Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội - Pdf 10

Lời mở đầu
Lý luận cũng nh thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy hoạt
động xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan trọng nhất
trong toàn bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia. Hoạt động xuất nhập
khẩu đã góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách, đặc biệt là thu
ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán giải quyết công ăn việc làm cho ngời
dân, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trởng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế
của đất nớc trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam từ nền kinh tế lạc hậu và kém phát triển chuyển sang xây
dựng nền kinh tế thị trờng thì việc mở rộng buôn bán, quan hệ với nớc ngoài
là hết sức cần thiết. Sau khi nhận thức đợc những sai lầm trong đờng lối kinh
tế, Đảng và Nhà nớc ta quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới theo hớng
"mở cửa" nền kinh tế hớng mạnh về xuất khẩu, không ngừng mở rộng quan
hệ hợp tác toàn diện với các nớc trên thế giới, phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Nhờ
vậy, hoạt động ngoại thơng nói chung và hoạt động XNK nói riêng của Việt
Nam trong thời gian qua đã đạt đợc những thành tựu đáng kể và ngày càng
khẳng định vị trí của mình trong toàn bộ nền kinh tế.
Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh XNK cần phải nâng cao chất lợng
và đa dạng hoá các mặt hàng, muốn vậy phải có sự đầu t thích đáng cho quá
trình sản xuất, kinh doanh nh đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị.
Nhng trên thực tế, vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh
vực này còn ít ỏi, không thể giúp cho các doanh nghiệp tự đổi mới công nghệ
nâng cao chất lợng. Xuất phát từ thực tế này và để đạt đợc mục tiêu của Đảng
và Nhà nớc đề ra thì cần có sự đầu t của NHTM, đặc biệt là NHNT với t cách
là trung tâm cung ứng vốn, hỗ trợ đắc lực cho lĩnh vực XNK của nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một hoạt động hết sức phức tạp,
chứa đựng nhiều rủi ro. Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh tế
trong nớc mà còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác

nhau và bị ảnh hởng mạnh theo sự biến động của thị trờng quốc tế. Do đó,


mong đợc sự chỉ dạy của thầy cô giáo và góp ý của các bạn để bài viết đợc
hoàn thiện tốt hơn.
Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Phạm Hồng
Vân ngời đã tận tình giúp đỡ em trong việc chọn đề tài, hớng dẫn phơng hớng
triển khai đề tài và tổng kết các kết quả nghiên cứu một cách có hệ thống.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị tại NHNT Hà
Nội, đặc biệt là phòng Tín dụng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng nh chỉ
bảo hớng dẫn em hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, tháng 4/2003
Sinh viên
Lê Tuấn Anh

3

Chơng I
Một số vấn đề cơ bản về tài trợ cho xuất nhập khẩu
của ngân hàng thơng mại.
1. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu
1. 1. Sự cần thiết của hoạt động xuất nhập khẩu.
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào
nền sản xuất trong nớc mà còn phải quan hệ với các nớc bên ngoài. Do có sự
khác nhau về điều kiện tự nhiên nh tài nguyên, khí hậu... mà mỗi quốc gia có
thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định.
Để đạt đợc hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng
đa dạng ở trong nớc, các quốc gia đều mong muốn có đợc những sản phẩm
chất lợng cao với giá rẻ hơn từ các nớc khác đồng thời mở rộng đợc thị trờng
tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình. Chính từ mong muốn đó đã
làm nảy sinh hoạt động thơng mại quốc tế.
Hoạt động thơng mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vợt ra

* Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Nhập khẩu tạo ra hàng hoá bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong nớc
và thay thế những sản phẩm trong nớc không sản xuất đợc hay sản xuất với
chi phí cao hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng nội địa một cách tốt
nhất, từ đó tạo sự ổn định về cung-cầu trong nớc và cao hơn là sự ổn định
kinh tế vĩ mô.
- Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng
kĩ thuật, đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc
cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng nh
góp phần định hớng sản phẩm, định hớng thị trờng cho xuất khẩu.

5

Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.
1. 2. Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu.
Nh đã nói trên, trong nền kinh tế mở các doanh nghiệp luôn phải đối
đầu với sự cạnh tranh gay gắt. Họ không chỉ phải cạnh tranh với các nhà sản
xuất trong nớc mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nớc ngoài. Để chiến
thắng trong cạnh tranh, ngoài việc cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nớc nh
sự u đãi về thuế, sự điều chỉnh tỉ giá hối đoái phù hợp... các doanh nghiệp
còn cần phải có một tiềm lực tài chính mạnh để thực hiện các hoạt động nh
đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm máy móc hiện đại, mua sắm
nguyên vật liệu, cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành... Song
trên thực tế do khả năng tài chính có hạn nên hầu hết các doanh nghiệp đều
cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.

+- Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại
diện tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Để hoàn thành tốt giai
đoạn này các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến hành
nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trng bày, giới
thiệu. Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính xác
cho đàm phán hợp đồng. Chi phí cho những hoạt động này không phải nhỏ,
đặc biệt với các cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
- Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trờng hợp nhà xuất khẩu cha có uy
tín cao ở nớc ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo
đảm hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng
hoặc hoàn thành công trình không đúng nh thoả thuận.
Trờng hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu
là ngời nớc ngoài đang gặp khó khăn về tài chính, nhà xuất khẩu có thể đề
nghị ngân hàng của mình cung cấp tín dụng tơng đơng với số tiền đặt cọc và
nhà nhập khẩu có nghĩa vụ chi trả cho khoản tín dụng đó

7

- Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu
sẽ tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn nh,
nhà máy, xí nghiệp... việc này thờng đi kèm với chi phí lớn vợt quá mức đặt
cọc.
- Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh
toán tiếp theo của ngời mua, trong thời gian này thờng nảy sinh các nhu cầu
tài chính cao về vật t và chi phí liên quan khác vợt qua các khoản thanh toán
giữa chừng.
- Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể
nảy sinh các chi phí cần đợc tài trợ nh chi phí vận tải, bảo hiểm... tuỳ theo
điều kiện cung ứng.
- Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá

xuất trình chứng từ (có th tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì th-
ờng nhà nhập khẩu chỉ có thể nhận đợc hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ
hoặc có thể tài trợ đợc.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán
tiếp thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời
gian từ khi nhập hàng về tới khi hàng hoá đợc tiêu thụ.
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà
nhập khẩu sẽ có nhu cầu đợc tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản phẩm
mới tới khi tiêu thụ đợc các sản phẩm làm ra và thu đợc tiền hàng.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho XNK ở trên ta có thể khẳng định
rằng hoạt động kinh doanh XNK có một nhu cầu tài trợ rất lớn. Vậy thì để
đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dới đây là một số nguồn
tài trợ thờng dùng cho XNK. 9

1.3. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoạt động XNK là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do vậy
nó cũng đợc tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những nguồn tài
trợ thờng đợc sử dụng là:
* Tín dụng thơng mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ đợc
thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các công
cụ chủ yêú là kỳ phiếu và hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn đợc a
dùng vì dễ thực hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông qua chiết
khấu tại các ngân hàng), linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên, các công cụ nh
hối phiếu thờng đợc sử dụng trên cơ sở có ngân hàng đứng ra chấp nhận hay
bảo đảm.
* Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự có
có thể là vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty cổ

nghiệp thông qua nhiều hình thức và với những mục đích sử dụng khác nhau
nh: cho vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp đồng, cho vay
có đảm bảo... để thu mua dự trữ, sản xuất, nhập khẩu nguyên vật liệu, đáp
ứng nhu cầu vốn lu động. Hoặc cho vay dài hạn để đầu t dự án, mua sắm máy
móc thiết bị, dây chuyền công nghệ... Tuỳ vào từng doanh nghiệp mà Ngân
hàng có thể áp dụng những hình thức nhất định sao cho thuận lợi với cả hai
bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng ngân hàng là có khả năng linh
hoạt về lãi suất cũng nh thời hạn.
* Các nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên các doanh
nghiệp XNK còn có thể đợc tài trợ bằng các nguồn nh đầu t nớc ngoài, vay
nợ viện trợ của nớc ngoài, hỗ trợ của Chính phủ... Hiện nay các nguồn này
thờng cũng đợc sử dụng thông qua các Ngân hàng.
Nh vậy, nguồn tài trợ cho XNK rất đa dạng nhng trong đó nguồn tín
dụng ngân hàng nhờ có những u thế riêng nên vẫn nắm giữ một vị trí đặ c
biệt đối với sự phát triễn của đất nớc nói chung vá hoạt động XNK nói riêng11

2. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
2.1. Khái niệm, Vai trò của tín dụng ngân hàng
2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế đợc rất nhiều nhà kinh tế
học đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng. Tuy
nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội giữa ng-
ời cho vay và ngời đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự vận
động của giá trị vốn tín dụng đợc biểu hiện dới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín
dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các

và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa ngời mua và ngời bán sự có mặt của
ngân hàng sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn chế đợc
những rủi ro không thanh toán khi ngân hàng đứng ra đảm bảo cung cấp tín
dụng cho nhà nhập khẩu và ngợc lại nhờ nguồn tín dụng của ngân hàng nhà
nhập khẩu thực hiện đợc những nhập khẩu quan trọng trong khi khả năng tài
chính của họ cha đáp ứng đợc.
- Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của
nớc ngoài cho hoạt động XNK. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ
của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó đợc thực
hiện qua các ngân hàng nớc sở tại.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK càng có ý
nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nớc, trong đó có
chính sách hớng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ cung cấp
cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi xuất u đãi mà nhờ đó họ
có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh doanh của mình. 13

2.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng th-
ơng mại.
Thơng mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng, phức tạp.
Với t cách là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
việc đảm bảo cho hoạt động XNK diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận lợi cho
cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Dựa trên các tiêu chí ta có thể chia tín
dụng XNK ra thành các hình thức nh sau:
2.2.1. Cho vay trong khuôn khổ thanh toán bằng L/C
Th tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng cam
kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu
do ngời này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi ngời này xuất trình cho

toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt với ngân
hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản ánh của khách
hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp
nhận tài trợ.
* Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C đã
đợc chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ sản phẩm
và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trớc tiền hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể
thơng lợng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trớc tiền
cho mình trớc khi bộ chứng từ đợc thanh toán. 15

2.2.2. Cho vay trong khuôn khổ ph ơng thức nhờ thu kèm chứng từ
- Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: Ngân hàng cho vay thu
mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấu hoặc ứng trớc bộ chứng từ hàng
xuất khẩu.
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: Ngân hàng tiếp nhận
chứng từ từ ngân hàng nớc ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu.
Nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì cần phải có sự tài trợ
của ngân hàng cho vay thanh toán hàng nhập khẩu.
2.2.3. Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Trong kinh doanh ngoại thơng hối phiếu đóng vai trò rất quan trọng,
trên cơ sở hối phiếu ngân hàng có các hình thức cho vay sau:
* Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một loại tín dụng ngân hàng cung cấp cho

hàng ít sữ dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân
hàng.
- Chiết khấu đợc phép truy đòi
Cũng tơng tự nh hình thức trên nhng trách nhiệm thanh toán hối phiếu
vẩn còn đối với ngời chiết khấu hối phiếu(nhà xuất khẩu ) và giá trị chiết
khấu cao hơn.
- Chấp nhận hối phiếu:
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp
nhận hối phiếu. Ngời vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu và
khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính. Thực chất ngân
hàng cha phải xuất tiền thực sự cho ngời vay. Tuy nhiên khi đến hạn, nếu nhà
nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì ngời cho vay (ngân hàng) - ngời
đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trờng hợp bên bán thiếu tin
tởng khả năng thanh toán của bên mua. Họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu
một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Nếu
ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một

17

khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến
hạn.
Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng
chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu nh bên mua không có tiền
thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán.
Đơng nhiên nếu đến hạn thanh toán hối phiếu, bên mua có đủ tiền thì
ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra. Nh vậy, khoản tín dụng này chỉ là
hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính. Trong trờng hợp này, ngân hàng sẽ
chỉ nhận đợc một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh
chịu rủi ro tín dụng mà thôi.

tín dụng chứng từ còn forfaiting lại dựa vào chúng và sự bảo đảm của ngân hàng.
* Tín dụng thuê mua
Thuê mua là hình thức tài trợ vốn, ra đời ở Mỹ vào năm 1952, sau đó
nhanh chóng thâm nhập vào Châu Âu đầu những năm 1960 và dần dần hiện
nay đang đợc các nớc trên thế giới áp dụng.
Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó ngời
cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho ngời đi thuê sử dụng.
Ngời thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê và
khi kết thúc thời hạn họ có thể đợc quyền sở hữu tài sản thuê hoặc đợc mua
lại tài sản thuê hay là đợc quyền thuê tiếp. Điều này tuỳ thuộc vào thoả thuận
của hai bên khi ký hợp đồng thuê. Có hai loại hình thức thuê mua. Đó là: cho
thuê vận hành và cho thuê tài chính.
- Cho thuê tai chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác. Bên đi thuê đợc
chuyển quyền sở hữu hoặc tiếp tục thuê khi kết thúc thời hạn thuê.
- Cho thuê vận hành: bên đi thuê thuê máy móc, thiết bị trong thời gian
ngắn để sử dụng vào mục đích tạm thời. Mọi rủi ro và lợi ích đem lại đối với
quyền sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc ngời cho thuê.
So với hình thức cho vay truyền thống, hình thức thuê mua này có
những u điểm sau:

19

+ Các doanh nghiệp sẽ không phải bỏ tiền mua thiết bị ngay lập
tức mà trả tiền thuê thiết bị theo định kỳ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
chủ động hơn về vốn để tập trung cho sản xuất. Hình thức này có ý nghĩa
nhất đối với doanh nghiệp không đủ vốn nhng vẫn có thể đi thuê thiết bị thiết
bị để sản xuất và dùng một phần lợi thu đợc từ sản xuất để trả tiền thuê định
kỳ.
+ So với đi vay ngân hàng, việc thế chấp để đợc thuê máy móc

của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính lãi
rồi) chi trả một khoản phí cho ngời bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ đợc thanh
toán nợ. Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ chiết khấu
tại một ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu vốn của mình.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất kì ngân hàng nào, khi tiến hành
bảo lãnh, nghĩa là đợc sự tín nhiệm, đợc sự tin tởng về phía bên xuất khẩu,
bên nhập khẩu. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu t-
ợng nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy uy tín,
danh dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay.
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phơng thức cho vay thông thờng
nghĩa là khi bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích xin vay,
có khả năng thanh toán và có tài sản thế chấp. Khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu
không có đủ khả năng thanh toán, thì cần phải làm thủ tục xin vay tại ngân
hàng. Nh vậy, mục đích bảo lãnh đã đợc thực hiện, nghĩa là ngân hàng bảo lãnh
muốn khách hàng của mình vay nhằm thu thêm đợc một khoản lãi, có khách
hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh.

3. Rủi ro trong tín dụng tài trợ XNK của ngân hàng thơng mại
Rủi ro trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một dạng rủi ro trong hoạt
động của ngân hàng thơng mại. Đó là những biến cố bất thờng, không mong đợi
xảy ra, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trờng với xu hớng
toàn cầu hoá ngày càng rõ rệt và quan hệ thơng mại quốc tế ngày càng đợc mở
rộng thì đồng thời hoạt động XNK cũng đồng thời cũng phát triển với quy mô
ngày càng lớn. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy lợi thế của
các quốc gia trong quan hệ kinh tế đối ngoại với các quốc gia khác. Tuy nhiên,

21

cùng với sự gia tăng của hoạt động XNK thì vai trò của ngân hàng trong việc hỗ

22

ợc. Vị vậy, đòi hỏi các ngân hàng phải tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối
đa rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra. Muốn vậy các ngân hàng phải têjc hiện có
hiệu quả trong việc tìm hiểu thông tin về đối tác, về thị trờng, về dự báo và đa ra
các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Các biện pháp phải đợc thiết lập một cách đồng bộ và phải đợc thc hiện
một cách nghiêm túc và có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng chuyên trách. Có
nh vậy mới có thể thực hiện tốt đợc công tác phòng ngừa ruỉ ro, hạn chế tối đa tổn
thất, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động XNK nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ
cho đất nớc, đổi mới công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

4. Các yếu tố ảnh hởng đến hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu của ngân hàng thơng mại ở Việt Nam
Do việc cho vay có liên quan chặt chẽ đến cả ngân hàng và khách hàng
mà nó phục vụ, các chính sách cho vay phải đợc phác hoạ một cách cẩn thận
sau khi đã xem xét nhiều yếu tố. Sau đây là một số yếu tố quan trọng nhất
ảnh hởng đến tín dụng tài trợ XNK của NHTM.
4.1. Chủ trơng chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nớc
Các hoạt động kinh tế nói chung và XNK nói riêng chịu tác động rất lớn
bởi chính sách chủ trơng đờng lối phát triển kinh tế của Nhà nớc.
- Về mặt tích cực: chính sách vĩ mô của Nhà nớc có thể tạo điều kiện
cho vay XNK của ngân hàng đợc mở rộng và phát triển. Nếu Nhà nớc dùng
chính sách tiền tệ mở rộng thì NHTM đợc cấp thêm vốn dự trữ, khả năng cho
vay của ngân hàng sẽ gia tăng. Các ngân hàng có thể có chính sách cho vay
tự do hơn. Chính sách lãi suất linh hoạt, lãi suất thực dơng luôn là đòn bẩy
thúc đẩy hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hoạt động tín dụng tài trợ XNK
chủ yếu diễn ra theo hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Vì vậy nếu Nhà nớc
cho phép tập trung ngoại tệ vào ngân hàng, quản lý ngoại tệ một cách chặt
chẽ thì ngân hàng sẽ có nhiều nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập máy

là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro bất khả kháng đối với các
khoản cho vay của Ngân hàng. 24

4.3. Khả năng ý thức thanh toán của doanh nghiệp XNK
Nhu cầu tín dụng của ngân hàng là yếu tố quyết định đến hoạt động tín
dụng ngân hàng đợc mở rộng hay thu hẹp. Song nếu có nhu cầu vay vốn để
nhập máy móc thiết bị từ nớc ngoài để sản xuất hàng xuất khẩu nhng khả
năng hoàn trả của doanh nghiệp không cao thì ngân hàng cũng sẽ không cho
vay. Mặt khác, khi ngân hàng cấp vốn cho vay các doanh nghiệp XNK, nhng
vì một nguyên nhân nào đó các ngân hàng này gặp rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh (bị huỷ bỏ hợp đồng, hàng bị mất cắp giảm giá trị... ) làm
cho họ không thu hồi đủ vốn để trả lại các khoản vay cho ngân hàng. Đối với
ngân hàng khi mà có quá nhiều khách hàng đến hạn trả mà khôn có khả năng
thanh toán hoặc cố ý chây ỳ thiếu ý thức tôn trọng các điều khoản thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán của mình
thậm chí ngân hàng còn rơi vào tình trạng phá sản.
Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và của
doanh nghiệp hoạt động XNK nói riêng với thái độ ý thức thanh toán của
doanh nghiệp sẽ thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động tín dụng của ngân hàng.
4.4. Năng lực cho vay của ngân hàng
Khả năng huy động vốn của năng lực cho vay phụ thuộc vào vốn tự có
của ngân hàng. Do đó nếu doanh nghiệp kinh doanh XNK có nhu cầu vốn
lớn, trong khi nguồn vốn của ngân hàng nhỏ thì sẽ không thoả mãn yêu cầu
của doanh nghiệp. Tín dụng XNK của NHTM gắn liền với nguồn vốn ngoại
tệ. Do đó làm thế nào để huy động đủ ngoại tệ đáp ứng nhu cầu vay của
doanh nghiệp nhập khẩu đang là vấn đề lớn đối với nhiều NHTM.
4.5. Các nhân tố khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status