Tài liệu LUẬN VĂN: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát từ xa của thanh tra Ngân hàng nhà nước với các tổ chức tín dụng - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả giám sát từ xa của thanh tra Ngân
hàng nhà nước với các tổ chức tín dụng

Lời nói đầu

Trong bất kỳ một hoạt động quản lý nào, để đảm bảo cho những mục tiêu

Thanh tra giám sát của thanh tra ngân hàng
nhà nước với các tổ chức tín dụng

1.Sự hình thành và phát triển của thanh tra Ngân hàng Nhà nước.
Trong lịch sử phát triển loài người, Nhà nước chỉ xuất hiện gắn liền với sự
xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sản xuất hàng hoá và đấu tranh
giai cấp, Nhà nước là một bộ máy, một hệ thống chặt chẽ tác động vào mọi mặt
đời sống kinh tế XH. Tuy nhiên còn nhiều quan điểm khác nhau về vai trò kinh tế
của Nhà nước, nhưng sự phát triển của kinh tế thế giới đã chứng tỏ rằng là không
thể thuần tuý theo sự điều tiết của “bàn tay vô hình” mà phải có sự điều tiết của
Nhà nước.
Vai trò của Nhà nước trong cơ chế thị trường cũng phải được nghiên cứu
một cách kỹ lưỡng và uyển chuyển, bởi lẽ kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm
nhưng cũng bộc lộ không ít khuyết tật và hạn chế nếu không được điều chỉnh sẽ
đi đến thất bại. Biện pháp để hạn chế là Nhà nước sử dụng công cụ quản lý vĩ mô,
kiểm tra kiểm soát, trong đó thanh tra là công cụ rất đắc lực và thiết yếu.Thanh tra
luôn gắn liền với Nhà nước là công cụ phục vụ cho giai cấp thống trị, lịch sử loài
người cũng đã chứng minh: Đã có phải thanh tra, công cụ kiểm tra, kiểm soát phục
vụ ý đồ thống trị của Nhà nước đó, tuy tên gọi và hình thức tổ chức có khác nhau
nhưng đều là công cụ của Nhà nước trong công tác qủan xã hội.
Lịch sử hình thành và phát triển ngành thanh tra Ngân hàng Nhà nước cho
ta thấy , mỗi thời đại hay một giai đoạn lịch sử, các quyền hạn của quan chức
thanh tra cũng khác nhau.Thời Lý( thế kỷXI) mới có các quan giám sát nghị đại
phụ, chức năng, nhiệm vụ còn hạn chế, đến thời Trần (thế kỷXIII) đã có chức quan
ngự sử dài.Một chức quan với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn rất lớn như: Quyền
can dán Vua, quyền đàm hoạch các quan trong triều, quyền xét sử tại chỗ bọn
quan lại lộng hành ức hiếp dân…
Sau CM 8/1945 thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/ SL
thành lập ban thanh tra đặc biệt nay là thanh tra Ngân hàng Nhà nước.


nhằm phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ chức tín dụng để

đề ra các biện pháp sử lý khi cần thiết (gọi là phương thức thanh tra trên
báo cáo)
b- Nội dung
Phương thức giám sát từ xa là sử dụng mạng điện toán để thực hiện phân tổ
và cho những mẫu biểu cần thiết.
- Các chỉ tiêu giám sát từ xa ở Việt Nam:
1- Vốn huy động trên thị trường I.
Vốn huy động trên thị trường II
Thị trường I > thị trường II - ổn định
2- Vốn cho vay trên thị trường I
Vốn cho vay trên thị trường II
Vốn cho vay thị trường I chiếm tỷ trọng lớn - Ngân hàng bán lẻ
Vốn cho vay thị trường II chiếm tỷ trọng lớn - Ngân hàng bán buôn
3- H = Vốn tự có (thực có)/tổng tài sản có rủi ro quy đổi  8%
4- Khoản cho vay lớn nhất đối với khách hàng/ vốn tự có (vốn điều
lệ + quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ)  15%.
5- Khoản cho vay lớn nhất đối với một khách hàng ưu đãi/ vốn tự có
 5%.
6- Khoản bảo lãnh lớn nhất đối với một khách hàng /vốn tự có 
15%.
7- Mua sắm tài sản cố định/vốn tự có  50%.
8- Góp vốn liên doanh mua cổ phần với các doanh nghiệp/vốn tự có
 30%.
9- Nợ quá hạn/ tổng dư nợ  5%.
10- Nợ quá hạn khó đòi / tổng dư nợ  2%.

báo cáo chưa đủ độ tin cậy, nên một số chỉ tiêu nếu nhìn trên cân đối thì tốt
như: chỉ tiêu nợ quá hạn, cho vay khách hàng… nhưng số thực tế bao giờ cũng
lớn hơn số liệu báo cáo để tổ chức tín dụng lấy thành tích và được hưởng quỹ
phân phối cao hơn, để khắc phục nhược điểm này phải kết hợp chặt chẽ giữa
giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ.

Đối với Ngân hàng Quốc doanh, vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước thay
mặt Nhà nước tạm cấp một số vốn ban đầu quá ít ỏi. Mặt khác, việc hướng dẫn
tính toán vố tự có của Ngân hàng Nhà nước chưa cụ thể, do đó khi tiến hành
phân tích, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng trở nên không chính
xác, không còn chuẩn mực việc tổ chức tín dụng đó thực hiện ở mức nào.
Trình độ phân tích giám sát phải tốt, phải trở thành kỹ năng. Kết quả phân
tích, giám sát phụ thuộc vào trình độ của mỗi cán bộ thanh tra và thanh tra
viên, vì cùng một kết quả, tình hình có những phân tích, đánh giá khác nhau…
Việc phân tích này đã làm nhưng chưa sâu, còn hời hợt chưa phát hiện ra
những mâu thuẫn cơ bản trên số liệu hạch toán để từ đó đánh giá những vấn
đề chính trong hoạt động của tổ chức tín dụng, tính dự báo thấp, tác dụng “chỉ
điểm” cho thanh tra tại chỗ ít.Trong quá trình giám sát, nhiều nhánh giám sát
thiên về sử dụng các chỉ tiêu thống kê là chính, các phương pháp lô gích, suy
diễn sâu về nghiệp vụ để trở thành dự báo còn ít được đề cập, nên nội dung
thông tin thường lặp đi lặp lại, thiếu tính thuyết phục, dễ nhàm chán.Một số chỉ
tiêu tính toán chưa được quy chuẩn hoá hoặc hướng dẫn cụ thể nên hầu như
không có hiệu lực pháp lý.
Sự phối hợp giữa hai phương thức giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ còn
yếu, mục tiêu của công tác giám sát từ xa là dựa trên cân đối và báo cáo ngoài
cân đối của các tổ chức tín dụng để phân tích tìm ra vấn đề để “chỉ điểm” cho
thanh tra tại chỗ.Tuy có nêu vấn đề, có “ chỉ điểm”những vấn đề cần chú ý,

sở pháp lý mới để tiếp tục quá trình đổi mới thanh tra Ngân hàng sâu rộng và
toàn diện hơn.
Ta có thể so sánh hai thời kỳ để thấy những vấn đề khác nhau cơ bản của hệ
thống thanh tra Ngân hàng.
* Thời kỳ trước khi có pháp lệnh Ngân hàng và pháp lệnh thanh tra.
Thanh tra Ngân hàng là thanh tra bộ, là thanh tra Nhà nước tại Ngân hàng
NN. Tổ chức thanh tra Ngân hàng thời kỳ này bị thu hẹp, ở chi nhánh NHNN
các tỉnh thành phố cán bộ thanh tra chỉ có từ 3 đến 5 người sinh hoạt cùng với
phòng Kinh tế - Kế hoạch, ở TW số cán bộ thanh tra có khoảng 10 người sinh
hoạt chung với vụ Kinh tế - Kế họach.Thời kỳ này hầu như không kiểm soát
các hoạt động kinh doanh của các TCTD. Hàng năm thường tổ chức một số

cuộc kiểm tra việc chấp hành chế độ thu, chi tiền mặt với Ngân hàng cấp dưới,
công việc chủ yếu của thời kỳ này là: Xét và giải quyết các đơn thư khiếu nại
tố cáo trong hệ thống Ngân hàng.
- Về quyền hạn: Được kết luận, kiến nghị về những vấn đề mình thanh tra
kiểm tra, chưa quy định quyền sử lý “Hệ thống thanh tra, kiểm soát hoạt động
thụ động, kém hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới”. Phải nói
rằng cho đến năm 1990, ngành Ngân hàng và quyền tự chủ của các đơn vị , còn
lúng túng trong việc sử lý những vấn đề mới phát sinh, buông lỏng vai trò kiểm
soát đối với các đơn vị cũng như CBCNV Ngân hàng, vì thế ngành Ngân hàng
chưa phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong phát triển kinh tế.
* Thời kỳ sau khi có pháp lệnh Ngân hàng và pháp lệnh thanh tra.
Thanh tra Ngân hàng NN là tổ chức thanh tra chuyên trách của NHNN
trong hệ thống thanh tra NN, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý
của Ngân hàng NN, quản lý công tác kiểm tra đối với các cơ quan, thuộc Ngân
hàng NN, chịu sự chỉ đạo của thanh tra NN về công tác tổ chức và nghiệp vụ

trong một số trường hợp vận dụng không thật phù hợp với nghiệp vụ Ngân
hàng.
- Về vấn đề tổ chức bộ máy: Thanh tra NHNN là tổ chức thanh tra Nhà
nước chuyên nghành, ở thanh tra NHTW, dưới sự lãnh đạo của Thống đốc,
ở địa phương trực thuộc giám đốc NHNN. Để dảm bảo tính độc lập tương
đối về hoạt động thanh tra, nên để thanh tra các chi nhánh NHNN tỉnh,
thành phố chỉ sinh hoạt công đoàn và sinh hoạt Đảng tại chi nhánh, còn lại
tiền lương, đề bạt do thanh tra NHTW quản lý, nếu để thanh tra chi nhánh
trực thuộc giám đốc ở đó, tính độc lập trong hoạt động thanh tra bị hạn chế,
quyền năng không rõ ràng, rất khó sử lý những vấn đề phát sinh trong quá
trình thanh tra khi các TCTD vi phạm tư tưởng bao biện thương xảy ra. PHần III
một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
thanh tra của thanh tra ngân hàng nhà nước. 1- Đào tạo cán bộ thanh tra và thanh tra viên.
Làm thanh tra là một nghề, nhưng nghề thanh tra được tiến hành trên tất cả
các lĩnh vực, mỗi cuộc thanh tra có mục tiêu, nội dung và yêu cầu khác nhau,
phương pháp, cách thức tiến hành cũng khác nhau, nhiều ý kiến cho rằng:” Đi
thanh tra phải hơn người ta cái đầu”, đòi hỏi cán bộ thanh tra phải hiểu biết hơn
đối tượng thanh tra mới chỉ ra được cái đúng, sai cho đối tượng thanh tra một vấn
đề gì? thuộc lĩnh vực nào, đòi hỏi cán bộ thanh tra phải hiểu biết vấn đề đó, lĩnh
vực đó.
Thưc trạng đội ngũ cán bộ thanh tra hiện nay còn rất nhiều vấn đề chưa đáp ứng

thấp, tác động “chỉ điểm” cho thanh tra tại chỗ còn ít.Trình độ cán bộ thanh tra và
thanh tra viên trong thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa chưa đáp ứng được yêu cầu
kinh nghiệm còn ít, nên làm chưa sâu trong kiểm tra và phát hiện, chất lượng và
hiệu quả thấp, trong phân tích giám sát thiên về sử dụng chỉ tiêu thống kê là
chính, các phương pháp lô gích, suy diễn sâu về nghiệp vụ để trở thành dự báo còn
ít được đề cập , nên nội dung thông tin còn lặp đi lặp lại, thiếu tính thuyết phục.
3- Vấn đề sử lý trong vi phạm của TCTD.
Việc tổ chức theo dõi kết quả thực hiện kiến nghị của thanh tra chưa được
chú trọng đúng mức, nếu các đơn vị thanh tra làm tốt việc tiếp thu và chấn chỉnh
kịp thời những vi phạm theo kiến nghị của thanh tra đó, vừa thể hiện tính nghiêm
túc của đối tượng thanh tra, vừa chứng tỏ đúng đắn của các kết luận và kiến nghị
của thanh tra và đồng thời cũng chính là các yếu tố quyết định đến hiệu lực thanh
tra. Vấn đề này cần được khai thác kịp thời, nghiêm túc và phải trở thành các quy
chế của thanh tra Ngân hàng. Thời gian qua một số TCTD vi phạm về giới hạn cho
vay, không chấp hành đúng quy định tín dụng, bảo lãnh vốn vay Ngân hàng, bảo
lãnh mở L/C trả chậm… Kinh nghiệm cho thấy những đơn vị khi phát hiện vai
phạm được sử lý kịp thời nghiêm túc, mang tính giáo dục cao, nội bộ đoàn kết,
không có đơn thư tố cáo , nặc danh hay vượt cấp, những vi phạm thường ít lặp lại.
Việc sử phạt không phải là mục tiêu của thanh tra ,nhất là đối với thanh tra
Ngân hàng với mục tiêu là: Giữ cho các TCTD ổn định bảo vệ quyền lợi cho
người gửi tiền Ngân hàng. Song nhất thiết phải có thái độ rõ ràng với cái đúng cái

sai. Đối với cái sai phải được phát hiện, ngăn chặn và sử lý kịp thời, có như vậy
các TCTD mới triển khai thực hiện việc nghiêm túc các quy chế và dần đưa công
tác vaò quản lý nề nếp.
4- Chấn chỉnh việc báo cáo và thông tin báo của các TCTD
gửi thanh tra NHNN.
Kết luận

Ngân hàng là một sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường, nó xuất hiện rất
sớm trong lịch sử nhân loại, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, trong thời kỳ trung
cổ đại, hiện đại trong cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế phát triển đa dạng,
phong phú và tự do kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật. Cơ chế thị trường
có nhiều ưu điểm, song mặt trái của nó cũng rất nhiều, bất kỳ một NN cũng phải
có các công cụ và phải áp dụng những biện pháp thích hợp để hạn chế những tiêu
cực do chính cơ chế thị trường taọ ra.
Một trong những công cụ thiết yếu đó là thanh tra, lĩnh vực NH là lĩnh vực
hết sức nhạy cảm, nó phản ánh và phụ thuộc rất lớn vào năng xuất và hiệu quả của
các hoạt động kinh tế, động thời chính nó lại là yếu tố trực tiếp tác động vào tăng
trưởng và ổn định kinh tế. Thanh tra luôn gắn với NN, là công cụ phục vụ cho giai
cấp thống trị, lịch sử loài người cũng đã chứng minh: Đã có NN phải có thanh tra,
công cụ kiểm tra, kiểm soát phục vụ ý đồ thống trị của NN đó, tuy nhiên tên gọi và
tổ chức có khác nhau, nhưng đều công cụ của NN trong quản lý kinh tế và xã hội.
ở nước ta thanh tra Ngân hàng là bộ máy thuộc cơ cấu của NHTW, trực
thuộc thống đốc NHNN, mô hình này vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phù
hợp với hoàn cảnh nước ta.
Mục tiêu của thanh tra Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là: Giữ ổn
định cho toàn hệ thống Ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần bộ làm công tác thanh tra của ngành Ngân hàng đã đươc giải quyết theo quy định
của NN. Sống trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, nhất là thu nhập của cán bộ
NHNN rất khiêm tốn, vì vậy việc giữ gìn phẩm chất để không bị xa ngã, bị lợi
dụng là vấn đề cần phải thường xuyên rèn luyện đấu tranh với bản thân.
Trên đây là những thuận lợi rất cơ bản để hệ thống thanh tra NHNN vươn
lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng , của
NN và của ngành NH.
Mục lục
Lời nói đầu: ……………………………………………………………………1
Phần I: Thanh tra, giám sát từ xa của thanh tra Ngân hàng Nhà nước với các
tổ chức tín dụng ………………………………………………………2
1- Sự hình thành và pháp triển của thanh tra Ngân hàng Nhà nước … 3
2- Nghiệp vụ thanh tra, giám sát từ xa ………………………………3
a- Khái niệm …………………………………………………………. 3
b- Nội dung ………………………………………………….………3
Phần II: Một số vấn đề cơ bản về thanh tra, giám sát từ xa của thanh tra Ngân hàng
Nhà nước với các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ……………………… 5
1- Thực trạng công tác thanh tra, giám sát từ xa các tổ chức tín dụng hiện
nay …………………………………………………………………. 5
2- Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, những thay đổi và bất cập từ pháp lệnh
đến luật Ngân hàng ………………………………………………. 7
a- Những thay đổi cơ bản ………………………………………………7
b- Những bất cập ………………………………………………………. 9
Phần III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát từ xa củ thanh tra
Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng ……………………… 10
1- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ …………………………………………….10
2- Kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa với thanh tra tại chỗ ………… 11
3- Vấn đề sử lý sai phạm của các tổ chức tín dụng ………………… 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status