Tài liệu Kỹ thuật nuôi Kỳ Nhông – Dông - Pdf 10

Kỹ thuật nuôi Kỳ Nhông
– Dông

1. Đặc điểm Kỳ nhông giống

- Dông là tên gọi theo tiếng địa phương của kỳ nhông; có nơi như vùng Nghệ
– Tĩnh gọi là nhông. Kỳ nhông có nhiều giống, dông vùng đất cát gọi là dông
cát benly.
+ Tên Latin: Leiolepis belliana
+ Họ: dông Agamidae
+ Bộ: Có vảy Squamata
+ Nhóm: Bò sát
- Kỳ nhông hay còn gọi là dông sống trên đất cát ven biển, phù hợp với các
vùng đất ven biển miền Trung nước ta.
- Vóc dáng: Kỳ nhông gần giống con tắc kè, da hồng đỏ, trên lưng có lớp gai
chạ
y dọc theo xương sống và dọc theo hông có các vệt lớn màu đen, cam.
2. Tập tính sinh hoạt
và môi trường sốngKỳ nhông là một loại bò sát sống thích nghi vùng đất cát
tự nhiên ven biển của các tỉnh dọc Duyên hải miền Trung. Nói rõ ra ở các tỉnh
Ninh Thuận, Bình Thuận,các tỉnh nằm dọc Duyên hải miền Trung và một số
thuộc miền Đông Nam Bộ như Bà Rịa Vũng Tàu,… nơi có nhiều cánh đồng
cát trắng mênh mông mới có dông tập trung sinh sống. Loài bò sát này
thường ra khỏi hang để sưởi ấm vào buổ
i sáng để điều hoà nhiệt độ cơ thể
(chúng thuộc loài máu lạnh), tìm thức ăn và gây ấn tượng đối với các con cái
xung quanh cả ngày, rồi rút vô hang vào xế chiều, đóng cửa hang lại bằng cát.


Không bao giờ thấy Kỳ nhông hoạt động vào lúc trời mưa hay mưa vừa tạnh.
- Kỳ nhông không chịu được nhiệt
độ lạnh. Khi nhiệt độ ngoài trời xuống 24
– 25 độ C và độ ẩm lên trên 90% là chúng đã tìm đường đi trú
* Trú đông
Mùa trú đông của Kỳ nhông thường là tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Vào
thời kỳ này, nhiệt độ ngoài trời xuống dưới 25 độ C và độ ẩm có lúc cao tới
85 – 90 độ C. Kỳ nhông lấp của hang và nằm lì trong hang. Tới mùa xuân khi
nắng ấm về nhiệt độ lên cao dần, Kỳ nhông mới chui ra khỏi hang để kiếm ăn.
b) Hoạt động ngày – đêm
- Kỳ nhông hoạt động vào ban ngày, buổi sáng chúng ra khỏi hang lúc 8 – 9
giờ, tới 13 giờ, 13 giờ
30 phút trưa thì chúng lại vào hang. Kỳ nhông rất cảnh
giác, chúng không bao giờ nhảy ngay lên mặt đất. Kỳ nhông thường thò đầu
ra khỏi hang nghe ngóng rất kỹ, có khi tới 5 – 10 phút sau đó mới chui ra. Lúc
này nó phơi nắng, đó là đặc điểm của loài bò sát. Chúng phải tăng cường tích
nhiệt dưới ánh sáng mặt trời. Một lúc sau nó mới đi kiếm ăn.
- Thời gian hoạt động của Kỳ nhông không nhiều, trung bình một ngày chúng
chỉ chui ra khỏi hang 4 – 5 giờ
đồng hồ để đi kiếm ăn. Thời gian còn lại
chúng nằm yên trong hang để tiết kiệm năng lượng.

4. Làm chuồng, hố nuôi
- Kỹ thuật xây chuồng trại cho dông rất đơn giản, nhiều người còn ví chuồng
nuôi Kỳ nhông như là một động cát tự nhiên thu nhỏ .
- Trong tự nhiên Kỳ nhông tự đào hang và sống đơn độc, kín đáo ở những nơi
yên tĩnh. Chúng ta có thể tận dụ
ng và tổ chức ngay chỗ nuôi tại các khu vực
đó hoặc các sinh cảnh tương tự. Điều quan trọng là phải cố định chúng trong
một không gian nhất định. Vì vậy khu vực tổ chức nuôi Kỳ nhông phải được

ăn có thể là một miếng gỗ, một tấm nilon, m
ột mãng phibro xi măng vỡ hoặc
mấy viên gạch gắn lại cho vuông và bằng phẳng,… Tùy từng điều kiện mà
chúng ta có cách bố trí cho dông ăn cho hợp lý.
- Kỳ nhông không đòi hỏi nhiều nước vì ngay trong thức ăn đã có đủ nước
rồi. Tuy nhiên ta vẫn nên bố trí dụng cụ đựng nước để cho Kỳ nhông uống. Ta
cũng có thể dùng các loại chai nhựa có khoan một lỗ thủng ở cổ chai, cho
nước vào đầy chai và lộn ngược lại để
trong một chén miệng hẹp để hạn chế
việc bốc hơi nước.
- Vào mùa nắng, nên xịt nước vào chuồng vào mỗi buổi sáng để tạo độ ẩm và
nhằm tạo thói quen cho Kỳ nhông lên ăn khi trời mưa. Thông thường, Kỳ
nhông chỉ lên kiếm ăn vào khoảng 8 – 10 giờ sáng trong ngày.
5. Thức ăn
- Nguồn thức ăn chủ yếu là thức ăn thực vật: các loại rau, quả như
rau muống,
rau lang, cà chua, dưa hồng, lá, hoa, nụ, quả… Đặc biệt, chồi non xương rồng
và cỏ dại được xem là món “khoái khẩu” nhất của Kỳ nhông,… Kỳ nhông
còn ăn côn trùng (bướm, sâu non, giun đất…), trứng của loài bọ cánh cứng.
Ngoài ra, còn cho dông ăn cám gạo, cám hỗn hợp và các loại đậu… cho ăn
đầy đủ các loại thức ăn để cung cấp dinh dưỡng cho Kỳ nhông.
- Rõ ràng nguồn thức ăn để nuôi dông dễ kiếm hơ
n rất nhiều so với các loài
vật nuôi khác. Tuy nhiên để nuôi đạt năng suất cao ta cần tăng cường các loại
thức ăn giàu chất dinh dưỡng cho chúng. Nhiều gia đình thường thái cây
chuối trộn với cám gạo cho Kỳ nhông ăn. Ở những vùng có sẵn bí đỏ người ta
băm bí đỏ ra cho chúng ăn. Nếu có lạc lép, hoặc đậu thứ phẩm, ta ngâm nước
cho trương nở và giả nhỏ ra. Dông ăn loại này rất mau lớ
n. Tất cả nguồn thức
ăn động vật đều hấp dẫn đối với dông. Cần băm nhỏ thức ăn ra để tiện cho

ều hết
sức lưu ý đặc biệt là các khu nuôi rộng.
- Việc trồng cây và tạo độ ẩm thích hợp cho khu vực tổ chức nuôi là việc cần
quan tâm thường xuyên. Cố gắng đừng để tình trạng khu nuôi rơi vào tình
trạng quá khô hạn, quá nắng nóng. Ngay từ khâu lựa chọn chỗ nuôi ta cần
phải tính toán vấn đề này.
- Kẻ thù của Kỳ nhông không phải là ít. Ngoài chim diều hâu còn có chó,
mèo, chuột. Để chống mèo chuột người ta thường giăng lưới nilon (loại lưới
dùng để bắt cá) dọc theo b
ờ tường và căng về phía trong khoảng 2m. Mèo và
chuột rất sợ rơi vào loại lưới này vì chúng không đi được. Phải thường xuyên
theo dõi xử lý các trường hợp xãy ra.
- Giử cho môi trường nuôi dông được yên tĩnh và bình an là cả một vấn đề
quyết định, vì vậy không thể lơ là.
7. Sinh trưởng và hiện tượng lột xác của Kỳ nhông
- Sinh trưởng : Kỳ nhông sinh trưởng nhanh, mau lớn và rất ít bị dịch bệnh
nên không cần chă
m sóc nhiều (chỉ đề phòng mèo, chuột cống và rắn). Hiện
nay một số người nuôi Kỳ nhông có phát hiện dông thường bị bệnh sổ mủi
vào mùa lạnh nhưng tự khỏi. Tỷ lệ sống của Kỳ nhông khá cao, đạt từ 90 –
95%
- Lột xác: Lột xác là một hoạt động sinh lý bình thường và cần thiết cho quá
trình phát triển của cơ thể Kỳ nhông. Thậm chí lột xác còn là một chỉ tiêu
quan trọng biểu th
ị trạng thái sức khỏe của chúng. Kỳ nhông muốn lớn phải
lột xác, chúng lột xác nhiều lần trong năm. Đặc biệt vào mùa hoạt động chúng
lột xác liên tục lúc đó chúng ăn khỏe và lớn nhanh. Trong điều kiện tự nhiên,
các nhà khoa học đã xác định được tần suất lột xác ở dông cát trung bình là:
+ Con cái: 7.83 lần/mùa hoạt động
+ Con đực:8.15 lần/mùa hoạt động

– 45 ngày. Nó thường lột xác vào khoảng tháng 4 đến tháng 11. lúc đó nhiệt
độ thường là 28 – 33 độ C và độ ẩm không khí từ 80 – 85%. Dông sẽ lột xác 7
– 8 lần/năm. Vào thời điểm ngủ đông chúng không lột xác.
8. Sinh sản
- Theo các nhà khoa học hầu hết các loài Kỳ nhông cái đều đẻ trứng. Riêng
loài Kỳ nhông được phát hiện ở khu vực Thừa Thiên Huế (loài
Leiolepisguentherpetersi) có thể là loài sinh trinh (parthonogenecis) (tất cả
đều là cá thể cái và tự phân li trứng khi đẻ).
- Kỳ nhông sau khi nuôi 8 – 10 tháng thì đến tuổi động dục có thể sinh sản.
Chúng thường cặp đôi vào mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 6) và đẻ trứng vào
tháng 6 đến tháng 8.
- Thời gian mang thai 10 ngày. Dông đẻ nhiều lứa một năm, mỗi lầ
n đẻ từ 6 –
8 trứng. Trứng dông có hình thuôn dài (dài từ 2,2cm – 2,4cm, rộng 1,1cm –
1,3 cm, nặng khoảng 3 g),45 ngày sau trứng bắt đầu nở. Kỳ nhông con mới nở
thân hình màu trắng dợt, sống quanh quẩn dưới hang trong một vài ngày đầu.
Khi bộ chân đã cứng cáp, chúng theo mẹ chui ra khỏi hang và tập nhấm nháp
thức ăn. Độ 1 tháng tuổi Kỳ nhông đã bằng ngón tay cái, đến hai tháng tuổi
Kỳ nhông đã bằng ngón chân cái và có thể xuất chuồng bán giống. Kỳ nhông
lớ
n nhanh vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 8 (Đây là thời kỳ thuận lợi nhất
cho hoạt động của Kỳ nhông). Tới khi trưởng thành tốc độ lớn của nó chậm
hơn còn non. Đến năm kế tiếp, đàn Kỳ nhông con trưởng thành và lại tiếp tục
sinh sản.
9. Thu hoạch- Sau khi nuôi 8 – 10 tháng là thời điểm thu hoạch Kỳ nhông.
- Ta cũng có thể bắt Kỳ nhông bằng lưới, dùng lưới có mắt nhỏ và rải đều
xuống mặt đất, sau đó ta rải thức ăn xung quanh, Kỳ nhông kéo ra ăn. Khi đã
thấy chúng ra hết ta gây tiếng động mạnh. Kỳ nhông cuống quýt bỏ chạy, vì
vội vã nên chúng sẽ mắc chân vào lưới. Ta gỡ và thu những con lớn, con nhỏ
cũng gỡ ngay và thả chúng l


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status