Tài liệu MỘT SỐ BỆNH THÔNG THƯỜNG TRÊN DÊ - Pdf 10



MỘT SỐ BỆNH THÔNG THƯỜNG TRÊN DÊ

1. Bệnh truyền nhiễm Bệnh tiêu chảy
1. Nguyên nhân:
Do dê con sức đề kháng còn yếu,
dê dễ bị nhiễm các vi khuẩn đường ruột
gây tiêu chảy do vú hay sữa mẹ bị
nhiễm. Dê con thường mắc bệnh trong 4
- 10 ngày tuổi.

2. Triệu chứng:
- Phân nhão có màu trắng tới
vàng và nhão, sau đó thành dịch lỏng có
mùi hôi.
- Do bị mất nước nên dê con ốm,
lông xù.

3. Phòng và trị bệnh:
- Vệ sinh chuồng trại tốt, bú đủ sữa đầu có thể phòng được bệnh này.
- Trước tiên cho dê con uống dung dịch điện giải để tránh mất nước và có thể
điều trị bằng kháng sinh như neomycin hay sulfamide như sulfaguanidin.
- Dê lớn có thể do nhiễm độc từ thức ăn hay ký sinh trùng hoặc cả hai. Phải tìm
ra nguyên nhân để điều trị.

Bệnh viêm phổi


Bệnh tụ huyết trùng

Xảy ra ở mọi lứa tuổi ở dê. Nguyên nhân chính do Pastuerella multocida,
nhưng thường kếât hợp với một số vi trùng cơ hội như streptococcus, staphylococcus,
myco-plasma… lan truyền theo thức ăn, nước uống. Vi trùng Pastuerella thường tiềm
sinh trong vùng thanh, khí quản nên khi dê bị stress như thời tiết thay đổi, vận chuyển
đường dài, bị ký sinh trùng… bệnh sẽ phát triển. Triệu chứng điển hình là bỏ ăn, sốt
cao, chảy nước bọt, nước mũi, khó thở, kết mạc sung huyết, vùng hầu, họng sưng to,
tiêu chảy với phân có máu. Thể cấp tính làm dê chết rất nhanh. Do đó, phải tiêm
phòng đầy đủ cho đàn dê. Nếu phát hiện kịp có thể điều trị bằng kháng sinh liều cao
như oxytetracycline hay sulfamide.

Bệnh lở mồm, long móng

Trên dê mức độ lây lan vừa phải, cục bộ. Dê con mẫn cảm với bệnh nên dễ
chết. Bệnh tích là các nốt loét ở bên trong miệng, lưỡi và các khe nứt giữa phần móng
và phần mềm của bàn chân. Do đi lại, ăn uống khó khăn nên dê giảm sức tăng trọng,
hay sản lượng sữa. Bệnh do virus nên không có thuốc đặc trị mà chỉ sát trùng vết
thương và tăng cường sức đề kháng và chống phụ nhiễm. Tốt nhất là chủng ngừa.

Viêm kết mạc truyền nhiễm

Do một số vi trùng như mycoplasma, chlamydia… lan truyền vào tuyến lệ do
tiếp xúc với thú bệnh hoặc gián tiếp do ruồi, côn trùng… Kết mạc mắt bị xung huyết,
chảy nhiều nước mắt, có nhiều ghèn nên hai mí mắt bị dính lại. Dê sợ ánh sáng. Nếu
nặng dê có thể bị mù mắt. Điều trị bằng cách dùng bông tẩm dung dịch sulfat kẽm
10% kết hợp với thuốc mỡ oxtetracycline với liệu trình 4 - 5 lần mỗi ngày. Nên tiêm
thêm sinh tố A để giúp mắt chóng hồi phục.

-Bệnh thối móng


- Bệnh sán dây

Do ăn phải ký chủ trung gian của sán dây. Triệu chứng tương tự như trên giun
tròn. Điều trị bằng niclo-samide.

- Bệnh sán lá gan

Thường do ăn cỏ ở các vùng đầm lầy. Do hai lòai Fasciola hepatica và Fasciola
gigantica gây ra. Niêm mạc mũi, mắt, miệng có màu nhợt nhạt, thường tích nước ở
dưới phần bụng, hàm dưới do sán phát triển ở gan, ống dẫn mật. Thuốc phòng và trị
là Dertin - B.

- Bệnh giun phổi
Do giun Dictyocaulus ký sinh trong các đường phế quản, phế nang của phổi.
Dê bị còi cọc, xù lông, hay ho và chảy nước mũi vào buổi sáng sớm và chiều tối.

- Ve
Hai loài ve chuyên bám trên da dê để hút máu là Damalina và Linognathus.
Lây lan do tuyền trực tiếp hay gián tiếp qua môi trường. Do mất máu nên dê ốm còm,
xù lông, ngứa ngáy. Thường xuyên chải lông để phát hiện kịp thời. Dùng một số
thuốc sát trùng như asumtol, chlor-fervinfos…

- Ghẻ

Có hai giống ghẻ là Psoroptes và Sarcoptes ký sinh trên da, lan truyền trực tiếp
hay gián tiếp từ dê bệnh. Dê ngứa ngáy, rụng lông và đóng vẩy. Có thể dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status