Tên chuyên đề:
Thực trạng tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp và công tác
chi trả chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp ở Việt
Nam.
Chơng I:
Lý luận chung về BHXH và chế độ tai nạn
lao động bệnh nghề nghiệp
I. Lý luận chung về bảo hiểm xã hội.
1. Sự cần thiết khách quan của BHXH.
Con ngời muốn tồn tại và phát triển trớc hết phải ăn, mặc, ở và đi lại
v.v Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, ng ời ta phải lao động để làm
ra những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm đợc tạo ra ngày càng nhiều thì
đời sống con ngời ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn
minh hơn. Nh vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của
con ngời phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ. Nhng trong thực tế,
không phải lúc nào con ngời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và
mọi điều kiện sinh sống bình thờng. Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn
bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu
nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay
bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và
khả năng tự phục vụ bị suy giảm .v.v Khi rơi vào những trờng hợp này, các
nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn
tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới nh: cần đợc khám
chữa bệnh và điều trị khi ốm đau: tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngời
chăm sóc nuôi dỡng v.v.. Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con
ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết
khác nhau nh: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi
xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nớc v.v Rõ ràng, những cách đó là
hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công trở nên
phổ biến. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau đã
của nó có từ thế kỷ XIII ở Nam Âu, khi nền công nghiệp và nền kinh tế hàng
hoá đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên ban đầu bảo hiểm xã hội chỉ mang tính
sơ khai với phạm vi nhỏ hẹp. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, một số nghiệp
đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã
thành lập nên các quỹ tơng trợ (chẳng hạn nh ở Anh, năm 1473 đã thành lập
2
hội "Bằng hữu" để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tại nạn ) Năm 1883,
Đức dới thời Thủ tớng Bisinark đã ban hành đạo luật bảo hiểm xã hội đầu
tiên trên thế giới. Theo Đạo luật này, hệ thống bảo hiểm xã hội ra đời với sự
tham gia bắt buộc của cả ngời làm công ăn lơng và giới chủ.
Nhà nớc bảo đảm một số chế độ và giữ vai trò quản lý, định hớng hoạt
động của mình. Đến đầu thế kỷ XX, bảo hiểm xã hội đã mở rộng ra toàn thế
giới, đặc biệt là các nớc Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada và một số nớc khác.
Tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ,Tổ chức lao động quốc tế (TLO) đã
thông qua công ớc số 102 với những quy phạm tối thiểu về bảo hiểm xã hội,
trong đó có quy định hệ thống gồm 9 chế độ đó là:
(1) Chăm sóc y tế
(2) Trợ cấp ốm đau
(3) Trợ cấp thất nghiệp
(4) Trợ cấp tuổi già
(5) Trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
(6) Trợ cấp gia đình
(7) Trợ cấp sinh đẻ
(8) Trợ cấp khi tàn phế
(9) Trợ cấp cho ngời còn sống (trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội.
Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia Công ớc Gionevơ thực
hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc ba
chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ (3); (4) (5); (8); (9).
Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh
nhiên, do đất nớc mới giành đợc độc lập lại phải bớc vào cuộc kháng chiến
chống Pháp, nên những quy định trên chỉ mới giải quyết cho những công
nhân, viên chức già yếu về nghỉ đợc hởng trợ cấp một lần. Khi hoà bình đợc
lập lại, Chính phủ đã có quy định về trợ cấp mất sức lao động cho công nhân
viên chức kháng chiến và công nhân viên chức lu dụng do già yếu, ốm đau,
tai nạn lao động (Nghị định 594/TTg ngày 11 tháng 12 năm 1957)
Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội, nên chính sách bảo
hiểm xã hội mới chỉ giải quyết những vấn đề cấp thiết trớc mắt, chủ yếu là
những ngời tham gia cách mạng, những ngời làm việc trong khu vực Nhà n-
ớc. Các chế độ bảo hiểm xã hội đợc ban hành chủ yếu dới dạng phụ cấp, với
tinh thần đồng cam cộng khổ phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến của toàn
dân, nhng đã giúp giải quyết một phần khó khăn đời sống công nhân viên
chức, đồng thời tạo tiền đề để xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội sau này.
4
Bớc tiến tiếp theo, trong Hiến pháp năm 1959 thừa nhận công nhân
viên chức có quyền đợc hởng trợ cấp bảo hiểm xã hội. Quyền này đợc cụ thể
hoá trong Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức
Nhà nớc, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ
đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964
của Chính phủ. Các văn bản pháp luật này đã quy định rõ đối tợng, phạm vi
điều chỉnh; quy định các chế độ bảo hiểm xã hội (gồm 6 chế độ là ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hu trí và tử
tuất); quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong xã hội xã
hội Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng đ ợc căn cứ vào thời gian công
tác nói chung và thời gian công tác cho cách mạng, vào tuổi đời (đối với chế
độ hu, nam đủ 60 tuổi có 25 năm công tác nói chung,trong đó có 5 năm công
tác liên tục; nữ đủ55 tuổi có 20 năm công tác nói chung, trong đó có 5 năm
công tác liên tục), vào điều kiện làm việc, vào tình trạng suy giảm khả năng
lao động. Đối với những ngời đợc tặng thởng Huân, Huy chơng kháng chiến,
nếu có đủ 15 năm công tác liên tục mà bị mất sức lao động từ 61% trở lên thì
sức lao động; cách xác định tiền tuất Đặc biệt, có điểm sửa đổi quan trọng
là điều kiện nghỉ hu của các đối tợng nêu trong Thông t 84/TTg ngày 20/
8/1963, quy định nam 52 tuổi, nữ 47 tuổi và có 25 năm công tác liên tục đợc
nghỉ hu.
Có thể nêu khái quát ý nghĩa của chính sách bảo hiểm xã hội trong
giai đoạn này là:
- Chính sách bảo hiểm xã hội thời kỳ này đã có ý nghĩa rất lớn trong
việc động viên cán bộ, công nhân, viên chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị
của đất nớc là xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện cho
Miền Nam, hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nớc.
- Chính sách bảo hiểm xã hội đã đợc điều chỉnh phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội của giai đoạn này, đã góp phần bảo đảm đời sống đối với
những ngời tham gia cách mạng, những ngời làm công ăn lơng; khẳng định
tính đúng đắn của chính sách bảo hiểm xã hội trong cuộc sống.
- Tạo cơ sở để đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội sau này.
2.2.3. Giai đoạn 1976 - 1985.
Về cơ bản, chính sách bảo hiểm xã hội vẫn đợc thực hiện theo Điều lệ
tạm thời về bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, đây là thời kỳ có nhiều khó khăn,
phức tạp về kinh tế xã hội, ảnh hởng đến chính sách bảo hiểm xã hội.
Ngay sau khi đất nớc thống nhất, để đảm bảo quyền lợi cho những ng-
ời chiến đấu và công tác ở Miền Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
6
10/NĐ76 (tháng 8/1976) áp dụng chế độ hu trí, mất sức lao động, tử tuất đối
với công nhân viên chức và quân nhân ở Miền Nam và cả chế độ đối với công
nhân viên chức trớc làm việc cho chế độ cũ, sau khi giải phóng làm việc cho
ta năng đã già yếu. Chính sách bảo hiểm xã hội đã đợc thi hành thống nhất
ngay khi Miền Nam vừa đợc giải phóng đã góp phần giải quyết những hậu
quả của chiến tranh để lại, cán bộ, quân nhân về già yếu ốm đau phải nghỉ
việc trớc ngày giải phóng đã đợc hởng trợ cấp. Năm 1978, để giải quyết khó
khăn cho những cán bộ có tham gia kháng chiến, Chính phủ đã ra quyết định
định.
2.2.4. Giai đoạn 1986 đến nay
Sự đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tơng ứng về
chính sách xã hội nói chung và chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng. Cơ sở
pháp lý để cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội là Hiến pháp năm 1992. Trong
Hiến pháp nêu rõ: "Nhà nớc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với công
chức Nhà nớc và ngời làm ăn công lơng, khuyến khích phát triển các hình
thức bảo hiểm xã hội khác đối với ngời lao động ". Đảng ta chủ trơng đổi
mới chính sách bảo hiểm xã hội theo hớng mọi ngời lao động và các đơn vị
thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp bảo hiểm xã hội, tách
quỹ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nớc là ngời lao động
làm công ăn lơng ra khỏi ngân sách.
Thực hiện các chủ trơng trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định43/CP
ngày22/6/1993 quy định tạm thời chế độ bảo hiểm xã hội cho ngời lao động
ở các thành phần kinh tế. Đây là bớc tiến quan trọng trong chính sách bảo
hiểm xã hội ở Việt Nam. Lần đầu tiên, ngời lao động ở các thành phần kinh
tế đợc tham gia bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc có đóng có hởng bảo hiểm
xã hội. Tiếp sau đó, khi Quốc hội thông qua Bộ luật lao động ngày23/6/1994,
Chính phủ ngày 26/11/1995 về Điều lệ bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động
trong các thành phần kinh tế thay thế những quy định về chính sách bảo hiểm
xã hội trớc đây.
Điều lệ bảo hiểm xã hội mới đợc ban hành là một bớc tiến quan trọng
trong việc thể chế hoá các chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc ta. Điều
lệ đã thể chế hoá những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, đối tợng áp dụng là ngời lao động làm việc trong các cơ
quan, doanh nghiệp Nhà nớc và doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10 lao
động trở lên.
Thứ hai, pháp luật bảo hiểm xã hội quy định rõ ngời lao động muốn đ-
ợc hởng thì phải đóng bảo hiểm xã hội, ngời sử dụng lao động cũng phải có
8
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng
lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập
9
trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ góp phần bảo
đảm an toàn xã hội.
Với cách hiểu nh trên, bản chất của BHXH đợc thể hiện ở những nội
dung chủ yếu sau đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất
là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối
quan hệ thuê mớn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng
phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là
nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh tế của mỗi n-
ớc.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH và bên đợc BHXH. Bên
tham gia BHXH có thể chỉ là ngời lao động hoặc cả ngời lao động và ngời sử
dụng lao động. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thờng là cơ
quan chuyên trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ. Bên đợc BHXH là ngời lao
động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của
con ngời nh: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có
thể là những trờng hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên nh: Tuổi gia, thai
sản v.v Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá
trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ
tập trung đợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp
là chủ yếu, ngoài ra còn đợc sự hỗ trợ từ phía Nhà nớc.
chức năng cơ bản nhất của BHXH nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ
chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham
gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động mà cả những ngời
sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ
này dùng để trợ cấp cho một số ngời lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập. Số lợng những ngời này thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
số những ngời tham gia đóng góp. Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít,
BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang.
Phân phối lại giữa những ngời lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những
11
ngời khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm yếu phải nghỉ việc v.v
Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng
xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất nâng
cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh
tham gia lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ sử dụng lao động trả lơng
hoặc tiền công. Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã
có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và
gia đình họ luôn đợc đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, ngời lao động
luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất
tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Chức năng này biểu hiện nh một đòn bẩy kinh tế kích thích ngời lao động
nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã
hội.
- Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động, giữa
ngời lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, ngời lao động và
ngời sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền l-
ợng, tiền công, thời gian lao động .v.v Thông qua BHXH, những mâu
thuẫn đó sẽ đợc điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ
ngời lao động theo các điều kiện của BHXH. Thực chất, phần đóng góp của
mỗi ngời lao động là không đáng kể, nhng quyền lợi nhận đợc là rất lớn khi
gặp rủi ro. Đối với ngời sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ
BHXH là để bảo hiểm cho ngời lao động mà mình sử dụng. Xét dới góc độ
kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải
cho những ngời lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với Nhà nớc
BHXH góp phần làm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là
nguồn đầu t đáng kể cho nền kinh tế BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ
thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu
dài, mọi ngời lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngợc
lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi ngời lao động và gia đình
họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động. Tính xã hội của BHXH
luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát
triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao.
4. Nội dung cơ bản của BHXH.
4.1. Vai trò của BHXH.
13
Trong nền kinh tế thị trờng, BHXH là một lĩnh vực không thể thiếu đ-
ợc đối với ngời lao động, ngời sử dụng lao động nói chung còn phía Nhà nớc
đây là một chính sách xã hội rộng lớn mà quốc gia nào cũng phải có bởi vì:
- Thứ nhất, đối với ngời lao động.
BHXH giúp ngời lao động và gia đình họ ổn định cuộc sống khi họ
gặp khó khăn hoặc mất hay giảm thu nhập. Khi cha có BHXH thì ngời lao
động cũng nh gia đình họ rất khó khăn mỗi khi xảy ra rủi ro nh là tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thực hiện nhiệm vụ sinh con, khi về già
hoặc bị chết, lúc đó ngời lao động không làm việc đợc, do vậy không có thu
nhập, nhờ có BHXH bù đắp phần thu nhập bị mất của ngời lao động mà cuộc
sống của ngời lao động đợc ổn định.
- Thứ hai, đối với ngời sử dụng lao động
BHXH là tấm lá chắn giúp họ trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở
thuộc lực lợng vũ trang.
- Ngời giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý
nhà nớc, Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
Các đối tợng trên đi học, thực tập, công tác điều dỡng ở nớc ngoài mà
vẫn hởng tiền lơng học tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực hiện BHXH
bắt buộc.
Các đối tợng quy định trên gọi chung là ngời lao động.
Cùng với đối tợng tham gia BHXH đợc mở rộng hơn so với trớc đây,
thì loại hình tham gia BHXH cũng đợc thống nhất: BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện. Vấn đề này bớc đầu đã tạo ra sự bình đẳng giữ những ngời
lao động thuộc các thành phần kinh tế. Với đối tợng đã đợc quy định nh ở
trên, hiện nay cả nớc ta có khoảng 15% lực lợng lao động tham gia BHXH.
4.3. Các chế độ BHXH
Tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã
thông qua Công ớc số 102 với những quy phạm tối thiểu về BHXH, trong đó
có quy định hệ thống gồm 9 chế độ đó là:
(1) Chăm sóc y tế
(2) Trợ cấp ốm đau
(3) Trợ cấp thất nghiệp
(4) Trợ cấp tuổi già
(5) Trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
(6) Trợ cấp gia đình
(7) Trợ cấp sinh đẻ
(8) Trợ cấp khi tàn phế
15
(9) Trợ cấp cho ngời còn sống (trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)
4.4. Quỹ BHXH.
Quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nớc, đợc hình thành và quản lý
thống nhất, tập trung theo chế độ tài chính của Nhà nớc để chi trả cho những
ngời lao động đợc BHXH và gia đình họ khi họ giảm hoặc mất khả năng lao
muốn của con ngời. Trong các rủi ro bất thờng đó tai nạn lao động - bệnh
nghề nghiệp là loại rủi ro đặc trng vì nó thờng gây ra thiệt hại lớn về tài sản
và sức khoẻ, suy giảm khả năng lao động của một hoặc nhiều ngời. Mặt khác
16
tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp có nguyên nhân trực tiếp từ điều kiện lao
động, môi trờng làm việc và gắn liền với công việc thực hiện công việc,
nhiệm vụ lao động. Nó thờng là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật về an
toàn vệ sinh lao động và dẫn đến việc thay đổi quan hệ pháp luật lao động,
thậm chí chấm dứt quan hệ pháp luật lao động nếu ngời bị tai nạn lao động
chết hoặc không thể phục hồi khả năng lao động đủ để bố trí sắp xếp lại công
việc phù hợp. Do vậy pháp luật của nhiều nớc buộc chủ sử dụng lao động
phải có trách nhiệm chủ yếu khi xẩy ra tai nạn lao động dù ngời lao động có
lỗi hay không. Và cùng với tính chất đặc trng này mà chế độ tai nạn lao động
- bệnh nghề nghiệp có sự khác biệt so với chế độ BHXH khác cả về điều
kiện, mức hởng và thời gian hởng.
Khi cha có hệ thống BHXH chủ sử dụng lao động thờng thực hiện
trách nhiệm đền bù của mình bằng cách dựa vào các hình thức bảo hiểm th-
ơng mại hoặc tự chịu rủi ro. Tuy nhiên, việc đền bù dựa vào các hình thức
này thờng không đáp ứng yêu cầu của cả ngời lao động và chủ sử dụng lao
động vì:
+Do bản chất đối kháng giữa chủ sử dụng lao động và ngời lao động
trong việc xác định nguyên nhân tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, do
kém u thế trong mối quan hệ với chủ sử dụng lao động, nên ngời lao động
khó có thể xác minh đợc nguyên nhân một cách rõ ràng theo ý chí của họ. Vì
vậy khó có thể đền bù thoả đáng và nhanh chóng, nhất là khi phát sinh tranh
chấp. Mặt khác, trong trờng hợp mất khả năng lao động vĩnh viễn hoặc chết,
ngời bị tai nạn chỉ đợc trợ cấp một lần thì cuộc sống của thân nhân họ với
những ngày còn lại sẽ rất khó khăn, các vấn đề này sẽ phức tạp hơn nếu các
doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Đây là điều dễ xẩy ra trong nền kinh tế thị
trờng, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều kiện lao động thờng
nạn lao động nh sau:
+ Tai nạn lao động làm chết ngời
+ Tai nạn lao động nặng: Làm cho ngời lao động bị suy giảm khả năng
lao động > 61%.
+ Tai nạn lao động nhẹ: làm cho ngời lao động bị suy giảm khả năng
lao động từ 21 - 60%.
+ Tai nạn lao động nhẹ: Làm cho ngời lao động bị suy giảm khả năng
lao động từ < 21%.
Mục đích của cách phân loại này giúp cho cơ quan quản lý bảo hiểm
xã hội có cơ sở đặt ra các mức trợ cấp cho phù hợp với mức suy giảm khả
năng lao động.
18
- Theo ngành nghề sản xuất: Việc phân loại này rất quan trọng vì tai
nạn lao động ở các ngành nghề khác nhau do đặc điểm của mỗi ngành nghề.
ở nớc ta những ngành nghề có công việc càng phức tạp nguy hiểm thì tai nạn
lao động gây ra cũng khác nhau. Cách phân loại này còn cho phép xác định
mức đóng và hởng đợc chính xác, đồng thời cho phép tìm ra những biện pháp
hạn chế tai nạn lao động cho phù hợp với đặc điểm sản xuất của từng ngành.
- Theo nguyên nhân:
+ Nguyên nhân do chủ quan: do trang thiết bị máy móc, phơng tiện
bảo hộ, phòng hộ lao động không đợc chu đáo hay do sự vi phạm quy trình
kỹ thuật an toàn lao động sản xuất của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động.
+ Nguyên nhân khách quan: do các yếu tố tự nhiên xảy ra ngẫu nhiên
không lờng trớc đợc: bão lụt, động đất
Phân loại theo cách này giúp chúng ta tìm đợc nguyên nhân tai nạn lao
động để tìm ra cách hạn chế khắc phục và có biện pháp xử lý kịp thời.
- Theo độ tuổi và giới tính:
Theo cách phân loại này có thể xác định đợc tỷ lệ nam nữ gặp phải rủi
ro tai nạn lao động. Thực tế cho thấy tai nạn lao động thờng xảy ra đối với
hoặc các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trờng hợp Điều ớc quốc tế mà
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác.
- Ngời lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc
cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể.
- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lợng vũ trang.
- Ngời giữ chức vụ dân c, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý
Nhà nớc, Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
- Công chức, viên chức Nhà nớc làm việc trong các cơ quan hành
chính sự nghiệp, ngời làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung -
ơng đến cấp huyện.
- Các đối tợng đi học, thực tập, điều dỡng trong và ngoài nớc mà vẫn
đợc hởng tiền công hoặc tiền lơng.
- Năm 1999 Chính phủ có quy định thêm đối tợng là những ngời làm
việc trong các cơ sở ngoài công lập thuộc các ngành y tế, giáo dục văn hoá và
thể thao.
Tất cả các đối tợng quy định trên gọi chung là ngời lao động.
20
Nh vậy, so với các quy định trớc đây thì đối tợng tham gia BHXH tai
nạn lao động - bệnh nghề nghiệp đã đợc mở rộng hơn cho cả ngời lao động
làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng trên 10 lao
động; các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, khu chế xuất, khu công
nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nớc ngoài hoặc các tổ chức quốc tế tại
Việt Nam; lao động làm việc trong các cơ sở ngoài công lập.
3.2. Trách nhiệm và mức đóng góp.
Điều lệ BHXH quy định về trách nhiệm và mức đóng BHXH chung,
cụ thể nh sau:
- Ngời sử dụng lao động hàng tháng đóng bằng 15% so với tổng quỹ
tiền lơng của những ngời tham gia BHXH trong đơn vị: trong đó 10% để chi
các chế độ hu trí và tử tuất, 5% để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản, tai
Bệnh rung chuyển nghề nghiệp.
Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp (bức xạ ion hoá).
Bệnh loét da, loét vành ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc
(bệnh da nghề nghiệp da crôm).
Bệnh sam da.
Bệnh nhiễm độc TNT (Trinitrotoluen).
Bệnh nhiễm độc benzen.
Bệnh nhiễm độc mangan.
Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân.
Bệnh nhiễm độc chì vô cơ, bệnh nhiễm độc chì hữu cơ.
Bệnh lao nghề nghiệp
Bệnh do leptospira nghề nghiệp (Leptospirosis).
Bệnh viêm gan virus nghề nghiệp.
Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất asen vô cơ.
Bệnh nhiễm độc nicôtin.
Bệnh nhiễm độc hoá chất trừ sâu.
Bệnh giảm áp.
Bệnh viêm phế quản mãn tính.
Việc xác định điều kiện hởng trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề
nghiệp khác với một số chế độ BHXH khác là không căn cứ vào độ tuổi, thời
gian công tác và thời gian tham gia đóng BHXH. Việc trợ cấp BHXH cho ng-
ời lao động bị tai nạn lao động - bệnh nghề ng hiệp không cần xét đến
nguyên nhân, mà bất kỳ ngời lao động nếu có tham gia BHXH không may bị
22
tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp trong các điều kiện nêu trên đều đợc h-
ởng trợ cấp BHXH.
3.4. Thời gian và mức hởng trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
Theo quy định của Điều lệ BHXH thì ngời lao động tham gia BHXH
khi bị tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, ngoài việc ngời sử dụng lao động
phải chịu trách nhiệm trả các khoản chi phí y tế và tiền lơng từ khi sơ cứu,
23
của Hội đồng Giám định y khoa hoặc sau khi bị tai nạn lao động - bệnh nghề
nghiệp chết.
- Các quyền lợi khác về BHXH:
+ Ngời bị tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp bị tổn thơng các chức
năng hoạt động của chân, tay, tai, mắt, răng, cột sống...đợc trang cấp phơng
tiện trợ giúp cho sinh hoạt phù hợp với các tổn thơng chức năng theo niên
hạn, cụ thể là:
Ngời bị cụt chân thì đợc cấp chân giả, niên hạn sử dụng là 3 năm và
hàng năm đợc cấp 2 chiếc bọc mỏm cụt bằng sợi, một đôi giầy vải, 1
đôi bít tất chân. Trong trờng hợp không sử dụng đợc chân giả thì đợc
cấp 1 đôi nạng gỗ, niên hạn sử dụng là 2 năm.
Ngời bị cụt tay đợc cấp tay giả, niên hạn sử dụng là 5 năm và hàng
năm đợc cấp 2 chiếc bọc mỏm cụt bằng sợi, 1 đôi tất tay.
Ngời bị hỏng mắt đợc mắt giả, niên hạn sử dụng là 3 năm:
Ngời bị mất răng đợc cấp răng giả, niên hạn sử dụng là 3 năm.
Ngời bị liệt toàn thân, hoặc liệt nửa ngời, hoặc liệt 2 chân thì đợc cấp
một lần 1 chiếc xe lăn hoặc xe lắc và hàng năm đợc cấp 1 bộ xăm,
lốp 1 đệm ngồi; đợc thay thế các phụ tùng khi hỏng.
Ngời bị điếc cả 2 tai đợc cấp 1 lần máy trợ thính.
+ Ngời bị tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hởng trợ cấp tai nạn lao
động - bệnh nghề nghiệp hàng tháng, nếu nghỉ việc thì đợc bảo hiểm y
tế quỹ BHXH trả.
+ Ngời bị tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hởng trợ cấp tai nạn lao
động - bệnh nghề nghiệp một lần hoặc hàng tháng khi vết thơng tái phắt đợc
cơ quan bảo hiểm xã hội giới thiệu đi giám định mức độ suy giảm khả năng
lao động do thơng tật.
+ Ngời hởng trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hàng tháng nếu
đủ điều kiện hởng lơng hu hàng tháng thì vừa hởng trợ cấp tai nạn lao động -
bệnh nghề nghiệp hàng tháng, vừa đợc hởng lơng hu hàng tháng.
quỹ để bảo đảm thực hiện chế độ có hiệu quả; tuyên truyền, vận động để mọi
ngời tham gia; từ chối việc chi trả chế độ BHXH tai nạn lao động - bệnh nghề
nghiệp cho các đối tợng khi có kết luận của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền
về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu.
- Về trách nhiệm: Tổ chức thu, quản lý, sử dụng đúng quy định; thực
hiện chế độ BHXH tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp đúng quy định của
Điều lệ BHXH; tổ chức việc chi trả trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện cho
25