Tài liệu LUẬN VĂN: Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt Nam - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của
lực lượng sản xuất và sự đa dạng hoá các
loại hình sở hữu ở Việt Nam Lời mở đầu

Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng
sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát
triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .
Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu
sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt
đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và
kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới
kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất
mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc

liệu lao động . Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao động còn được gọi
là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế . Trong bất kỳ một nền sản xuất nào công cụ sản xuất bao
giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quan trọng nhất . Hiện nay công cụ sản
xuất của con người không ngừng được cải thiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của
khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần
lao động của con người . Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất , cách mạng nhất của
LLSX
Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản phẩm
tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành và gắn liền với
quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong đó
quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền
văn minh vật chất trước đó.
Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà con người chưa
từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của KHKT và quá trình công nghệ tiên tiến, con
người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và
giá trị của nền văn minh nhân loại. Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ
trở thành động lực cuốn hút mọi hoạt động cuả con người.
Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi con người
thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân . Chính vậy mà Lê Nin đã viết : “
lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân , là người lao động “ .
Người lao động với những khinh nghiệm , thói quen lao động , sử dụng tư liệu sản xuất để
tạo ra của cải vật chất . Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát
huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người . Đại hội 7 của Đảng đã
khẳng định : “ Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung
tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội .”
Người lao động với tư cách là một bộ phận của LLSX xã hội phảI là người có thể
lực , có tri thức văn hoá , có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khinh nghiệm và thói

Sở hữu xã hội là loại hình sở hữu mà trong đó những TLSX chủ yếu thuộc về
mọi thành viên trong xã hội . Trên cơ sở đó vị trí bình đẳng trong tổ chức lao động xã hội
và phân phối sản xuất . Mục đích sản xuất dưới chế độ công hữu là để đảm bảo đời sống và
vật chất của người lao động được nâng cao. Sở hữu xã hội điển hình có hai hình thức cơ
bản : Sở hữu của thị tộc, bộ lạc trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ trong phương thức SX
cộng sản nguyên thuỷ. Sở hữu tập thể ( sở hữu hợp tác xã )và sở hữu toàn dân( sở hữu
quốc doanh ) trong phương thức SX cộng sản chủ nghĩa , mà giai đoạn đầu của CNXH .
Trước đây nước ta với nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung quan liêu, bao cấp,
nền kinh tế tự cung , tự cấp. Do đó nó chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu chính tương ứng với
thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể . Trong nền kinh tế này con người không được tự
do buôn bán, trao đổi hàng hoá , do đó chưa xuất hiện sở hữu tư nhân mà chỉ tồn tại hai
hình thửc sở hữu đó là sở hữu tập thể , quôc doanh dưới sự điều tiết giá cả của nhà nước .


/ Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất và đa dạng hoá
hình thức sở hữu ở việt nam:
1/ Một số vấn đề về phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay :
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển của LLSX một cách
đúng hướng . Xác định con đường đi lên của CNXH không qua giai đoạn phát triển của
CNTB, trong đó có vấn đề phát triển LLSX như thế nào là nhiệm vụ quan trọng mang tính
cấp bách ở nước ta . Nó không những ảnh hưởng đến việc định hướng sự phát triển LLSX
mà còn tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế - xã hội nước nhà .
Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng đều có quy luật vận động và phát triển của nó .
Đối với LLSX cũng vậy, nó cũng tuân thủ sự vận động và phất triển bằng biện chứng giữa
tuần tự và nhảy vọt. Tuần tự trong LLSX được hiểu là một quá trình biến đổi dần dần về số
lượng của nó . Nhảy vọt trong LLSX là một quá trùnh biến đổi sâu sắc căn bản về chất
lượng của nó, là quá trình biến đổi từ chất cũ sang chất mới.

mà thiếu sự cân xứng cần thiết ở yếu tố con người cả về trình độ lẫn thái độ lao động của
con người. Bản thân con người là yếu tố chủ thể quan trọng nhất trong SX, xong đặt trong
cơ chế quản lý tập chung quan liêu bao cấp nên con người đã trở thành thực thể thụ động,
năng lực sáng tạo bị ức chế và mất đi một cách tự nhiên. Tất cả những sai lầm đó đã tạo
nên sự ngã gục trong tiến trình phát triển của LLSX.Trong hoàn cảnh hiện nay LLSX
truyền thống còn là nguồn bổ xung quan trọng đối với giai đoạn chuyển tiếp của LLSX. Đi
lên sản xuất XHCN đòi hỏi tất yếu phải thực hiện: hiện đại hoá LLSX, kết hợp các yếu tố
truyền thống và hiện đại để tạo nên một sự phát triển ổn định, bình thường của LLSX .
Trong thời đại ngày nay không thể đẩy nhanh hay rút ngắn thời hạn phát triển tự
nhiên của LLSX, thực hiện những bước nhảy vọt về chất, nếu không có sự kết hợp trong
nước với nước ngoài. Những tiến bộ to lớn của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày
nay trên thế giới, cũng như tính quốc tế hoá ngày càng tăng của LLSX đã tác động mạnh
mẽ đến nhiều quốc gia .Từ đó chúng ta có thể tạo nên sự kết hợp những tiến bộ về LLSX
vốn có trong nước để đẩy nhanh và rút ngắn thời hạn của lịch sử tự nhiên, vươn lên kịp
trình độ của thế giới và trên cơ sở đó chúng ta có thể xây dựng một nền sản xuất hiên đại,
mở cửa hợp tác kinh tế với các nước bạn. Nó giúp cho việc xoá bỏ tình trạng biệt lập, khép
kín và trì trệ về nền kinh tế và văn hoá nước nhà .
Con người có thể tác động đến quá trình phát triển của LLSX, sự tác động này
được thể hiện ở chỗ con người có thể đẩy nhanh hay kìm hãm sự phát triển của LLSX
thông qua những hoạt động phù hợp hay không phù hợp với những quy luật vận động của
LLSX với quy luật phù hợp của QHSX. Mặc dù TLSX, tiền vốn khoa học và kỹ thuật đều
là những yếu tố cần thiết để thực hiện sản xuất, xong tất cả phải thông qua hoạt động của
con người mới đem lại những hiệu quả kinh tế, những giá trị mới. Những yếu tố trên sẽ tồn
tại dưới dạng tiềm năng và nó sẽ trở thành vô hiệu hoá khi nó không được đặt trong mối
quan hệ giữa tư liệu lao động và người lao động, đối tượng lao động .
2/Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt Nam:
a/ Tất yếu khách quan của sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nước ta
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực tiễn cho thấy một nền kinh tế
nhiều thành phần đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu như:
- Sở hữu toàn dân.
- Sở hữu Nhà nước.
- Sở hữu tập thể.
- Sở hữu cá nhân.
- Sở hữu Kinh tế tư bản tư nhân.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần mỗi hình thức nói trên có địa vị và vai trò
khác nhau. Địa vị của chúng phụ thuộc vào sự phát triển của LLSX, tiến trình của nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Thừa nhận đa dạng hoá các loại
hình sở hữu không đồng nghĩa với sự chấp nhận chế độ người áp bức bóc lột con người.
Việc xây dựng nền kinh tế thị trường không thể tách rời việc đa dạng hoá các hình thức sở
hữu về TLSX. Tuy mhiên kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh tế
theo định hướng XHCN, chính vì vậy việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu mang nét độc
đoá riêng. Sự hình thành và phát triển một cách đa dạng các hình thức sở hữu cho phép
giải phóng được các năng lực sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống
nhân dân .

3/Sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX
a/ Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất :
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của TLLD và người lao động. Khi
công cụ sản xuất được sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sản xuất ra một sản phẩm
cho XH không cần đến lao động của nhiều người. Công cụ sản xuất được nhiều người sử
dụng để sản xuất ra các vật phẩm thì LLSX mang tính chất xã hội .
Trình độ phát triển củaTLLD mà đặc biệt là CCSX, là thước đo trình độ chinh
phục tự nhiên của con người. Đồng thời nó cũng là trình độ sản xuất và tiêu chuẩn đánh
giá sự khác nhau giữa các thời đại, xã hội khác nhau. Chính công cụ sản xuất và phương
tiện lao động kết hợp với lao động sáng tạo của con người là yếu tố quyết định đến năng

chế độ chiếm hữu nô lệ đã đạt được những kỳ tích to lớn trong lịch sử văn minh nhân loại .
Tóm lai : Quy luật về sự phù hợp của QHSX nói chung, QHSH nói riêng với tính
chất và trình độ phát triển của LLSX là quy luật chung của sự phát triển xã hội. Dưới tác
động của quy luật này xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến cao của phương thức
sản xuất, tuy nhiên sự phù hợp này phải là sự phù hợp biện chứng, sự phù hợp không loại
trừ mâu thuẫn .
LLSX như chúng ta đã thấy luôn luôn nằm trong quan hệ biện chứng với quan hệ
sản xuất. LLSX được phát triển nhanh hay chậm về số lượng hay chất lượng cũng như tốc
độ hiệu quả phù hợp của nó phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề như: QHSX có phù hợp với nó
hay không. Chẳng hạn khi LLSX chưa phát triển đến một trình độ cao, nhu cầu xã hội
chưa phải là một tất yếu thì việc đa dạng các quan hệ sở hữu thông qua sự tồn tại của nhiều
thành phần kinh tế khác nhau, sẽ mở ra những khả năng cho LLSX tiếp tục phát triển.
Ngược lại, nếu giữa LLSX và QHSX có những mâu thuẫn thì không những QHSX lỗi thời
mà ngay cả QHSX đi quá với LLSX cũng sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của LLSX.
Nhưng QHSX luôn luôn được đổi mới hoàn thiện cho phù hợp với LLSX thì khi đó quá
trình biến đổi tích luỹ về lượng của LLSX sẽ nhanh hơn, mâu thuẫn giữa chúng sẽ được
giải quyết kịp thời. Do đó bước nhảy vọt trong sự phát triển của nó có thể diễn ra sớm hơn.
Chính việc hoàn thiện QHSX quyết định những nhịp độ tiến bộ kkoa học kỹ thuật vào sự
tiến bộ của hệ thống LLSX.

4/ Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX với sự đa dạng hoá các hình
thức sở hữu
Trước đây nói đến CNXH chúng ta thường nói đến chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất giữa hai hình thức toàn dân và tập thể. ở nước ta từ Đại hội thứ 6 của Đảng đến
nay đã hơn mười 10 năm thực hiện đường lối đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập chung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Thành tựu đạt được trong 10

mẽ, tích cực đến sự phát triển kinh tế của nước nhà. Nó đã đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn
lạc hậu, tiến lên chủ nghĩa xã hội nhất là sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Tuy
nhiên thực trạng LLSX ở nước ta vẫn còn trong tình trạng thấp kém so với các nước trên
thế giới. Do đó vấn đề đặt ra cần phải giải quyết là nắm vững và vận dụng quy luật quan hệ
sản xuất với LLSX, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý nền kinh tế ngày một tốt
hơn.
Trong quá trình phát triển các hình thức sở hữu, để đảm bảo định hướng XHCN,
cần giải quyết 2 vấn đề cơ bản sau:
-Thứ nhất: Phải đảm bảo kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế, nó phải giữ vị trí then chốt theo đúng quỹ đạo của CNXH.
-Thứ hai: Đặc biệt chú trọng phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước dưới
mọi hình thức. Đây là quá trình phát triển tất yếu của một chu kỳ sản xuất kinh doanh, cho
phép phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, tiếp cận với văn minh thế giới.
-ý nghĩa bản thân: đây là đề tài mang một ý nghĩa sâu sắc. Qua nghiên cứu đề tài
này giúp em có thêm nhận thức, hiểu biết một cách toàn diện về các thành phần kinh tế xã
hội,vấn đề phát triển lực lượng sản xuất hiện nay của đất nước. Nó hết sức bổ ích cho việc
nghiên cứu và học tập của một sinh viên kinh tế đồng thời nó cũng giúp cho chúng ta nhận
thức đúng đắn về nền kinh tế nước nhà.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Triết học Mác-Lê nin tập II.
2. Giáo trình Kinh tế chính trị tập I, II.
3. Tạp chí Triết học số 6(tháng 12/1996), số 6 (tháng 12/1998).
4. Kinh tế và phát triển số 17 (năm 1997).
5. Tuyên ngôn Đảng cộng sản Mác-Anghen toàn tập, tập 4.

3. Sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX 8
a. Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất 8
b. Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển, biến đổi của
các hình thức sở hữu
9
c. Sự tác động trở lại của sự đang dạng hoá các hình thức sở hữu đối với lực
lượng sản xuất
9
4. Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX với sự đa dạng hoá các
hình thức sở hữu
10
Kết luận
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status