TS Hạ Thị Thiều Dao
LỜI MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là bản chất vốn có của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường
càng phát triển, cạnh tranh cũng ngày càng khốc liệt. Nền kinh tế Việt Nam ngày
càng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng
trước nhiều cơ hội song cũng không ít những thách thức. Để nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển bền
vững trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cần phải nỗ lực không
ngừng, phát huy nội lực, biết tận dụng những cơ hội và tiềm năng sẵn có của đơn
vị, đồng thời phải có những giải pháp và hướng đi đúng đắn.
Thực tế đã chứng minh nền kinh tế Việt Nam chuyển từ mô hình kế hoạch
hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết vĩ mô của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một bước tiến quan trọng, thành
công rực rỡ trong chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Với
đường lối đổi mới đó chúng ta đã từng bước thu được những thành quả rất đáng
khích lệ. Biểu hiện là những năm gần đây nền kinh tế đang dần khởi sắc, đời
sống người dân được nâng cao, thu hút được nhiều vốn cho đầu tư, giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động và sản xuất ra nhiều sản phẩm đảm bảo đủ
cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Góp phần vào thành công chung đó là sự phát triển năng động, sáng tạo của
các thành phần kinh tế mà cụ thể là các “Doanh nghiệp xây dựng Việt Nam”.
Đối với mỗi doanh nghiệp, TSCĐ là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng vốn đầu tư, là điều kiện cần thiết để giảm sức lao động chân
tay, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Việc mở rộng quy mô
và đầu tư mới TSCĐ làm tăng cường năng lực sản xuất, hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, song việc quản lý, sử dụng TSCĐ như thế nào để có hiệu quả lớn
nhất là vấn đề rất quan trọng cần thực hiện ngay và thực hiện triệt để mà hiện nay
các doanh nghiệp đang rất quan tâm: Điều đó đặt ra yêu cấu đối với công tác
quản lý TSCĐ phải ngày càng tốt hơn và cần thiết phải tổ chức, tổ chức tốt công
tác hạch toán TSCĐ trong mỗi doanh nghiệp.
Công ty TNHH xây dựng Đồng Tâm – Hà Nam là một doanh nghiệp chủ
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và tổ chức kế toán TSCĐ ở Công ty
Đồng Tâm.
Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức kế toán
TSCĐ tại Công ty Đồng Tâm.
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
2
TS Hạ Thị Thiều Dao
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ
CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY
1.1. CÔNG TÁC QUẢN LÝ TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và vai trò của TSCĐ
1.1.1.1. Khái niệm
Theo chuẩn mực kế toán số 03 – Tài sản cố định hữu hình trong hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam (ban hành và công bố theo quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính): Tài sản cố
định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để
sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài
sản cố định hữu hình.
Theo chuẩn mực kế toán số 04 – Tài sản cố định vô hình: Tài sản cố định vô
hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và
do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ
hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô
hình.
- Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ: Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn
đồng thời cả (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau:
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.
+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy.
+ Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm.
• Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để
hoàn tất các giai đoạn phát triển, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó.
• Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn
phát triển để tạo ra tài sản vô hình đó.
• Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định
cho tài sản cố định vô hình.
1.1.1.2. Vai trò của TSCĐ
Theo Các Mác “Tư liệu lao động là hệ thống xương cốt và cơ bắp của nền
sản xuất”. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có
các yếu tố đầu vào. Về mặt hiện vật, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
bao gồm: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống. Tài sản cố định
là một bộ phận chủ yếu của tư liệu lao động, nó được coi là cơ sở vật chất kỹ
thuật có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
4
TS Hạ Thị Thiều Dao
doanh nghiệp, góp phần phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo
chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của
nền kinh tế thị trường.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, các cuộc cách mạng công nghiệp
đều hướng tới và đạt được mục tiêu là đổi mới về cơ sở vật chất kỹ thuật cho quá
trình sản xuất. TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân và trong các doanh nghiệp
không ngừng được đổi mới, hiện đại hóa và tăng nhanh chóng về số lượng, góp
phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Đồng thời nó cũng thể hiện một cách chính xác nhất năng lực và trình độ trang bị
cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào trang bị đồng
bộ TSCĐ, chất lượng và có công nghệ cao, nhất định doanh nghiệp ấy sẽ thành
công trong việc sản xuất ra sản phẩm có mẫu mã, chất lượng, giá trị phù hợp với
người tiêu dùng và điều đó có nghĩa là nó quyết định sự tồn tại và phát triển của
1.1.2. Đặc điểm, phân loại và đánh giá tài sản cố định
1.1.2.1. Đặc điểm của TSCĐ
Tài sản cố định trong doanh nghiệp có nhiều chủng loại khác nhau với tính
chất và đặc điểm khác nhau. Nhìn chung khi tham gia vào các hoạt động của
doanh nghiệp chúng có các đặc điểm chủ yếu sau:
- Đối với TSCĐ hữu hình:
+ TSCĐ hữu hình tham gia toàn bộ vào nhiều chu kỳ kinh doanh vẫn giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng hoàn toàn.
+ Giá trị bị giảm dần và được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm mới mà
TSCĐ đó tham gia sản xuất.
- Đối với TSCĐ vô hình:
+ Giá trị bị giảm dần và được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm mới mà
TSCĐ đó tham gia sản xuất.
- Đối với những TSCĐ dùng cho các hoạt động khác như: Hoạt động phúc lợi,
sự nghiệp, dự án, cũng có những đặc điểm trên. Tuy nhiên giá trị bị giảm dần của
nó không được tính vào giá trị sản phẩm mới.
1.1.2.2. Phân loại TSCĐ
TSCĐ trong doanh nghiệp có công dụng khác nhau trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, để quản lý tốt cần phải phân loại TSCĐ. Phân loại TSCĐ là
việc sắp xếp các TSCĐ trong doanh nghiệp thành các loại, các nhóm TSCĐ có
cùng tính chất, đặc điểm theo những tiêu thức nhất định. Trong doanh nghiệp
thường phân loại theo các tiêu thức sau:
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
6
TS Hạ Thị Thiều Dao
- Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào hình thái biểu hiện của TSCĐ mà chia ra
TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
+ TSCĐ hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp
doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng. Đây là những TSCĐ thuộc sở hữu
của doanh nghiệp.
+ TSCĐ thuê ngoài là nhưng TSCĐ đi thuê để sử dụng trong thời gian nhất định
theo hợp đồng thuê tài sản. Tùy theo hợp đồng thuê mà TSCĐ thuê ngoài có 2
loại là TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động.
TSCĐ thuê tài chính là những tài sản mà bên đi thuê có quyền kiểm soát và
sử dụng lâu dài theo các điều khoản của hợp đồng thuê (Giá trị của TSCĐ thuê
tài chính được phản ánh là vốn của bên thuê: Bên thuê được trích khấu hao của
tài sản vào chi phí SXKD): Bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi
ích kinh tế gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên đi thuê. Quyền sở hữu tài
sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.
TSCĐ thuê hoạt động: Là TSCĐ mà bên đi thuê chỉ được quản lý và sử
dụng tài sản trong thời hạn quy định trong hợp đồng và phải hoàn trả khi hết thời
hạn thuê.
- Phân loại TSCĐ theo tính chất.
Căn cứ vào tính chất của TSCĐ trong doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến hành
phân loại TSCĐ theo các chỉ tiêu sau:
+ TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ do doanh nghiệp sử
dụng cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.
• Đối với TSCĐ hữu hình, doanh nghiệp phân loại như sau:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành
sau quá trình thi công xây dựng như: Trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp
nước, sân bãi, cầu cống, đường xá, cầu cảng.
Loại 2: Máy móc, thiết bị là toàn bộ các loại máy móc thiết bị phục vụ trong
các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: Máy móc chuyên dùng, thiết bị
công tác, dây truyền công nghệ.
Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn bao gồm: Phương tiện vận tải
đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, đường ống, hệ thống thông tin,
hệ thống điện, hệ thống nước, băng tải.
Loại 4: Thiết bị dụng cụ quản lý: Máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị dụng cụ
+ Nguyên giá TSCĐ hữu hình.
• Nguyên giá TSCĐ hữu hình do mua sắm trực tiếp bao gồm: Giá mua (trừ
các khoản được chiết khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế (trừ các
khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ
vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
9
TS Hạ Thị Thiều Dao
• Đối với TSCĐ mua sắm dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thuế thì
nguyên giá không bao gồm khoản thuế GTGT.
• Đối với TSCĐ mua sắm dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ
thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo
phương pháp trực tiếp, dùng vào hoạt động sự nghiệp, chương trình, dự án hoặc
dùng cho hoạt động phúc lợi thì nguyên giá TSCĐ bao gồm cả khoản thuế
GTGT.
• Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua trả chậm được xác định theo giá mua trả
tiền ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá
mua trả tiền ngay được hạch toán vào chi phí SXKD theo kỳ hạn thanh toán.
• Nguyên giá TSCĐ hữu hình do đầu tư xây dựng cơ bản theo phương pháp
giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy chế quản lý đầu tư
XDCB hiện hành và các chi phí khác có liên quan trực tiếp và lệ phí trước bạ
(nếu có).
• Nguyên giá TSCĐ mua dưới hình thức trao đổi:
Trao đổi không tương tự: Nguyên giá TSCĐ hình thành từ việc trao đổi
được xác định bằng giá hợp lý của TSCĐ nhận về hoặc giá trị hợp lý của tài sản
đem trao đổi sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm
hoặc thu về.
Trao đổi tương tự: Nguyên giá TSCĐ hình thành từ việc trao đổi được xác
• Nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn: Là giá trị
quyền sử dụng đất khi doanh nghiệp đi thuê đất dài hạn đã trả tiền thuê một lần
cho nhiều năm và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc số tiền đã
trả khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc giá trị quyền sử
dụng đất nhận góp vốn.
• Nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất không có thời hạn, là số
tiền đã trả khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp (gồm chi phí đã trả
cho tổ chức, cá nhân chuyển nhượng hoặc đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp,
lệ phí trước bạ.
• Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp: Quá trình
hình thành tài sản được chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn nghiên cứu: Toàn bộ chi phí phát sinh trong giai đoạn này không
được tính vào nguyên giá tài sản mà được tính vào chi phí SXKD.
Giai đoạn triển khai: Toàn bộ chi phí bình thường, hợp lý phát sinh từ thời
điểm tài sản đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn TSCĐ vô hình cho đến khi
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
11
TS Hạ Thị Thiều Dao
đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình
(gồm các chi phí: Nguyên vật liệu, tiền lương, chi phí sản xuất chung, chi phí
khác, có liên quan đến việc hình thành tài sản).
+ Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính.
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính được xác định theo giá trị hợp lý của tài
sản thuê hoặc là giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu (trường
hợp giá trị hợp lý cao hơn giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối
thiểu) cộng với các chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động
thuê tài chính.
Nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính không bao gồm thuế GTGT bên cho
thuê đã trả khi mua TSCĐ để cho thuê (số thuế này sẽ phải hoàn trả cho bên thuê,
được điều chỉnh theo công thức sau:
Giá trị còn lại của Giá trị còn lại
TSCĐ sau khi = của TSCĐ được x
đánh giá lại đánh giá lại
1.1.3. Yêu cầu quản lý TSCĐ
Với vai trò to lớn của TSCĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cho nên yêu cầu quản lý TSCĐ phải được thực hiện thật tốt. Cụ thể là:
Doanh nghiệp cần phải phản ảnh kịp thời số hiện có, tình hình biến động
của từng thứ loại, nhóm TSCĐ trong toàn doanh nghiệp cũng như trong từng đơn
vị sử dụng, đảm bảo an toàn về hiện vật, khai thác sử dụng đảm bảo khai thác hết
công suất có hiệu quả. Quản lý TSCĐ phải theo những nguyên tắc nhất định. Căn
cứ Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ tài chính
thì cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Phải lập bộ hồ sơ cho mọi TSCĐ có trong doanh nghiệp, hồ sơ bao gồm: Biên
bản giao nhận TSCĐ, hợp đồng, hóa đơn mua TSCĐ và các chứng từ có liên
quan khác.
- Tổ chức phân loại, thống kê, đánh số, lập thẻ riêng và theo dõi chi tiết theo
từng đối tượng ghi TSCĐ trong sổ theo dõi TSCĐ ở phòng kế toán và đơn vị sử
dụng.
- TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số khấu hao lũy kế và giá trị còn lại
trên sổ kế toán.
- Đối với những TSCĐ không cần dùng, chờ thanh lý nhưng chưa hết khấu hao,
doanh nghiệp phải thực hiện quản lý, theo dõi, bảo quản theo quy định hiện hành
và trích khấu hao theo quy định theo Thông tư 203/2009/TT-BTC.
- Doanh nghiệp phải thực hiện việc quản lý đối với những tài sản cố định đã
khấu hao hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh doanh như những TSCĐ
thông thường.
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
13
biệt, có thể kiểm soát và thu được lợi ích kinh tế từ việc nắm giữ tài sản.
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
14
TS Hạ Thị Thiều Dao
Để tiện cho việc theo dõi, quản lý phải tiến hành đánh số cho từng đối
tượng ghi TSCĐ. Mỗi đối tượng ghi TSCĐ phải có số liệu riêng. Việc đánh số
TSCĐ là do doanh nghiệp quy định tùy theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
đó, nhưng phải đảm bảo tính thuận tiện trong việc nhận biết TSCĐ theo nhóm,
theo loại và tuyệt đối không trùng lắp.
1.2.2. Nội dung kế toán chi tiết TSCĐ
Kế toán chi tiết TSCĐ gồm: Lập và thu nhận các chứng từ ban đầu có liên
quan đến TSCĐ ở doanh nghiệp, tổ chức kế toán chi tiết TSCĐ ở phòng kế toán
và tổ chức kế toán chi tiết ở các đơn vị sử dụng TSCĐ.
Chứng từ ban đầu là căn cứ để kế toán ghi sổ, bao gồm các chứng từ chủ yếu sau:
- Biên bản giao nhận TSCĐ.
- Biên bản thanh lý TSCĐ.
- Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn đã hoàn thành.
- Biên bản đánh giá lại TSCĐ.
- Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ.
- Các tài liệu kỹ thuật có liên quan.
1.2.2.1. Tổ chức kế toán chi tiết TSCĐ tại nơi sử dụng, bảo quản:
Việc theo dõi TSCĐ tại nơi sử dụng, bảo quản nhằm xác định và gắn trách
nhiệm sử dụng và bảo quản với từng bộ phận, góp phần nâng cao trách nhiệm và
sử dụng hiệu quả TSCĐ.
Tại nơi sử dụng, bảo quản TSCĐ (các phòng ban, phân xưởng) sử dụng sổ
“TSCĐ theo đơn vị sử dụng” để theo dõi tình hình tăng, giảm TSCĐ trong phạm
vi bộ phận quản lý.
1.2.2.2. Tổ chức kế toán chi tiết TSCĐ tại bộ phận kế toán:
Tại bộ phận kế toán của Doanh nghiệp, kế toán sử dụng “Thẻ TSCĐ” và “Sổ
+ Nguyên giá TSCĐ giảm do tháo bớt một, một số bộ phận.
+ Điều chỉnh giảm nguyên giá TSCĐ do đánh giá lại.
- Số dư (Bên Nợ): Nguyên giá TSCĐ hiện có của Doanh nghiệp.
- Các tài khoản cấp 2.
+ TK 2111: Nhà cửa, vật kiến trúc.
+ TK 2112: Máy móc thiết bị.
+ TK 2113: Phương tiện vận tải, truyền dẫn.
+ TK 2114: Thiết bị, dụng cụ quản lý.
+ TK 2115: Cây lâu năm, xúc vật làm việc.
+ TK 2118: TSCĐ khác.
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
16
TS Hạ Thị Thiều Dao
TK 213 – Tài sản cố định vô hình.
- Bên Nợ: Nguyên giá TSCĐ tăng.
- Bên Có: Nguyên giá TSCĐ giảm.
- Số dư (Bên Nợ): Nguyên giá của TSCĐ vô hình hiện có ở Doanh nghiệp.
- Các tài khoản cấp 2:
+ TK 2131: Quyền sử dụng đất.
+ TK 2132: Quyền phát hành.
+ TK 2133: Bản quyền, bằng sang chế.
+ TK 2134: Nhãn hiệu hàng hóa.
+ TK 2135: Phần máy vi tính.
+ TK 2136: Giấy phép và giấy phép nhượng quyền.
+ TK 2138: TSCĐ vô hình khác.
TK 214 – Hao mòn tài sản cố định.
- Bên Nợ: Giá trị hao mòn TSCĐ, BĐS đầu tư giảm do TSCĐ, BĐS đầu tư,
thanh lý, nhượng bán, điều động cho đơn vị khác, góp vốn liên doanh.
- Bên Có: Nguyên giá TSCĐ giảm.
+ Khoản thuế GTGT phải nộp của TSCĐ.
Nợ TK 133.
Có TK 33312 – Thuế GTGT hàng nhập khẩu.
(2) - Khi mua TSCĐ theo phương thức trả chậm, trả góp:
Nợ TK 211- Nguyên giá.
Nợ TK 133- Thuế GTGT.
Nợ TK 242- Chi phí trả trước dài hạn.
Có TK 331- Phải trả cho người bán
(3) - Khi doanh nghiệp được tài trợ biếu tặng:
Nợ TK 211- Nguyên giá TSCĐ.
Có TK 711- Thu nhập khác.
(4) - Khi doanh nghiệp sử dụng sản phẩm tự chế:
Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán.
Có TK 155- Thành phẩm.
Có TK 154- Chi phí sản phẩm dở dang.
(5) - TSCĐ mua dưới hình thức trao đổi:
Nợ TK 211- Nguyên giá TSCĐ.
Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ.
Có TK 211- Nguyên giá TSCĐ.
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
18
TSCĐ mua ngoài đưa
ngay vào sử dụng
Thuế GTGT đầu vào
(nếu có)
TSCĐ mua trả chậm (theo giá
mua trả tiền ngay
Thuế GTGT đầu vào
(nếu có)
lại
Số CL giữa giá đánh
giá > GTCL tương
ứng với phần lợi ích
của mình trong liên
doanh
TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất
chuyển thành BĐS đầu tư
Đồng thời kết
chuyển GTHM
Đánh giá giảm
Đánh giá tăng
TS Hạ Thị Thiều Dao
SƠ ĐỒ 1.1: KẾ TOÁN TỔNG HỢP TĂNG GIẢM TSCĐ
)
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
19
412
2143
217
711
221, 222, 223
411
241
217
214
138
222
214
doanh đều phải trích khấu hao và được tính vào chi phí SXKD trong kỳ.
- Những TSCĐ còn lại không tham gia vào hoạt động SXKD thì không phải
trích khấu hao, bao gồm: TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng; TSCĐ thuộc dự
trữ nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý hộ; TSCĐ chưa khấu hao hết bị
mất ; TSCĐ không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của
doanh nghiệp; TSCĐ sử dụng cho hoạt động phúc lợi phục vụ người lao động
của doanh nghiệp (trừ các TSCĐ phục vụ cho người lao động làm việc tại doanh
nghiệp như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể
chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón
người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do doanh
nghiệp đầu tư xây dựng), tập thể, dự án; TSCĐ dùng chung cho cả xã hội mà nhà
nước giao cho doanh nghiệp quản lý, quyền sử dụng đất lâu dài (TSCĐ vô hình
đặc biệt) và TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn còn sử dụng cho SXKD; TSCĐ là
nhà và đất ở trong trường hợp mua lại nhà và đất ở đã được nhà nước cấp quyền
sử dụng đất lâu dài thì giá trị quyền sử dụng đất không phải tính khấu hao.
b/ Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ:
Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình.
- Đối với TSCĐ còn mới chưa qua sử dụng, doanh nghiệp phải căn cứ vào
khung thời gian sử dụng TSCĐ theo Thông tư 203/2009/TT-BTC để xác định.
- Đối với TSCĐ đã qua sử dụng, thời gian sử dụng của TSCĐ được xác định như
sau:
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
20
TS Hạ Thị Thiều Dao
Trường hợp doanh nghiệp muốn xác định thời gian sử dụng của TSCĐ
khác với khung thời gian sử dụng theo Thông tư 203/2009/TT-BTC (Kể cả
TSCĐ mới hay đã qua sử dụng) thì doanh nghiệp phải giải trình rõ các căn cứ để
xác định thời gian sử dụng của TSCĐ đó để cơ quan chức năng xem xét, quyết
định theo ba tiêu chuẩn sau:
Thời gian sử dụng của TSCĐ
mới cùng TSCĐ
xác định theo TT 203
=
x
TS Hạ Thị Thiều Dao
- Là phương pháp khấu hao mà mức khấu hao hàng năm không thay đổi trong
suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ.
- Theo phương pháp này mức Khấu hao bình quân được tính như sau:
Giá trị phải khấu hao
=
Số năm sử dụng
- Nếu đơn vị thực hiện khấu hao cho từng tháng thì:
Mức khấu hao bình quân năm
= 12 tháng
Để công việc tính toán mức khấu hao TSCĐ phải trích được đơn giản, khi
Doanh nghiệp tính khấu hao TSCĐ theo phương pháp tuyến tính thì mức khấu
hao TSCĐ cần trích của tháng bất kỳ theo công thức:
Đối với tháng đầu (hoặc tháng cuối) khi TSCĐ được đưa vào sử dụng (hoặc
ngừng sử dụng) không phải từ đầu tháng (cuối tháng) thì mức khấu hao tăng
(giảm) trong tháng được xác định theo công thức:
b/ Phương pháp khấu hao số dư giảm dần có điều chỉnh: (Phương pháp khấu hao
nhanh).
- Là phương pháp mà số khấu hao phải trích hàng năm của TSCĐ giảm dần
trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ đó.
- Để thực hiện theo phương pháp này, TSCĐ phải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ TSCĐ đầu tư mới (chưa qua sử dụng).
+ TSCĐ trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi
phải thay đổi, phát triển nhanh. Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế
cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định
Trong đó:
Hệ số điều chỉnh: Quy định theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày
20/10/2009 của Bộ trưởng bộ tài chính.
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư
giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị
còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu hao
được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của
TSCĐ.
- Tỷ lệ khấu hao nhanh ổn định trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ.
c/ Phương pháp khấu hao theo sản lượng.
- Điều kiện áp dụng:
+ Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm.
+ Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm theo công suất thiết
kế của TSCĐ.
+ Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không
thấp hơn 50% công suất thiết kế.
- TSCĐ trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao
theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau:
+ Căn cứ vào hồ sơ kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định
tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ,
gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế.
+ Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối
lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ.
+ Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức
dưới đây:
= x
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
23
- Bên Có: Nguyên giá TSCĐ giảm.
- Số Dư (Bên Nợ): Nguyên giá của TSCĐ hiện có của doanh nghiệp.
- Các tài khoản cấp 2:
+ TK2141: Hao mòn TSCĐ hữu hình.
+ TK2142: Hao mòn TSCĐ thuê tài chính.
+ TK2143: Hao mòn TSCĐ vô hình.
+ TK2147: Hao mòn BĐS đầu tư.
Các tài khoản liên quan khác: 111, 112, 331, 133, 333.
1.4.2.2. Phương pháp kế toán các nghiệp vụ chủ yếu.
(1) Hàng tháng khi trích khấu hao tính vào chi phí của các đối tượng sử dụng.
Nợ TK 627, 641, 642.
Có TK 214 - Số khấu hao phải trích.
(2) Trường hợp vào cuối năm tài chính xem xét lại thời gian trích khấu hao và
phương pháp tính khấu hao TSCĐ vô hình nếu có sự thay đổi mức khấu
hao cần phải điều chỉnh số khấu hao ghi trên sổ kế toán như sau:
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Dung
Khóa luận: Hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức hạch toán Tài Sản Cố Định
24
Mức khấu hao cho 1 đơn vị sản phẩm
Giá trị phải khấu hao
Sản lượng thiết kế
Mức khấu hao năm
Mức khấu hao cho 1
đơn vị sản phẩm
Số lượng sản phẩm sản
phẩm sản xuất trong
năm
=
x
TS Hạ Thị Thiều Dao