Đại học Công Nghệ Thông Tin
Đại học Quốc Gia Tp.HCM
Đề tài:
Tìm hiểu công nghệ ghép kênh quang
theo bước sóng WDM
Các thành viên trong nhóm
Nguyễn Tiến Thành – 08520354
Phạm Ngọc Sơn – 08520317
Nguyễn Vũ An – 08520517
Hoàng Mạnh Hưng – 08520165
Dương Sơn Thông – 08520391
Giáo viên
ThS. Ngô Hán Chiêu
1
Mục lục
Mục lục 2
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 6
Chương I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ WDM 10
I: Sự phát triển của công nghệ WDM 10
II: Giới thiệu về hệ thống thông tin quang 11
III: Nguyên lý ghép kênh quang theo bước sóng và các tham số cơ bản 15
1: Giới thiệu nguyên lý ghép kênh quang theo bước sóng 15
1.1: Truyền dẫn hai chiều trên hai sợi: 15
1.2: Truyền dẫn hai chiều trên một sợi 16
2: Các tham số cơ bản 18
Chương II: CÁC THIẾT BỊ QUANG THỤ ĐỘNG TRONG WDM 20
I: Các thiết bị WDM vi quang 21
1: Các bộ lọc thiết bị 22
1.1. Bộ tách hai bước sóng 24
1.2: Bộ tách lớn hơn hai bước sóng 25
2. Hiệu ứng SBS (Stilmulated Brillouin Scattering): 64
3. Hiệu ứng SPM (Self Phase Modulation): 65
4. Hiệu ứng XPM (Cross Phase Modulation): 67
5. Hiệu ứng FWM (Four Wave Mixing): 67
6. Phương hướng giải quyết ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến: 69
3
VII: Bộ khuếch đại EDFA và một số vấn đề khi sử dụng EDFA trong mạng WDM 69
1. Tăng ích động có thể điều chỉnh của EDFA: 70
2. Tăng ích bằng phẳng của EDFA: 72
3. Tích luỹ tạp âm khi sử dụng bộ khuếch đại EDFA: 73
Chương IV: CÔNG NGHỆ CỦA HỆ THỐNG WDM 74
I.
1.
Công nghệ bộ khuếch đại quang sử dụng sợi quang pha trộn ERBIUM (EDFA) 74
Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của EDFA 74
2: Đặc tính của EDFA 77
2.1: Đặc tính khuếch đại 77
2.2: Đặc tính tạp âm nhiễu 78
2.3: EDAF trong hệ thống ghép kệnh theo bước sóng 82
Chương V: Mạng WDM 84
I: Phân cấp mạng WDM 84
II. Hai kiểu chuyển mạch của WDM 86
1. Mạng WDM chuyển mạch kênh quang 86
2. Mạng WDM chuyểm mạch gói: 87
III. Điểm mút của mạng WDM 88
1. Điểm nút OXC: 88
2. Điểm nút OADM: 91
IV. Phân phối và định tuyến bước sóng trong mạng WDM 93
1. Kênh bước sóng và kênh bước sóng ảo. 93
2. Chọn đường trong mạng WDM 95
DCA
DEMUX
DSF
DXC
DLE
DWDM
FBG
EDFA
FDM
FFWF
GMPLS
GW
IP
ISDN
LAN
LC
LCP
LCG
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Tiếng AnhTiếng Việt
Add/drop multiplexerBộ ghép kênh xen kẽ
Auxiliary GraphDựng một đồ thị phụ
Acces NodeNút truy nhập
Acousto OpticBộ lọc thanh quang
Turnable Filtercó điều chỉnh
Avalanche PhotodiodeĐiốt quang thác
Arrayed - WavelengthBộ ghép kênh lưới quang
Grating Multiplexerdẫn sóng kiểu dàn
Asynchronous Transfer ModePhương thức truyền không
đồng bộ
LSR
LU
M∑
MESH
MPLS
NP-
Largest First
Least Converter First
Least Loaded
Label Swithched Path
Label Swithching Router
Least Used
Max-Sum
Mesh
Multi Protocol Label Swithching
Subset of class NP
problem complete
Non-Zero Dispersion Shifted Fiber
Optical add/drop multiplexer
Optical Circulator
Optical/Electrical/ Optical
Optical Channel
Optical Line Amplifier
Optical Cross Connect
Optical Time Division Multiplex
Routing and Wavelength
Assignment
Synchronous Digital Hierarchy
Sequential Graph Coloring
Synchronous Optical Network
Kênh quang
Khuếch đại đường quang
Nối chéo quang
Ghép kênh quang phân chia
thời gian
Định tuyến và gán bước sóng
Phân cấp số đồng bộ
Tô màu đồ thị tuần tự
Mạng quang đồng bộ
Bảo vệ kết nối mạng con
Modun truyền tải đồng bộ
Bộ định tuyến bước sóng tĩnh
Chuyển mạch quang không
gian
Tổng bước sóng của các
bước sóng khả dụng
7
NZ-DSF
OADM
OC
O/E/O
Och
OLA
OXC
OTDM
RWA
SDH
SGC
SONET
SNCP
RCA
Rsv
WRN
Time Division Multiplexing
Thr - Protecting Threshold
Time Slot Interchanger
Wavelength Add- Drop Multiplexer
Wavelegth Converter
Wavelength Division Multiplex
Waveguide Grating Router
Wavelength Path
Wavelength Router
Wavelength Router Switch
Optical Supervision Chanel
Dispersion Shifted Fiber
Dispersion Flattened Fiber
Single Mode Fiber
Dispersion Compensating Fiber
Chirper Bargg Fiber Grating
Optical Amplifier
Optical Add Drop Multiplexer
Optical Cross Connect
Optical Multiplexer Section
Dedicated Protection
Optical Multiplexer Section
Shared Protection
Optical Multiplexer Section
Routing and Wavelength
Assignment
Static Lightpath Establishment
Đoạn ghép kênh quang
Định tuyến gán bước sóng
Thiết lập luồng quang tĩnh
Bộ chuyển đổi bước sóng
Tổn thất dung lượng tương đối
Định tuyến và gán kênh
Gán bước sóng đặt trước
Mạng định tuyến bước sóng
LỜI NÓI ĐẦU
8
Thời gian gần đây, nhu cầu lưu lượng tăng mạnh do sự phát triển bùng nổ của các
loại hình dịch vụ Internet và các dịch vụ băng thông đã tác động không nhỏ tới việc
xậy dựng cấu trúc mạng viễn thông. Việc xây dựng mạng viễn thông thế hệ sau NGN
đang được quan tâm như một giải pháp hữu hiệu nhằm thoả mãn nhu cầu mạng lưới
trong thời gian tới. Trong cấu trúc NGN mang truyền tải lưu lượng là khâu quan trọng
nhất có nhiệm vụ truyền thông suốt lưu lượng lớn trên mạng, trong đó mạng truyền
dẫn được xem là huyết mạch chính. Để thoả mãn việc thông suốt lưu lượng và băng
tần lớn, các hệ thống thông tin quang sử dụng công nghệ WDM được xem là ứng cử
quan trọng cho đường truyền dẫn. Công nghệ WDM đã và đang cung cấp cho mạng
lưới truyền dẫn cao trên băng tần lơn sợi đơn mode, nhiều kênh quang truyền đồng
thời trên một sợi, trong đó mỗi kênh tương đương với một hệ thống truyền dẫn độc
lập tốc độ cao. Công nghệ WDM cho phép các nhà thiết kế mạng lựa chọn được
phương án tối ưu nhất để tăng dung lượng đường truyền với chi phí thấp nhất. Cho
đến nay hầu hết các hệ thống thông tin quang đường trục có dung lượng cao đều sử
dụng công nghệ WDM. Ban đầu từ những tuyến WDM điểm – điểm đến nay đã xuất
hiện các mạng với nhiều cấu trúc phức tạp
Với nhận thức ấy đề tài “Tìm hiểu công nghệ ghép kênh quang theo bước sóng
WDM” sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn. Báo cáo gồm có 5 chương với nội dung tóm tắt
cụ thể như sau:
Chương I : Giới thiệu chung về thông tin quang, các nguyên lý ghép kênh trên hệ
dụng từ 16 đến 40 kênh với khoảng cách kênh từ 100 đến 200 GHz. Các hệ thống này
đã tích hợp các chức năng xen rẽ và quản lý mạng. Các hệ thống WDM ban đầu sử
dụng với khoảng cách kênh lớn. Việc lắp đặt hệ thống WDM chi phối bởi những lý do
kinh tế. Việc nâng cấp thiết bị đầu cuối để khai thác các năng lực của WDM có chi
phi thấp hơn việc lắp đặt cáp sợi quang mới. Sự xuất hiện bộ khuếch đại quang
EDFA đã chuyển hầu hết các hệ thống WDM sang cửa sổ 1530 nm đến 1565nm. Các
hệ thống WDM mới lắp đặt gần đây đã sử dụng các kênh quang có khoảng cách giữa
các kênh hẹp từ 25 GHz đến 50 GHz. Nhu cầu về băng tần mạng đang tăng gần
100%/một năm sẽ tiếp tục gia tăng ít nhất là trong vài chục năm tiếp theo. Việc giảm
giá thành của các nhà cung cấp và trên hết là ứng dụng phổ cập của Internet đòi hỏi
băng tần lớn sẽ được tiếp tục đẩy mạnh.
10
Các giải pháp thực tế đối với các vấn đề giới hạn ảnh hưởng của tán sắc mode
phân cực, hiệu ứng phi tuyến, sẽ làm tăng cả số lượng kênh và tốc độ bít của hệ thống
WDM. Số lượng các kênh tăng đòi hỏi yêu cầu khắt khe hơn đối với độ ổn định của
laser, độ chính xác của bộ lọc và vấn đề liên quan đến quản lý tán sắc, hiệu ứng phi
tuyến Mạng tiến dần tới mô hình toàn quang, do đó sẽ xuất hiện các hệ thống thiết
bị quang mới có khả năng thực hiện các chức năng mà các thiết bị điện tử đang đảm
nhận. Việc loại bỏ các yêu cầu khôi phục và tái tạo lưu lượng qua thiết bị điện tử làm
giảm đáng kể tính phức tạp phần cứng của mạng, nhưng sẽ làm tăng các hiệu ứng
quang khác. Mặc dù trên khía cạnh nào đó các kỹ thuật WDM mật độ cao sẽ đạt tới
giới hạn của nó. Sự truyền dẫn của vài trăm kênh trên một sợi quang cũng đã được
kiểm chứng. Nhờ có sự phát triển của công nghệ WDM, trong tương lai không xa sẽ
xuất hiện các dịch vụ thông tin quang giá thành thấp tốc độ cao.
II: Giới thiệu về hệ thống thông tin quang
Ngay từ xa xưa để thông tin cho nhau, con người đã biết sử dụng ánh sáng để báo
hiệu. Qua thời gian dài của lịch sử phát triển nhân loại, các hình thức thông tin phong
phú dần và ngày càng được phát triển thành những hệ thống thông tin hiện đại như
ngày nay, tạo cho mọi nơi trên thế giới có thể liên lạc với nhau một cách thuận lợi và
nhanh chóng. Cách đây 20 năm, từ khi các hệ thống thông tin cáp sợi quang được
Chính bởi các lý do trên mà hệ thống thông tin quang đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ
các nhà khai thác viễn thông. Các hệ thống thông tin quang không những chỉ phù hợp
với các tuyến thông tin xuyên lục địa, tuyến đường trục, và tuyến trung kế mà còn có
tiềm năng to lớn trong việc thực hiện các chức năng của mạng nội hạt với cấu trúc tin
cậy và đáp ứng mọi loại hình dịch vụ hiện tại và tương lai.
Mô hình chung của một tuyến thông tin quang như sau:
Hình 1.1: Các thành phần chính của tuyến truyền dẫn cáp sợi quang
Các thành phần chính của tuyến gồm có phần phát quang, cáp sợi quang và phần
thu quang. Phần phát quang được cấu tạo từ nguồn phát tín hiệu quang và các mạch
12
điện điều khiển liên kết với nhau. Cáp sợi quang gồm có các sợi dẫn quang và các lớp
vỏ bọc xung quanh để bảo vệ sợi quang khỏi tác động có hại từ môi trường bên ngoài.
Phần thu quang do bộ tách sóng quang và các mạch khuếch đại, tái tạo tín hiệu hợp
thành. Ngoài các thành phần chủ yếu này, tuyến thông tin quang còn có các bộ nối
quang (connector), các mối hàn, bộ chia quang và các trạm lặp; tất cả tạo nên một
tuyến thông tin quang hoàn chỉnh.
Đặc tuyến suy hao của sợi quang theo bước sóng tồn tại ba vùng mà tại đó có suy
hao thấp là các vùng xung quanh bước sóng 850 nm, 1300 nm và 1550 nm. Ba vùng
bước sóng này được sử dụng cho các hệ thống thông tin quang và gọi là các vùng cửa
sổ thứ nhất, thứ hai và thứ ba tương ứng. Thời kỳ đầu của kỹ thuật thông tin quang,
cửa sổ thứ nhất được sử dụng. Nhưng sau này do công nghệ chế tạo sợi phát triển
mạnh, suy hao sợi ở hai cửa sổ sau rất nhỏ cho nên các hệ thống thông tin quang ngày
nay chủ yếu hoạt động ở vùng cửa sổ thứ hai và thứ ba.
Nguồn phát quang ở thiết bị phát có thể sử dụng diode phát quang (LED) hoặc
Laser bán dẫn (LD). Cả hai loại nguồn phát này đều phù hợp cho các hệ thống thông
tin quang, với tín hiệu quang đầu ra có tham số biến đổi tương ứng với sự thay đổi của
dòng điều biến. Tín hiệu điện ở đầu vào thiết bị phát ở dạng số hoặc đôi khi có dạng
tương tự. Thiết bị phát sẽ thực hiện biến đổi tín hiệu này thành tín hiệu quang tương
ứng và công suất quang đầu ra sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi của cường độ dòng điều
biến. Bước sóng làm việc của nguồn phát quang cơ bản phụ thuộc vào vật liệu cấu
quang. Với hệ thống quang như vậy, dải phổ của tín hiệu quang truyền qua sợi thực tế
rất hẹp so với dải thông mà các sợi truyền dẫn quang có thể truyền dẫn với suy hao
nhỏ (xem hình 1.2):
Hình 1.2: Độ rộng của nguồn quang và dải thông của sợi quang
14
III: Nguyên lý ghép kênh quang theo bước sóng và các tham số cơ bản
1: Giới thiệu nguyên lý ghép kênh quang theo bước sóng
Đặc điểm nổi bật của hệ thống ghép kênh theo bước sóng quang (WDM) là tận
dụng hữu hiệu nguồn tài nguyên băng rộng trong khu vực tổn hao thấp của sợi quang
đơn mode, nâng cao rõ rệt dung lượng truyền dẫn của hệ thống đồng thời hạ giá thành
của kênh dịch vụ xuống mức thấp nhất. ở đây việc thực hiện ghép kênh sẽ không có
quá trình biến đổi điện nào. Mục tiêu của ghép kênh quang là nhằm để tăng dung
lượng truyền dẫn. Ngoài ý nghĩa đó việc ghép kênh quang còn tạo ra khả năng xây
dựng các tuyến thông tin quang có tốc độ rất cao. Khi tốc độ đường truyền đạt tới một
mức độ nào đó người ta đã thấy được những hạn chế của các mạch điện trong việc
nâng cao tốc độ truyền dẫn. Khi tốc độ đạt tới hàng trăm Gbit/s, bản thân các mạch
điện tử sẽ không thể đảm bảo đáp ứng được xung tín hiệu cực kỳ hẹp; thêm vào đó,
chi phí cho các giải pháp trở nên tốn kém và cơ cấu hoạt động quá phức tạp đòi hỏi
công nghệ rất cao. Kỹ thuật ghép kênh quang theo bước sóng ra đời đã khắc phục
được những hạn chế trên.
Hệ thống WDM dựa trên cơ sở tiềm năng băng tần của sợi quang để mang đi
nhiều bước sóng ánh sáng khác nhau, điều thiết yếu là việc truyền đồng thời nhiều
bước sóng cùng một lúc này không gây nhiễu lẫn nhau. Mỗi bước sóng đại diện cho
một kênh quang trong sợi quang. Công nghệ WDM phát triển theo xu hướng mà sự
riêng rẽ bước sóng của kênh có thể là một phần rất nhỏ của 1 nm hay 10-9 m, điều này
dẫn đến các hệ thống ghép kênh theo bước sóng mật độ cao (DWDM). Các thành
phần thiết bị trước kia chỉ có khả năng xử lý từ 4 đến 16 kênh, mỗi kênh hỗ trợ luồng
dữ liệu đồng bộ tốc độ 2,5 Gbit/s cho tín hiệu mạng quang phân cấp số đồng bộ
(SDH/SONET). Các nhà cung cấp DWDM đã sớm phát triển các thiết bị nhằm hỗ trợ
cho việc truyền nhiều hơn các kênh quang. Các hệ thống với hàng trăm kênh giờ đây
sóng cắt chính xác, dải làm việc ổn định.
Hệ thống WDM được thiết kế phải giảm tối đa các hiệu ứng có thể gây ra suy hao
truyền dẫn. Ngoài việc đảm bảo suy hao xen của các thiết bị thấp, cần phải tối thiểu
hoá thành phần công suất có thể gây ra phản xạ tại các phần tử ghép, hoặc tại các
điểm ghép nối các module, các mối hàn , bởi chúng có thể làm gia tăng vấn đề
xuyên kênh giữa các bước sóng, dẫn đến làm suy giảm nghiêm trọng tỉ số S/N của hệ
thống. Các hiệu ứng trên đặc biệt nghiêm trọng đối với hệ thống WDM truyền dẫn hai
chiều trên một sợi, do đó hệ thống này có khả năng ít được lựa chọn khi thiết kế
tuyến.
Ở một mức độ nào đó, để đơn giản ta có thể xem xét bộ tách bước sóng như bộ
ghép bước sóng chỉ bằng cách đổi chiều tín hiệu ánh sáng. Như vậy hiểu đơn giản, từ
“bộ ghép - multiplexer” trong trường hợp này thường được sử dụng ở dạng chung để
xét cho cả bộ ghép và bộ tách; loại trừ trường hợp cần thiết phải phân biệt hai thiết bị
hoặc hai chức năng. Người ta chia loại thiết bị OWDM làm ba loại: Các bộ ghép
(MUX), các bộ tách (DEMUX) và các bộ ghép/tách hỗn hợp (MUX-DEMUX). Các
bộ MUX và DEMUX được sử dụng trong các phương án truyền dẫn theo một hướng,
còn loại thứ ba MUX-DEMUX được sử dụng cho các phương án truyền dẫn theo hai
hướng. Hình 1.5 mô tả thiết bị ghép/tách hỗn hợp.
Hỡnh 1.5. Mụ tả thiết bị ghép/tách hỗn hợp (MUX-DEMUX).
17
2: Các tham số cơ bản
Các tham số cơ bản để mô tả đặc tính của các bộ ghép/tách hỗn hợp là suy hao
xen, suy hao xuyên kênh và độ rộng kênh. Để đơn giản, ta hãy phân biệt ra thành thiết
bị một hướng (gồm các bộ ghép kênh và tách kênh độc lập) và thiết bị hai hướng (bộ
ghép/tách hỗn hợp). Các ký hiệu I(li) và O(lk) tương ứng là các tín hiệu được ghép
đang có mặt ở đường chung. Ký hiệu Ik(lk) là tín hiệu đầu vào được ghép vào cửa thứ
k, tín hiệu này được phát từ nguồn phát quang thứ k. Ký hiệu Oi(li) là tín hiệu có
bước sóng li đã được tách và đi ra cửa thứ i. Nhìn chung, các tín hiệu quang không
phát một lượng công suất đáng kể nào ở ngoài độ rộng phổ kênh đã định trước của
chúng, cho nên vấn đề xuyên kênh là không đáng lưu tâm ở đầu phát. Bây giờ ta xem
không mong muốn ở bước sóng lk do có sự dò tín hiệu ở cửa ra thứ i, mà đúng ra chỉ
có tín hiệu ở bước sóng li. Trong thiết bị ghép/tách hỗn hợp như ở hình 1.6 b), việc
xác định suy hao xuyên kênh cũng được xác định như ở bộ tách. Ở trường hợp này,
phải xem xét cả hai loại xuyên kênh. “Xuyên kênh đầu xa” là do các kênh khác được
ghép đi vào đường truyền gây ra, ví dụ như I(lk) sinh ra Ui(lk). “Xuyên kênh đầu
gần” là do các kênh khác ở đầu vào sinh ra, nó được ghép ở bên trong thiết bị, như
Ui(lj). Khi cho ra các sản phẩm, các nhà chế tạo cũng phải cho biết suy hao kênh đối
với từng kênh của thiết bị.
· Độ rộng kênh: là dải bước sóng mà nó định ra cho từng nguồn phát quang riêng.
Nếu nguồn phát quang là các diode Laser thì độ rộng kênh được yêu cầu vào khoảng
vài chục nanomet để đảm bảo không bị nhiễu giữa các kênh do sự bất ổn định của các
nguồn phát gây ra (ví dụ khi nhiệt độ làm việc thay đổi sẽ làm trôi bước sóng đỉnh
hoạt động). Đối với nguồn phát quang là diode phát quang LED, yêu cầu độ rộng
kênh phải lớn hơn 10 đến 20 lần bởi vì độ rộng phổ của loại nguồn phát này rộng hơn.
19
Chương II: CÁC THIẾT BỊ QUANG THỤ ĐỘNG TRONG WDM
Trong chương trước, chúng ta đã có tầm nhìn bao quát về một tuyến truyền dẫn
quang và công nghệ ghép kênh quang theo bước sóng WDM. Các thiết bị OWDM rất
đa dạng, có thể thực hiện qua các phần tử tích cực hay thu động, nguồn quang phổ
hẹp, các thiết bị vi quang, các thiết bị phân cực quang, quay pha, cách tử quang, ghép
sợi Nhưng tưu trung lại, chúng làm việc chủ yếu theo hai nguyên tắc chính:
nguyên tắc tán sắc góc và nguyên tắc lọc quang. Ngày nay, cùng với những tiến bộ
không ngừng trong nhiều lĩnh vực khác của ngành công nghiệp truyền thông, đặc biệt
là với công nghệ mới đầy hấp dẫn này, các thiết bị WDM không ngừng được đổi mới
và cải tiến cho phù hợp nhằm vươn tới những ngưỡng dung lượng truyền dẫn khổng
lồ với chi phí đầu tư thấp. Chương này nhằm đề cập đến các vấn đề kỹ thuật từ cơ bản
đến phức tạp đã và đang được sử dụng trong các thiết bị WDM.
Các phần tử sử dụng trong hệ thống OWDM rất đa dạng, nhưng có thể phân loại ra
như hình 2.1:
20
đặt xen kẽ nhau. Bộ lọc làm việc dựa trên nguyên lý buồng cộng hưởng Fabry-Perot,
gồm hai gương phản xạ một phần đặt song song cách nhau chỉ bởi một lớp điện môi
trong suốt.
Hình 2.3. Cấu trúc của bộ lọc điện môi.
Bề dày các lớp bằng 1/4 bước sóng truyền đối với bộ lọc bậc 0 và bằng 3/4l0 đối
với bộ lọc bậc 1 và được chế tạo từ vật liệu có hệ số chiết suất thấp như MgF2 có n =
1,35 hoặc SiO2 có n = 1,46 và vật liệu có chỉ số chiết suất cao như TiO2 có n = 2,2.
Khi chùm tia sáng đi vào thiết bị, thì hiện tượng giao thoa ánh sáng xảy ra do phản
xạ nhiều lần trong khoang cộng hưởng. Nếu bề dày của lớp đệm là số nguyên lần của
nửa bước sóng ánh sáng tới thì giao thoa xếp chồng xảy ra và công suất quang của
bước sóng đạt giá trị cực đại và bước sóng đó sẽ được truyền dẫn thông suốt nhất. Các
22
chùm ánh sáng ở những bước sóng khác trong buồng cộng hưởng hầu như bị phản xạ
hoàn toàn. Đường cong phân bố công suất ở đầu ra của bộ lọc có dạng như hình 2.4:
Hình 2.4. Phân bố công suất ở đầu ra của bộ lọc.
Bộ lọc thông thấp hoặc thông cao có bước sóng cắt lc (hình 2.5a là thông cao và
hình 2.5b là thông thấp). Bộ lọc thông giải có bước sóng trung tâm l0 và độ rộng giải
Dl (hình 2.5c). T là hàm truyền đạt của bộ lọc.
Hình 2.5. Các đặc tính phổ truyền dẫn của các loại bộ lọc giao thoa cắt (a)(b) và
băng thông (c).
Các bộ lọc thông thấp hoặc thông cao thường được sử dụng để tách 2 bước sóng
có khoảng cách xa nhau, chẳng hạn 850 nm và 1300 nm hoặc 1300 nm và 1550 nm.
Loại bộ lọc như vậy, thích hợp cho hệ thống WDM sử dụng nguồn quang có dải phổ
rộng (LED). Bộ lọc thông giải được sử dụng trong WDM khi nguồn quang có phổ hẹp
(LASER). Đối với bộ lọc thông giải có một vài yêu cầu: đó là độ dốc sườn đường
cong hàm truyền đạt phải đủ lớn để tránh xuyên âm giữa các kênh kề nhau, mặt khác
độ rộng giải Dl có dung sai cho phép để đề phòng dịch bước sóng trung tâm của
nguồn quang khi nhiệt độ thay đổi.
23
Dưới đây ta xem xét một số thiết bị tách bước sóng dùng bộ lọc màng mỏng: