phương pháp xếp hạng doanh nghiệp và ứng dụng vào việt nam - Pdf 10

Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
rong điều kiện hội nhập kinh tế và Việt Nam đã là thành viên của tổ chức
thương mại Thế giới (WTO), vì vậy nền kinh tế Việt Nam phải thực sự đối
mặt với những thách thức hết sức to lớn. Nguyên nhân của những thách thức đó
là nền kinh tế Việt Nam còn yếu kém về nhiều mặt: công nghệ còn lạc hậu, trình
độ còn chưa phát triển…Đặc biệt đối với ngành Ngân hàng, xu hướng tự do hoá
và toàn cầu hoá kinh tế khiến hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng của
Việt Nam càng trở nên phức tạp, dẫn tới nhiều rủi ro hoạt động. Vì vậy quá trình
cải cách tài chính - ngân hàng là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời
trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
T
Đối với các hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, rủi ro
hầu như có mặt trong từng nghiệp vụ ngân hàng và muốn có lợi nhuận thì phải
chấp nhận rủi ro. Tuy nhiên tín dụng là hoạt động chủ yếu hiện đang chiếm tỷ
trọng lớn nhất: từ 60-70% trong danh mục tài sản có của Ngân hàng, đặc biệt
nguồn tín dụng này đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo cho các doanh nghiệp.
Thế nhưng hoạt động tín dụng lại đang gặp nhiều khó khăn và có xu hướng đóng
băng. Sự đình trệ và hoạt động kém hiệu quả của hoạt động tín dụng không chỉ
ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng mà còn gây trở ngại
không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá của đất nước.
Trong hoạt động tín dụng, đánh giá rủi ro tín dụng là khâu đầu tiên, là điều
kiện tiên quyết trước khi cho vay. Vì vậy Ngân hàng nhà nước đã ban hành
quyết định số 68/1999/QĐ – NHNN9 ngày 27/02/1999 của Thống đốc ngân
hàng Nhà nước thành lập Trung tâm Thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước
1
Chuyên đề tốt nghiệp
(Credit information center – viết tắt CIC). CIC có chức năng thu thập và cung
cấp, dịch vụ Thông tin tín dụng cho Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng,
tổ chức và cá nhân khác nhằm góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng,

các Ngân hàng thương mại luôn luôn phải đối mặt với các loại rủi ro đó có thể là
rủi ro do khách hàng trả nợ không đúng hạn, cũng có thể là do Ngân hàng không
đáp ứng được nhu cầu rút tiền của người gửi tiền……
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt
– hàng hoá tiền tệ, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đa phần trong đó là các khoản tiền gửi
phải trả khi có yêu cầu. Nguồn tiền của các ngân hàng thương mại đang có thay
đổi mạnh mẽ do sự gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng, giữa các ngân
hàng với các tổ chức tài chính dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin và quá
trình toàn cầu hoá. Các nguồn tiền của cá nhân và doanh nghiệp dễ dàng di
chuyển hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Điều này tạo thuận lợi cho ngân hàng
trong việc tìm kiếm nguồn tiền song lại làm tăng tính kém ổn định của cả hệ
thống. Mặt khác tài sản của các ngân hàng chủ yếu là các động sản tài chính (các
khoản cho vay, chứng khoán) với tính rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng rất cao.
Công nghệ của Ngân hàng ngày càng phát triển cho phép các Ngân hàng có thể
chuyển nguồn tiền đầu tư của mình tới những vùng xa trụ sở. Điều này vừa làm
giảm bớt rủi ro của Ngân hàng do đa dạng hoá khách hàng nhưng đồng thời cũng
3
Chuyên đề tốt nghiệp
làm tăng tính rủi ro do những biến động lớn trên thị trường Thế giới, khu vực và
do Ngân hàng không kiểm soát tốt được các khoản vay…Điều này không chỉ
xảy ra ở thị trường Việt Nam mà còn diễn ra ở trên Thế giới. Chẳng hạn vào cuối
năm 1997, khủng hoảng tài chính đã làm cho nhiều Ngân hàng ở châu Á bị mất
hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản hoặc phải sát nhập; cũng vào năm 1997, nhiều
Ngân hàng thương mại Việt Nam do mở rộng cho vay tràn lan đã rơi vào tình
trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi. Tóm lại tất cả các loại rủi ro của ngân hàng đều có
bản chất chung đó là khả nảng xảy ra tổn thất cho ngân hàng.
1.1.2 Các loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
Dựa vào những tiêu thức khác nhau thì rủi ro của Ngân hàng được chia
thành những loại khác nhau. Nếu phân chia theo nguyên nhân các nhân tố tác
động thì rủi ro Ngân hàng bao gồm: rủi ro do người vay không trả được nợ cho

Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro thị trường quan trọng, đặc biệt trong điều
kiện lãi suất thay đổi như hiện nay. Vì vậy, việc thực hiện các biện pháp để hạn
chế rủi ro lãi suất cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý rủi ro của Ngân
hàng thương mại.
Các giải pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất:
-
Phải duy trì cân đối các khoản vay nhạy cảm với lãi suất bên tài sản nợ
và tài sản có.
-
Sử dụng một chính sách lãi suất linh hoạt, đặc biệt với những khoản vay
lớn, thời hạn dài cần tìm kiếm nguồn vốn tương xứng, hoặc thực hiện cơ
chế lãi suất thả nổi.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
-
Sử dụng các công cụ tài chính mới để hạn chế rủi ro ngoại bảng, như sử
dụng các nghiệp vụ kỳ hạn về lãi suất, nghiệp vụ kỳ hạn về tiền gửi, nghiệp
vụ kỳ hạn về lãi suất tiền vay, thực hiện hợp đồng tương lai do không cân
xứng tài sản nợ và tài sản có; thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất, quyền
lựa chọn lãi suất.
1.1.2.3 Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải gánh
chịu khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị
trường, tỷ giá thường xuyên dao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối
đoái của Ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Tuy nhiên
có những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho Ngân hàng.
Những nhân tố tác động đến rủi ro tỷ giá:
-
Lãi suất.
-

không có khả năng thanh toán các giao dịch của khách hàng theo các cam kết
(thiếu hoặc mất khả năng thanh toán).
Rủi ro thanh khoản có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như:
-
Do Ngân hàng sử dụng vốn để đầu tư, cho vay nhưng chưa thu hồi được vì
chưa đến kỳ hạn khách hàng trả nợ, nhưng Ngân hàng phải thanh toán các
khoản nợ đến hạn (do sự biến động của tài sản Nợ và Tài sản Có trong quá
trình hoạt động).
-
Do có nhiều khoản vay kém chất lượng nên Ngân hàng không thu được nợ
làm cho Ngân hàng không có đủ tiền để thực hiện các cam kết với khách
hàng hay nói cách khác Ngân hàng không có khả năng thanh toán các giao
dịch của khách hàng theo các cam kết (thiếu hoặc mất khả năng thanh
toán).
-
Do những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở Ngân hàng
ngay lập tức. Hoặc có dòng tiền lớn rút ra đột ngột do yếu tố mất ổn định
vĩ mô, do thông tin bất lợi cho Ngân hàng.
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thiếu khả năng thanh toán là thiếu tiền theo dự kiến, điều này đòi hỏi
Ngân hàng phải bù đắp lượng tiền thiếu với chi phí cao hơn bình thường dẫn đến
làm giảm lợi nhuận. Khi lợi nhuận giảm qua số cân bằng thu chi làm cho NH bị
lỗ trong kinh doanh. Nếu số lỗ này không được bù đắp và ngày càng tăng lên do
việc huy động vốn đảm bảo khả năng thanh toán sẽ dẫn đến việc NH bị phá sản.
Ngược lại khi Ngân hàng thừa khả năng thanh toán (tức là duy trì số tiền không
sinh lời hoặc sinh lời thấp quá lớn để đảm bảo khả năng thanh toán) cũng sẽ dẫn
đến thu nhập thấp, giảm khả năng sinh lời của Ngân hàng.
Trường hợp mất khả năng thanh toán cũng dẫn đến việc NH bị phá sản vì
mọi khách hàng là chủ nợ của NH sẽ cùng rút tiền ồ ạt (kể cả những khoản nợ

mọi giấy tờ có giá mà một Ngân hàng thương mại nắm giữ đều tiềm ẩn rủi ro
này (ngoại trừ trái phiếu Chính phủ). Các Ngân hàng thưong mại có thể chọn
loại hình giấy tờ có giá để đầu tư cho phù hợp với mục đích chính của mình,
nhưng luôn phải đánh giá đúng mức rủi ro của chứng khoán đó. Việc người phát
hành không thể thanh toán được luôn gây ra những thiệt hại đáng kể đối với các
Ngân hàng; nó gián tiếp gây ra những thiệt hại đối với toàn bộ hệ thống kinh tế
quốc gia. Chính vì thế mà các quốc gia đều đặt ra những quy định chỉ cho phép
Ngân hàng thương mại được phép kinh doanh số chứng khoán đã được xếp hạng
ở một mức nào đó.
-
Rủi ro nhân sự: hoạt động kinh doanh giấy tờ có giá của Ngân hàng
thương mại rất đa dạng. Nó đòi hỏi sự độc lập của các cá nhân, nhân viên Ngân
hàng. Chính vì thế mà những rủi ro phát sinh bởi chính các nhân viên của Ngân
hàng là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là trong hoạt động môi giới đầu tư
cho khách hàng.
9
Chuyên đề tốt nghiệp
-
Rủi ro do yêu cầu thanh khoản: các Ngân hàng luôn phải đáp ứng một
nhu cầu thanh khoản nhất định và việc đầu tư vào giấy tờ có giá có thể làm giảm
khả năng thanh khoản của Ngân hàng, làm tăng rủi ro do yêu cầu thanh khoản.
-
Rủi ro khác: các rủi ro khác mà một Ngân hàng phải đối mặt trong quản
lý và kinh doanh giấy tờ có giá bao gồm những rủi ro như cháy, mất mát, cướp…
Và còn nhiều rủi ro tới từ các hoạt động khác của Ngân hàng, chúng luôn có tác
động qua lại lẫn nhau.
1.1.2.6 Rủi ro khác
Ngoài các rủi ro trên Ngân hàng còn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
quan trọng khác như:
-

hoặc giải thể.
Sau đây là phân phối xác suất lợi tức đầu tư Ngân hàng vào trái phiếu và
các khoản cho vay tín dụng.
Đồ thị 1.1: Phân phối xác suất của lợi tức đầu tư11
P=1
0
gốc gốc và lãi
tiền hoàn trả
Xác suất (p)
Chuyên đề tốt nghiệp
Chúng ta thấy rằng đỉnh của đồ thị biểu diễn xác suất hoàn trả đầy đủ cả
gốc và lãi của khoản vay là tương đối cao (tuy nhiên luôn nhỏ hơn 1). Đặc điểm
luân chuyển vốn của các công ty có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng ở
các mức độ khác nhau. Tỷ lệ không thanh toán được một phần hay toàn bộ tiền
lãi là khoảng cách từ điểm “gốc” đến điểm “gốc và lãi”; và tỷ lệ không thanh
toán được một phần hay toàn bộ tiền gốc là từ điểm “0” đến điểm “gốc”. Đồ thị
1.1 cũng chỉ ra rằng xác suất mà ngân hàng thu được cả gốc và lãi là cao hơn
nhiều so với trường hợp không thu được cả gốc và lãi, điều này nói lên rằng bổn
phận của Ngân hàng là phải đánh giá được mức độ rủi ro dự tính của các khoản
đầu tư và đặt yêu cầu cho phần thu nhập phụ trội so với rủi ro tương xứng với
mức độ rủi ro của các chứng khoán mà Ngân hàng nắm giữ.
Đồ thị 1.2: Phân bổ xác suất rủi ro đối với một danh mục đầu tư
Sự phân bổ lợi tức đối với rủi ro tín dụng đặt ra cho Ngân hàng là phải
giám sát và thu thập được những thông tin về công ty mà Ngân hàng đã đầu tư.

khoản tín dụng và trái phiếu không thể thu hồi đủ, thu đúng được một phần hay
toàn bộ số lãi và gốc. Vì vậy, mức độ thu hồi trung bình của các danh mục đầu tư
có thể nhỏ hơn so với trường hợp thu được đầy đủ cả gốc và lãi. Kết quả của
việc đa dạng hoá đầu tư là việc hạn chế được xác suất xảy ra các hậu quả xấu
trong danh mục đầu tư. Một danh mục đầu tư được đa dạng hóa đã rút ngắn được
phạm vi rủi ro tín dụng. Trong thực tế, đa dạng hoá danh mục đầu tư chỉ có thể
giảm được rủi ro tín dụng đặc thù riêng của các ngành kinh tế, tuy nhiên rủi ro có
tính chất hệ thống, chung cho cả nền kinh tế có ảnh hưởng đến tất cả các ngành
kinh tế thì không thể loại trừ được.
1.2.2 Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Nợ có vấn đề
Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, các Ngân hàng thương mại đều mong
muốn rằng khoản cho vay đó sẽ được hoàn trả đầy đủ, đúng thời hạn như đã thoả
thuận. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình, sau khi cấp tín dụng
13
Chuyên đề tốt nghiệp
cho khách hàng, Ngân hàng phải thường xuyên giám sát khoản tín dụng đã cấp
đó, để xem khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận không? Và
mức độ hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng như thế nào?
Do đó có thể nói rằng, hoạt động giám sát có vai trò hết sức quan trọng: nó
hướng vào những dấu hiệu báo trước các vấn đề kinh doanh nảy sinh, cũng như
những biện pháp khắc phục, giúp Ngân hàng nhận biết và phát hiện được các
khoản nợ xấu có vấn đề, để có hành động và biện pháp cần thiết, kịp thời để
ngăn ngừa hoặc xử lý.
Nợ có vấn đề là những khoản vay, trong đó thoả thuận hoàn trả của khách
hàng có khả năng đổ vỡ, dù hiện tại những khoản vay đó chưa đến kỳ hạn trả nợ
gốc và lãi.
Muốn tránh được thiệt hại và tổn thất, thì cán bộ tín dụng cần sớm phát
hiện ra những khoản nợ có vấn đề, để kịp thời ngăn ngừa hoặc xử lý. Nếu không
có thể sẽ không giải quyết được vấn đề trước khi tình hình trở nên xấu hơn.

Tỷ lệ nợ khó đòi = (Nợ khó đòi / Tổng dư nợ) cho biết Ngân hàng cho
vay 100 đơn vị tiền tệ thì tỷ lệ tổn thất bao nhiêu đơn vị tiền tệ. Nợ khó đòi và tỷ
lệ nợ khó đòi = (Nợ khó đòi / Tổng dư nợ) phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng
nói riêng và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung. Nợ khó đòi cao
làm cho Ngân hàng phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro nhiều hơn, chi phí hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng sẽ tăng, qua đó đẩy lãi suất cho vay của Ngân
hàng tăng lên, làm giảm tính cạnh tranh của Ngân hàng.
15
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.4 Lãi treo
Lãi treo là số tiền lãi mà khách hàng không trả được cho Ngân hàng khi
đến hạn thanh toán. Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết rủi ro tín
dụng. Bởi vì việc thanh toán lãi thường không gắn liền với việc trả gốc, và có giá
trị nhỏ hơn gốc rất nhiều, được trả vào những thời điểm nhất định, tuỳ theo sự
thoả thuận của Ngân hàng và khách hàng. Khi khách hàng không thanh toán
được tiền lãi của khoản vay thì có thể coi đấy là một dấu hiệu thể hiện rằng
doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.
Tỷ lệ (Lãi treo phát sinh / Tổng thu nhập) từ hoạt động tín dụng, cũng là
một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi ro của Ngân hàng.
Tuy nhiên việc nhận biết rủi ro tín dụng nếu chỉ thông qua các khoản nợ
có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó đòi và lãi treo thì dường như đã khá là muộn đối
với các Ngân hàng. Bởi vì chỉ khi tình hình của khách hàng là khó khăn đặc biệt
thì những dấu hiệu này mới bộc lộ. Đến lúc đó thì tổn thất mà Ngân hàng có thể
gặp phải sẽ là rất lớn. Vậy nên, điều mà các Ngân hàng quan tâm là những dấu
hiệu có thể tạo ra rủi ro tín dụng; để từ đó có thể chủ động và kịp thời đưa ra
biện pháp phù hợp, nhằm hạn chế những khó khăn tổn thất cho cả Ngân hàng và
khách hàng. Do đó, ngoài các dấu hiệu ở trên, các cán bộ tín dụng còn nhận biết
rủi ro tín dụng thông qua một số dấu hiệu khác.
1.2.2.5 Cơ cấu dư nợ tín dụng
Giống như mọi hoạt động đầu tư khác: hoạt động tín dụng của Ngân hàng

càng phình to, có các hoạt động sát nhập với các doanh nghiệp yếu kém
khác.
- Có những khoản chi phí bất hợp lý.
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài ra còn có một số dấu hiệu khác như: nhóm các dấu hiệu thuộc về
mặt pháp luật, nhóm các dấu hiệu thuộc về kỹ thuật và thương mại….
1.2.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho Ngân hàng, có thể
phân thành các loại nguyên nhân như sau:
1.2.3.1 Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm mất khả
năng thanh toán cho Ngân hàng. Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay
đổi tầm vĩ mô (thay đổi của Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế
quan…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người vay,
tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay, với bản lĩnh của
mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khó khăn. Trong
những trường hợp khác, người vay có thể sẽ bị tổn thất song vẫn có thể trả nợ
cho Ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi tác động của những
nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề thì khả năng trả nợ của
họ bị suy giảm.
1.2.3.2 Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu
kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ Ngân hàng, chây ì…. là nguyên nhân
gây ra rủi ro tín dụng. Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kì vọng thu
được lợi nhuận cao. Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ
đoạn ứng phó với Ngân hàng như cung cấp thông tin sai, mua chuộc… Nhiều
người vay đã không tính toán kĩ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kĩ
lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục

hình thức cấp tín dụng mới được phép theo Quy chế bao thanh toán của các
TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 6/9/2004
của NHNN) và các hình thức tín dụng khác.
Việc phân loại nợ cũng được xác định hết sức rõ ràng. Theo phương pháp
“định lượng” Quyết định 493 đã phân loại nợ thành 5 nhóm, bao gồm:
Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong
tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và cơ cấu lại
thời hạn trả nợ.
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn 90 ngày.
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 90 ngày đến 180 ngày.
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
Tuy nhiên cần lưu ý là cho dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể để
phân loại nợ như trên, các tổ chức tín dụng (TCTD) và Ngân hàng (NH) vẫn có
quyền chủ động tự quyết định phân loại nợ nào vào nhóm nợ rủi ro cao hơn
tưong ứng với mức độ rủi ro nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy
giảm.
Điều đặc biệt ở Quyết định này là lần đầu tiên phương pháp “định tính”
được cho phép áp dụng đối với các TCTD đủ điều kiện. Theo phương pháp này
20
Chuyên đề tốt nghiệp
nợ cũng được phân thành 5 nhóm nợ tương ứng như 5 nhóm nợ theo cách phân
loại “định lượng”, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa
thanh toán nợ, mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách
dự phòng rủi ro của TCTD được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Các nhóm nợ
bao gồm:

7,7%. Với các ngân hàng quốc doanh, nợ xấu theo chuẩn mới hiện ở mức trên
dưới 23 ngàn tỷ (tính đến tháng 11/2005). Với khối NH thương mại cổ phần, nợ
xấu dường như không phải là vấn đề lớn khi hầu hết các NH đều có một con số
khá đẹp, phần lớn đều nằm dưới mức 1%. Một số NH vừa thoát hiểm như
Eximbank cũng có tỷ lệ nợ xấu khả quan dưới 4%; với VP Bank, nợ xấu chỉ ở
khoảng 0,8-0,9%
Sang năm 2006, khi kết thúc hầu hết các NH đều đứng trước những con số
lợi nhuận ấn tượng. Có thể nói năm 2006 là năm thành công nhất của ngành NH
Việt Nam từ trước đến nay. Nhưng có giá trị hơn, có chiều sâu hơn là những
chuyển biến tích cực của việc xử lý nợ xấu. Nợ xấu của NH Ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank) đang ở mức khoảng 2,9-3,0% tổng dư nợ, cao hơn tiêu chí
phân loại cũ là 0,6%. Và nếu so với mặt bằng chung cách đây khoảng 5 năm thì
đó là một tỷ lệ quá lý tưởng (so với 12-13%). Tỷ lệ nợ xấu của các NH quốc
doanh còn lại có mức chênh lệch đáng kể: NH Công thương (Incombank) ở vào
khoảng 6% tổng dư nợ, NH Đầu tư và phát triển (BIDV) ở khoảng 9% tổng dư
22
Chuyên đề tốt nghiệp
nợ. Với NH thương mại cổ phần, tỷ lệ trên còn thấp hơn nhiều. Theo báo cáo của
một số NH cổ phần, tỷ lệ nợ xấu chỉ xoay quanh mức 1%.
Điều đặc biệt, sau khi thống nhất với bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã
có công văn quy định một số nhóm nợ mà NH thương mại nhà nước được bán
cho Công ty mua nợ, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC).
Theo công văn số 7129/NHNN-TD ngày 18/8/2006 của Ngân hàng Nhà nước,
các khoản nợ xấu mà NH thương mại nhà nước được bán cho DATC gồm nợ
dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn.
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Lý luận về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
2.1 Tổng quan về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm về xếp hạng doanh nghiệp

2.1.2 Sự cần thiết của công tác đánh giá xếp hạng doanh nghiệp
Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh tế, hệ thống các NH thương
mại ngày càng mở rộng để đáp ứng các nhu cầu trong thanh toán tín dụng và các
dịch vụ NH khác. Song song với quá trình đó mức độ rủi ro mà NH gặp phải
ngày càng lớn do sự ảnh hưởng của biến động kinh tế Thế giới, số lượng khách
hàng ngày càng tăng và khó kiểm soát thông tin về họ. Đặc biệt trong hoạt động
tín dụng của NH, nó ngày càng chứa đựng nhiều rủi ro và nhiệm vụ vủa NH là
hạn chế rủi ro thường gặp phải mà vẫn đảm bảo lợi nhuận cho NH. Khi đưa ra
bất kỳ một quyết định cho vay nào, NH cũng phải xem xét đến tình hình sản xuất
kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp bởi đây sẽ là nhân tố quyết định
đến rủi ro và khả năng thu hồi vốn của NH sau này. Tuy nhiên, không phải lúc
nào, việc đánh giá này cũng chính xác, nhất là khi thông tin về doanh nghiệp lại
bé nhỏ và không đáng tin cậy. Điều này dẫn đến tình trạng: nhiều doanh nghiệp
tốt không có nguồn vốn để phát triển trong khi rất nhiều khoản tín dụng đã được
cấp cho những doanh nghiệp làm ăn kém, không có khả năng trả nợ, thậm chí có
nhiều trường hợp khoản vốn vay còn được sử dụng sai mục đích ban đầu dẫn đến
tổn thất rất lớn cho NH.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status