Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 1 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, cũng như việc Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO tạo không
ít thuận lợi, cũng như những khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đứng trước tình hình này,
các doanh nghiệp Việt Nam phải có những biện pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình để giành thế chủ động trên thương trường, tồn tại và phát
triển lâu dài. Công ty Cổ phần May Thăng Long từ tháng 8/2007 đã đa dạng
hóa ngành nghề kinh doanh, nhưng kinh doanh sản phẩm may mặc được coi
là trọng điểm. Sản phẩm may mặc xuất khẩu là một trong những mặt hàng có
năng lực cạnh tranh cao so với nhiều mặt hàng khác. Trong nhiều năm, hàng
may mặc xuất khẩu trở thành mặt hàng mũi nhọn trong xuất khẩu hàng hoá
của công ty, hàng may mặc luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của công ty.
Thị trường Mỹ là một trong những thị trường chiếm vị trí quan trọng
trong hoạt động thương mại của công ty, một thị trường rộng lớn, đa dạng có
nhiều triển vọng cho hàng xuất khẩu của công ty nhưng cũng là một thị
trường "sang trọng" và "khó tính". Chinh phục thị trường này là một điều
không dễ, nhất là khi công ty phải cạnh tranh với hàng may mặc của Trung
Quốc, Ấn Độ một trong các cường quốc về các mặt hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua kim ngạch và thị phần xuất khẩu hàng
may mặc của công ty sang thị trường Mỹ tăng giảm không ổn định mặc dù
hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam giành ưu thế trên thị trường này. Có
nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là khả năng cạnh tranh hàng
may mặc của công ty trên thị trường Mỹ có chiều hướng suy giảm do phải
cạnh tranh với quá nhiều đối thủ.
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 2 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
Để góp phần vào việc nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc của công
ty trên thị trường quốc tế nói chung và thị trường Mỹ nói riêng nhất là trong
hiện nay. Có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh, các học giả thuộc trường phái
tư sản cổ điển thì cho rằng: "Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi
phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa
hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so
với khả năng của mình".
Theo định nghĩa khác thì cạnh tranh là cuộc đấu tranh đối kháng giữa
các nhà sản xuất hàng hóa nhằm nhằm giành điều kiện thuận lợi nhất về sản
xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận tối đa.
Theo từ điển kinh doanh của Anh (1992) khái niệm cạnh tranh được
định nghĩa như sau: “Cạnh tranh (competion) là sự ganh đua, sự kình địch
giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài
nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Trong kinh
doanh cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ để giành
lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Có thể nói rằng, mục đích trực tiếp của
hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể là giành lợi thế để hạ
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 4 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
thấp giá các yếu tố đầu vào, và nâng giá đầu ra sao cho mức chi phí là thấp
nhất, lợi nhuận là cao nhất. Cạnh tranh giúp phân bổ các nguồn lực xã hội một
cách tối ưu nhất. Cạnh tranh là yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung
tư bản không giống nhau ở các doanh nghiệp. Cạnh tranh còn là môi trường
phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp có khả năng thích nghi cao, những
doanh nghiệp có khả năng thích nghi với điều kiện thị trường thấp sẽ bị đào
thải. Cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực cho sự phát triển.
Các khái niệm cạnh tranh kể trên đều chưa thực sự đầy đủ. Ngoài ra, ở
mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về cạnh tranh là
khác nhau và phạm vi cũng như cấp độ cũng khác nhau.
^_`-a73:45676 9%\77<b
c4-d7c#-#
Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu, các chủ thể kinh tế ganh đua
khác chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển khi có điều kiện như: nhu cầu, môi
trường cạnh tranh và vận hành tốt khi có môi trường cạnh tranh thuận lợi và
bình đẳng.
Nhu cầu lợi nhuận là động lực nảy sinh cạnh tranhemục đích cuối cùng
của các bên tham gia cạnh tranh là nhằm thoả mãn tối đa lợi ích kinh tế là lợi
nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong hầu hết trường
hợp, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi nhuận không phải là mục đích cuối
cùng. Cạnh tranh được sinh ra từ nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận, thoả mãn lợi
ích kinh tế của con người. Tuy vậy, mặc dù động lực cạnh tranh xuất hiện,
song cạnh tranh chỉ vận hành khi có môi trường cạnh tranh, môi trường cạnh
tranh được hình thành trong nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường tạo
môi trường cho cạnh tranh vận hành, cạnh tranh bị hạn chế trong nền kinh tế
kế hoạch tập trung bao cấp.
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 6 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
Nền kinh tế thị trường với sự tồn tại đa hình thức sở hữu, thành phần
kinh tế là tiền đề cơ bản cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát triển. Tuy
nhiên, cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện như vậy trong nhiều trường
hợp chưa thực sự vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những
khuyết tật của chính thị trường, đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước. Sự can
thiệp hợp lý của nhà nước nhằm đảm bảo cơ chế cạnh tranh vận hành một
cách hiệu quả. Khi cơ chế cạnh tranh không thể vận hành một cách suôn sẻ do
thất bạicủa thị trường thì sự điều tiết hợp lý của nhà nước trong chính sách để
cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả là điều cần thiết.Nhà nước phải thực
hiện, xây dựng chính sách cạnh tranh hiệu quả, môi trường cạnh tranh thông
thoáng, bình đẳng, lành mạnh nhằm tránh thất bại của thị trường gây tổn hại
đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Nhu cầu, động lực cạnh tranh là lợi nhuận. Song chỉ có nền kinh tế thị
trường là tiền đề cơ bản, tạo điều kiện cho cạnh tranh có thể vận hành được.
Việc can thiệp của nhà nước nhằm điều tiết cạnh tranh, giúp cơ chế cạnh tranh
hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua lại muốn mua ở mức giá
thấp nhất.
Thứ hai: Cạnh tranh giữa những người mua: Là cuộc cạnh tranh trên
cơ sở quy luật cung cầu. Khi cung một loại hàng hoá dịch vụ nào đó nhỏ hơn
mức cầu thì cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn. Gía cả hàng hoá và dịch
vụ đó sẽ tăng nhanh. Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao,
tuy nhiên người mua lại phải chịu thiệt thòi.
Thứ ba: Cạnh tranh giữa những người bán: Là cuộc cạnh tranh gay go
và quyết liệt nhất. Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra trong trường hợp cung
lớn hơn cầu. Thực chất cạnh tranh giữa những người bán là sự giành giật các
lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 8 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
lớn nhất.
* Xét theo sự khác biệt về sở hữu tư liệu sản xuất của chủ thể kinh tế:
Các thành phần kinh tế đều nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, có
mối liên hệ thống nhất và mâu thuẫn với nhau. Chính từ sự thống nhất và mâu
thuẫn này làm nảy sinh cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế với nhau.
* Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh:
Để cạnh tranh thành công không ít các chủ thể kinh tế đã dùng các biện
pháp cũng như thủ đoạn để đạt được mục tiêu của mình. Họ dùng các thủ
đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối phương chứ không phải bằng nỗ lực thực sự
của chính mình gọi là cạnh tranh không lành mạnh(Healthy Competion).
Cạnh tranh mà sử dụng các thủ đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh
tranh gọi là cạnh tranh không lành mạnh( Unfair Competion)
* Xét theo hình thái cạnh tranh:
Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) hay gọi là cạnh tranh
thuần tuý (Pure Competition) là tình trạng cạnh tranh mà giá cả của một loại
hàng hoá là không đổi trong toàn bộ các nơi của thị trường do có nhiều người
bán và người mua, họ có đủ thông tin về các điều kiện của thị trường. Thực
trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của
đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển Bách khoa
Hà Nội).
Theo định nghĩa này, có thể hiểu sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
khả năng cạnh tranh, tính cạnh tranh đều có nội dung tương tự nhau và hiểu
tên của chúng một cách nhất quán trong đề tài này là "năng lực cạnh tranh".
Các cấp độ của cạnh tranh:
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 10 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
- Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
- Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ phân biệt trên đây có mối tương quan
mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Trong phạm vi đề tài sẽ xem xét chủ yếu tới năng lực cạnh tranh của
sản phẩm mà cụ thể là năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là gì?
Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi
thế so sánh đối với sản phẩm cùng loại.
Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên
ngoài tạo nên, như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất , chất lượng sản phẩm,
dung lượng thị trường của sản phẩm Khi so sánh cùng một loại sản phẩm
của hai doanh nghiệp sản xuất khác nhau A, B, và nói rằng sản phẩm A có
năng lực cạnh tranh hơn sản phẩm của B là nói đến những lợi thế vượt trội
của sản phẩm do A sản xuất, như doanh nghiệp A có năng lực sản xuất lớn
hơn, có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn, dung lượng thị
trường chiếm lĩnh được lớn hơn…
Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thế
được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm và
tranh của doanh nghiệp như các yếu tố do doanh nghiệp chi phối đó là chiến
lược cạnh tranh, đào tạo lao động và công tác Maketing… Ngoài ra, còn có
các yếu tố thuộc môi trường ngoài doanh nghiệp như đối thủ cạnh tranh,
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 12 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
chính sách đầu tư, chính sách thương mại của đối thủ…
Năng lực cạnh tranh của hàng hoá được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh
của hàng hoá đó với các hàng hoá khác cùng loại. Lợi thế của hàng hoá bao
gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến. Đó là giá cả, chất
lượng, hình thức, chủng loại hàng hoá… Qua các khái niệm trên, có thể thấy
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của hàng hoá có mối
quan hệ mật thiết, phụ thuộc vào nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Một
doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao phải có hàng hoá có năng lực cạnh
tranh cao. Như vậy,sức cạnh tranh của hàng hoá là cốt lõi năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1.1.4 Đặc điểm về sản phẩm may mặc.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu ăn mặc của con người không chỉ
dừng ở “ mặc ấm” mà chuyển lên mức cao hơn là “mặc đẹp”, do vậy, những
sản phẩm may mặc được bán trên thị trường không chỉ đáp ứng nhu cầu
“mặc” của người tiêu dùng mà phải đáp ứng cả nhu cầu “mặc đẹp”. Như vậy,
đối với sản phẩm may mặc trong xã hội phát triển ngày nay thì vấn đề quan
tâm đó chính là thời trang. Sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người
tiêu dùng thì sản phẩm đó sẽ bán rất chạy và ngược lại. Sản phẩm may mặc có
vòng đời rất ngắn, nó phụ thuộc vào nhu cầu sở thích của người tiêu dùng và
khi nó không còn đáp ứng nhu cầu thị hiếu tiêu dùng nữa, vòng đời của sản
phẩm sẽ kết thúc. Mà sở thích về thời trang của con người nhanh thay đổi, có
thể thay đổi theo mùa, theo tháng và lâu hơn là theo năm. Một đặc điểm nữa
của sản phẩm may mặc là tính mùa vụ với những mùa khác nhau thì có những
mẫu quần áo phù hợp đặc trưng theo mùa. Đòi hỏi các nhà thiết kế cần phải
có sự sáng tạo, nghiên cứu nhu cầu trước khi đưa ra thị trường những sản
giá của khách hàng
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 14 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
1.2.2 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm là kiểu dáng, màu sắc, bao bì nhãn
hiệu tính độc đáo tới khách hàng.
Một sản phẩm chỉ có chất lượng tốt chưa phải là một sản phẩm hoàn
thiện, nó sẽ chỉ đáp ứng, thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng mà thôi, trong
đó, nhu cầu của khách hàng ngày càng phong phú đa dạng theo sự phát triển
của xã hội. Khi khách hàng mua sản phẩm ngoài mục đích giá trị sử dụng của
sản phẩm, khách hàng còn có nhu cầu thể hiện địa vị khi sử dụng sản phẩm.
Mẫu mã sản phẩm cũng như kiểu dáng giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu
này, một chiếc xe sang trọng, một sản phẩm có bao bì trang trí bắt mắt sang
trọng sẽ được khách hàng lựa chọn thay vì phải lựa chọn sản phẩm không
được đẹp mặc dù chất lượng có thể hơn hoặc ngang bằng. Mức độ hấp dẫn tạo
ra sức cạnh tranh của hàng hoá vì nó mang lại những đặc thù riêng biệt của
hàng hoá này so với hàng hoá khác. Nhu cầu con người càng đa dạng, hàng
hoá phải đáp ứng được tính đa dạng trong nhu cầu đó thể hiện những giá trị,
yếu tố trong cuộc sống của khách hàng. Đặc biệt, với sản phẩm may mặc tính
thời trang nhu cầu về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm rất cao. Chính sự khác biệt
của hàng hoá này so với hàng hoá khác đã đem lại những giá trị khác nhau
cho những hàng hoá khác nhau. Sự khác biệt này tạo ra sức cạnh tranh rất lớn
cho hàng hoá. Vì vậy, bên cạnh công tác nâng cao chất lượng sản phẩm,
doanh nghiệp cần chú ý tới kiểu dáng, mẫu mã hình thức bên ngoài của sản
phẩm tạo nên tính độc đáo hấp dẫn của sản phẩm, sự khác biệt hóa theo
hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với sản phẩm của đối
thủ.
1.2.3 Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
Uy tín thương hiệu được hình thành dựa trên chất lượng, các dịch vụ
sau bán hàng, thời gian giao hàng,… Một thương hiệu có uy tín với khách
hàng thì đồng nghĩa với việc có lợi thế trong cạnh tranh. Khách hàng khi đó
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 16 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
1.2.4 Giá bán sản phẩm.
Chất lượng và giá cả là hai yếu tố thường xuyên đi liền với nhau. Chất
lượng sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm,
song một sản phẩm có chất lượng rất tốt nhưng đồng thời giá của nó cũng lại
quá cao so với sự đánh giá của khách hàng mục tiêu mà nó nhắm tới thì nó
cũng không thể có sức cạnh tranh lớn khi đưa ra thị trường. Do vậy, doanh
nghiệp cần có chính sách giá hợp lý mà sản phẩm lại có chất lượng tốt có thể
bán sản phẩm chất lượng tốt với giá rẻ. Để đạt được mục tiêu trên doanh
nghiệp cần phải cắt giảm những chi phí không cần thiết, sao cho giá sản xuất
sản phẩm thấp, như vậy doanh nghiệp mới có thể hạ giá thành sản phẩm.
Giá thành hàng hoá là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình thành
nên hàng hoá như chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương công nhân sản xuất…
trên cơ sở đó xác định giá cả của hàng hoá.
Muốn giá cả thấp doanh nghiệp phải tìm cách hạ giá thành tức là phải
tận dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có, đồng thời đổi mới thiết bị và công nghệ
sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý… có như vậy mới hạ giá thành từ đó
nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá.
Giá bán = Giá thành sản xuất + Chi phí liên quan + Lợi nhuận dự kiến
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền lựa chọn cho mình
những hàng hoá tốt nhất và cùng một loại hàng hoá thì chắc chắn họ sẽ lựa
chọn hàng hoá có giá thấp hơn. Vì vậy, giá là công cụ cạnh tranh hữu hiệu
trên thị trường. Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có
các chính sách giá thích hợp cho từng loại hàng hoá, từng giai đoạn trong chu
kỳ sống của hàng hoá hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.
1.2.5 Khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm :
Lợi nhuận một đơn vị sản phẩm đem lại là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp
biểu hiện kết quả kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp. Lợi nhuận không
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 17 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
bán.
Tăng doanh thu bán hàng bằng cách bán giá thấp hơn và đưa ra thị
trường số lượng hàng hóa lớn hơn, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương
mại. Đây chính là xu hướng chung của các nhà sản xuất và kinh doanh hàng
hoá trên thế giới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá.
*Tốc độ tăng thị phần
Thị phần được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán hàng hóa
của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh
doanh loại hàng hóa đó trên một thị trường và trong một thời gian nhất định.
Thị phần càng lớn thì nó biểu hiện hàng hoá của doanh nghiệp được
nhiều người tiêu dùng trên thị trường đó chấp nhận. Khi đó, sức cạnh tranh
của hàng hóa đó là lớn. Còn khi chỉ tiêu này nhỏ thì nó biểu hiện hàng hóa đó
của doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém. Điều đó buộc doanh nghiệp phải
xem xét để cải tiến mặt hàng hoặc đưa ra các chính sách sản phẩm khác để
nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm đó hoặc có thể dừng sản xuất mặt hàng
đó nếu không thể cạnh tranh nổi so với đối thủ.
@1B&\ 3#l-8a7
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì môi trường bên ngoài
doanh nghiệp luôn luôn biến đổi và đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh
tranh của hàng hoá của doanh nghiệp
1.3.1 Nhóm các yếu tố vĩ mô.
Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã
hội, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất.
Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao sức cạnh tranh của các
hàng hoá. Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tích chất quyết định đến việc đẩy
nhanh tốc độ tăng sản xuất hàng hoá.
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 19 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, tăng
xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu.
hệ xã hội của đối thủ,…
Những điểm mạnh, điểm yếu; cơ hội và thách thức phản ánh khả năng
thích nghi của đối thủ cạnh tranh trước những thay đổi của môi trường kinh
doanh. Nếu đối thủ cạnh tranh nào có nhiều điểm mạnh hay cơ hội thì khả
năng thích nghi của họ với những thay đổi của môi trường kinh doanh càng
lớn và ngược lại.
Khách hàng
Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm
làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu doanh nghiệp nào càng đáp ứng
tốt nhu cầu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận
được sự ủng hộ và sự trung thành từ phía khách hàng.
Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của
khách hàng càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn. Một doanh
nghiệp không thể thỏa mãn được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng. Cho
nên, nhất thiết các doanh nghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm
khác nhau. Trên cơ sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách
thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình.
Các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho
hoạt động của một số công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho
sản xuất, nhân công, … Các nhà cung ứng có thể gây một áp lực khá mạnh tới
hoạt động của công ty. Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng
là vấn đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh tranh.
Các nhà cung cấp nguyên, vật liệu cho sản xuất: Những nhà cung ứng
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 21 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
này có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp bằng cách tăng giá cung ứng hoặc
giảm mạnh chất lượng các yếu tố cung ứng. Yếu tố làm tăng thế mạnh của các
nhà cung ứng cũng tương tự như yếu tố làm tăng thế mạnh của khách hàng.
Ví dụ như yếu tố số lượng người cung cấp ít, không có mặt hàng thay thế
Nguồn nhân lực là tài sản quý giá của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng rất
lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của công ty
bao gồm từ các nhà lãnh đạo, các nhân viên, người lao động. Nếu ban lãnh
đạo có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương
trường, có khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ
có sức cạnh tranh cao và ngược lại
Đội ngũ nhân viên, người lao động: Khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố: năng suất lao
động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động, sự sáng tạo…
bởi vì các yếu tố này chi phối tới việc nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm giá
thành cũng như tạo thêm tính ưu việt, độc đáo, mới lạ của hàng hoá.
Năng lực tài chính
Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh nghiệp và
tình hình hoạt động. Các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu hồi vốn,
khả năng thanh toán… Nếu một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt, khả
năng huy động vốn lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng
sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị, tăng khả năng hợp
tác đầu tư về liên doanh liên kết. Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định
chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Năng lực về vật chất kỹ thuật
Năng lực về vật chất kỹ thuật thể hiện trình độ công nghệ hiện tại và
khả năng có được các công nghệ đó đồng thời nó thể hiện qui mô, năng lực
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 23 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
sản xuất của doanh nghiệp
Nếu quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra khối
lượng hàng hoá lớn hơn từ đó giảm giá thành tạo thỏa mãn nhu cầu của những
khách hàng nhạy cảm về giá, có năng lực vật chất kỹ thuật doanh nghiệp có
khả năng đáp ứng những nhu cầu của khách hàng nhanh chóng, kịp thời
những đòi hỏi mang tính kỹ thuật. Doanh nghiệp có khả năng chiếm lĩnh thị
dựng hệ thống phân phối phù hợp với từng mặt hàng để đạt hiệu quả tối ưu.
Nhóm yếu tố về sản phẩm: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm trước hết
phụ thuộc vào chính các đặc tính của sản phẩm như : chất lượng của sản
phẩm, kiểu dáng, màu sắc, bao bì nhãn hiệu, tính độc đáo của sản phẩm.
Một sản phẩm có năng lực cạnh tranh khi nó có khả năng đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng, trong các loại nhu cầu thì nhu cầu về chất lượng
thường là nhu cầu được quan tâm đầu tiên khi quyết định mua sản phẩm.
Đối với sản phẩm may mặc nhu cầu về hợp thời trang của sản phẩm
đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định mua hàng của
người tiêu dùng.
Tuy nhiên, bên cạnh chất lượng của sản phẩm thì các yếu tố kèm theo
như bao bì, kiểu dáng, màu sắc, tính độc đáo của sản phẩm cũng đóng vai trò
rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người
tiêu dùng, tức đồng nghĩa với việc nó có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh
tranh của sản phẩm.
Như vậy, chất lượng của sản phẩm, các yếu tố đi kèm bao gồm kiểu
dáng, màu sắc, bao bì nhãn hiệu, tính độc đáo của sản phẩm là những yếu tố
quan trọng đầu tiên có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm
trên thị trường .
Trên đây, là những yếu tố chủ yếu tác động tới năng lực cạnh tranh
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 25 - GVHD PGS_TS Hoàng Minh Đường
của sản phẩm, nó có thể gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới năng lực
cạnh tranh của sản phẩm, tác động tiêu cực hay tích cực, mức độ ảnh hưởng
như thế nào ?Doanh nghiệp cần nắm rõ để có những biện pháp phòng ngừa
những rủi ro làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm, cũng như nắm bắt
được những cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Svth: Bùi Thị Mai Điệp QTKD Thương Mại 46B