trong toàn quốc, quốc tế; đẩy mạnh phát triểnkhoa học –
kĩ thuật và văn hoá nói chung… Nhờ vậy, máy móc làm tăng sức mạnh của con người
trong việc chinh phục tự nhiên, làm tăng của cải cho con người.
III. Với máy móc hiện đại, nhà tư bản được hưởng lợi nhuận cao:
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật
còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài
ngày lao động của công nhân. Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cách kéo dài ngày
lao đông trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, nhờ đó kéo dài thời
gian lao động thặng dư gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao
động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của công nhân. Mặt khác, khi sản
xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến
bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang
phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư
tương đối. Giá trị được tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều
kiện độ dài của ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian lao động
thặng dư, được gọi là giá trị thặng dư tương đối.
Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt
nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá
thấp hơn giá trị xã hôi của hàng hoá, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Mà
giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặn dư thu được vượt trội hơn giá trị thặng dư bình
Mục lục
Trang
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 2 –
10
I. Sức lao động tạo nên giá trị thăng dư 2 – 8
1/ Hàng hoá sức lao động 2 – 4
1.1 – Sức lao động 2
1.2 – Giá trị & giá trị sử dụng
2 – 3
1.3 – Hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt 3 – 4
2/ Sức lao động tạo nên giá trị thặng dư 4 – 7
2.1 – Quá trình sản xuất giá trị thặng dư 4
2.2 – Bài toán sản xuất 5 – 6
2.3 – Cấu thành của tư bản 6 – 7
3/ Lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư 7 – 8
3.1 – Lợi nhuận & Quan hệ giữa p – m 7
3.2 – Lợi nhuận là hình thức thần bí hoá của giá trị thặng dư 7 – 8
II. Máy móc là phương tiện tạo ra năng suất lao động cao 8 – 9
III. Với máy móc hiện đại nhà tư bản được hưởng lợi nhuận cao 9 –
10
Phần kết luận 10