TIỂU LUẬN:
Tăng cường huy động vốn tại chi
nhánh Sở giao dịch 1 Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế luôn chiếm giữ vị
trí hàng đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước . Tốc độ tăng trưởng của cả
nền kinh tế trong tương lai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó vốn là nhân tố rất
quan trọng góp phần thay đổi cục diện của cả nền kinh tế từ đó đưa đất nước tiến lên một
tầm cao mới , và càng mang tính chất quyết định đối với một quốc gia đang trong quá
trình CNH –HĐH như nước ta hiện nay . Bài học của các quốc gia phát triển trên thế giới
đã khẳng định tích tụ và tập trung vốn đặc biệt vốn trong nước có một vị trí đặc biệt quan
trọng trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước .Thực tiễn trong những năm vừa qua cho
thấy, vấn đề bức xúc của nền kinh tế nước ta là thiếu vốn để trang bị và đổi mới công
nghệ hiện đại , mặt khác hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng chưa cao .Vì vậy , để con
đường tích tụ và tập trung vốn có hiệu quả , tạo tiền đề cho công cuộc CNH – HĐH được
diễn ra nhanh chóng thì càng phải phát huy tối đa vai trò của hệ thống NHTM – kênh huy
động vốn lớn nhất trong hệ thống các trung gian tài chính .
Chương 1 : Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.1.Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1.Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế , với
nhiệm vụ thực hiện các chính sách kinh tế , đặc biệt là chính sách tiền tệ Ngân hàng đã
trở thành một kênh quan trọng trong các chính sách của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế .
Các Ngân hàng có thể được định nghĩa theo chức năng , tính chất và mục đích
hoạt động của chúng trên thị trường tài chính , và ở từng thời điểm khác nhau thì cũng có
những định nghĩa khác nhau về Ngân hàng . Trước đây việc lưu hành nhữn đồng tiền
riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với giao thương quốc tế tạo ra nhu cầu
đúc và đổi tiền tai các cửa khẩn hoặc trung tâm thương mại , từ đó nghề Ngân hàng bắt
đầu xuất hiện , trong điều kiện lưu thông tiền kim loại , những người kinh doanh tiền tệ
đã biết sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay xuất phát từ tính chất vô
Trong đó tiền gửi là nguồn tiền quan trọng , chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của Ngân hàng, qui mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác bao gồm tiền gửi
thanh toán của DN hoặc cá nhân , tiền gửi có kì hạn của các tổ chức kinh tế , xã hội, tiền
gửi tiết kiệm của dân cư, và tiền gửi của các Ngân hàng khác .Để gia tăng tiền gửi trong
môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao , các Ngân
hàng đã và đang đưa ra nhiều hình thức huy động với mức lãi suất hấp dẫn và các chương
trình khuyến mãi phong phú hơn. Bên cạnh nguồn vốn huy động được từ tiền gửi các Ngân hàng thường phải đi vay
mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Các NHTM có
thể vay của NHNN dưới hình thức chủ yếu là được tái cấp vốn , tái chiết khấu , vay các
tổ chức tín dụng khác , vay trên thị trường vốn bằng cách phát hành các giấy nợ ( kì
phiếu , tín phiếu, trái phiếu ) .
Thông thường khi vay NHNN, các NHTM phải chịu các điều kiện kiểm soát chặt
chẽ để đảm bảo an toàn bởi vậy các NHTM thường có xu hướng vay các tổ chức tín
dụng khác hoặc phát hành các giấy nợ để đáp ứng nhu cầu vốn tức thời hay các khoản
vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và
đầu tư trung và dài hạn.
Ngoài các hoạt động huy động vốn trên NHTM còn thực hiện các dịch vụ ủy thác
như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, …các hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán như séc trong quá tình chi trả ,
tiền kí quỹ để mở L/C …. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM,
thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án cho
từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
Như vậy, bằng nghiệp vụ huy động vốn có thể nói NHTM đã nắm trong tay một bộ
phận rất lớn của cải xã hội về mặt giá trị. Để huy động được số tiền như vậy, các NHTM
đã phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định, đó là tiền lãi phải trả cho người gửi tiền và
các chi phí quản lí khác.
1.1.2.2.Hoạt động sử dụng vốn
1.1.2.3.Hoạt động trung gian khác
Ngoài hai hoạt động cơ bản trên NHTM cũng có thể tạo ra doanh thu cho mình
bằng việc các nghiệp vụ được phép như thanh toán, chuyển hộ tiền, tư vấn khách hàng
và thu phí dịch vụ . Hoạt động trung gian sẽ tạo cơ hội cho Ngân hàng tăng thu nhập.
hiện nay, các Ngân hàng không chỉ tìm kiếm nguồn thu trong hoạt động cho vay, mà
nguồn thu từ dịch vụ cũng ngày càng có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, hoạt động trung
gian còn góp phần làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn, tăng tốc chu chuyển vốn,
giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội
và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế… Thực hiện tốt hoạt động này, Ngân hàng sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động huy động
vốn và cho vay, đầu tư của Ngân hàng.
1.2.Hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1.Sự cần thiết của huy động vốn đối với NHTM
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, NHTM muốn hoạt động được trước
hết phải có vốn. Nhưng NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh “tiền tệ” do đó,
nhu cầu về vốn của NHTM là rất lớn và việc tao vốn cho Ngân hàng là vấn đề quan trọng
hàng đầu trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Xuất phát từ định nghĩa :“ Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ
do bản thân Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư
hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác ” có thể hiểu được vốn chính là cơ sở để
NHTM hoạt động kinh doanh .
Đối với Ngân hàng , vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là
đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức loại hàng hóa đặc biệt, hoạt động có
bản nhất của Ngân hàng là huy động vốn để cho vay và là hoạt động mang lại phần lợi
nhuận cho Ngân hàng . Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tất cả các nguồn tài
chính mà Ngân hàng có thể sử dụng để tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh
của mình. Vì vậy, Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong
suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình thông qua nghiệp vụ huy động vốn .
1.2.2.Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.2.2.1.Căn cứ theo thời gian
Căn cứ theo thời gian là một cách phân loại các hình thức huy động vốn của
NHTM , để từ đó NHTM có thể điều chỉnh kì hạn cho vay phù hợp với khả năng của
Ngân hàng cũng như đảm bảo an toàn cho nguồn vốn .Theo thời gian huy động vốn của
NHTM được chia thành :
* Huy động vốn ngắn hạn : đây là hình thức huy động chủ yếu trong các Ngân
hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền
tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán thường là các khoản tiền
có thời hạn dưới 1 năm mà Ngân hàng áp dụng để huy động vốn ngắn hạn trên thị trường. Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy động được của
Ngân hàng ngắn và thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất , tỷ giá, thu nhập , chu
kì chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn
thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.
* Huy động vốn trung hạn : nguồn vốn huy động trung hạn có kì hạn từ 1 đến 5
năm , được NHTM thường dùng để phục vụ cho nhu cầu cho vay trung , dài hạn nguồn
vốn này thuận tiện và có tính ổn định hơn nguồn ngắn hạn mặc dù lãi suất cao hơn
.Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để NHTM thực hiện các hoạt
động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
* Huy động vốn dài hạn : đây là nguồn vốn huy động có kì hạn từ 5 năm trở lên ,
được dùng cho các dự án đầu tư dài hạn mang tính khả thi. Đây là nguồn vốn ổn định mà
Ngân hàng huy động được, nhưng các Ngân hàng cũng phải trả mức lãi suất cao hơn cho
những khoản vốn này.
1.2.2.2.Căn cứ theo đối tượng huy động
* Vốn huy động từ dân cư : Các tầng lớp dân cứ đều có các khoản thu nhập tạm
thời chưa sử dụng ,điều này tạo ra nguồn vốn có tiềm năng lớn và nhìn chung là khá ổn
định đối với Ngân hàng. Người dân có thu nhập gửi tiền vào Ngân hàng nhằm thực hiện
mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm Khi thu nhập và đời sống của
trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN vì khi
vay từ NHNN ,các NHTM phải tuân thủ các điều kiện cấp tín dụng chặt chẽ từ phía
NHNN trong khi đó các Ngân hàng có thể vay mượn từ các tổ chức tín dụng khác một
cách dễ dàng hơn.
Ngoài ra trong quá trình hoạt động, các NHTM cũng làm tăng nguồn vốn huy
động thông qua các hoạt động gửi tiền lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh
toán hay khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán hoăc làm đại lý, tiếp nhận vốn
tài trợ ủy thác, đầu tư…
1.2.2.3.Căn cứ theo hình thức huy động
* Huy động qua tiền gửi :
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng , chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của
Ngân hàng , và là cơ sở để từ đó NHTM tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh tăng lợi nhuận cho mình . Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt , các NHTM
đang chạy đua trong việc thu hút tiền gửi thông qua các hình thức huy động phong phú và
dịch vụ đa dạng kèm theo.
+ Tiền gửi thanh toán ( tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán ). khách hàng
gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn
bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục .Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là
để sử dụng các dịch vụ Ngân hàng nên mức lãi suất mà Ngân hàng trả cho người gửi tiền
là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi , thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các
dịch vụ của Ngân hàng với mức phí thấp .
Đây là loại tiền gửi mà Ngân hàng phải có trách nhiệm thỏa mãn nhu cầu rút ra
của khách hàng vào bất cứ lúc nào khách hàng cần ngay cả khi NHTM gặp khó khăn về
thanh khoản hay bị ảnh hưởng từ khó khăn của thị trường vốn .Một số Ngân hàng sử
dụng nhiều hình thức “ biến tướng “ của tài khoản thanh toán nhằm nâng lãi suát để cạnh
tranh với các Ngân hàng khác .
Ở các nước phát triển tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt khá cao , trong khi ở
những nước đang phát triển như Việt Nam tỷ lệ này lại rất thấp do điều kiện cơ sở vật
tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn các Ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách
hàng rút ra trước thời hạn. Có Ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không
kỳ hạn, có Ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế
Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm , các NH đều đang cố gắng khuyến
khích dân cư thay đổi thoái quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng
lưới huy động , đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất hấp dẫn hoặc có thể
mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm cho mỗi lần gửi khác nhau .Sổ
tiêt kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ nhưng có thể thế chấp để
vay vốn với sự đồng ý của NH.
* Huy động qua nghiệp vụ đi vay :
+ Vay NHNN : Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả
của NHTM , trong trường hợp thiếu hụt dự trữ . Với vai trò là người cho vay cuối cùng
NHTW cấp tín dụng cho NHTM dưới hình thức tái chiết khấu ( tái cấp vốn ) .Khi cần
tiền các NHTM mang những thương phiếu đã được chiết khấu lên tái chiết khấu tại NHNN .NHNN điều hành vay mượn một cách chặt chẽ , và chỉ tái chiết khấu đối với các
thương phiếu có chất lượng . Việc cho vay này cũng gặp phải một số khó khăn khi
NHNN đưa ra các quy định đảm bảo và kiểm soát nhất định và cũng phải tùy thuộc vào
chính sách tiền tệ từng thời kỳ .
+ Vay các tổ chức tín dụng khác : Khi gặp khó khăn về việc chi trả do quy định
tăng mức dự trữ của NHNN ,tăng cường cho vay hay xuất hiện các nhu cầu rút tiền ồ ạt
của người gửi tiền các NHTM sẽ vay mượn lẫn nhau để đảm bảo khả năng thanh khoản
tạm thời .Qui trình vay mượn rất đơn giản , các khoản vay có thể không cần đảm bảo
hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc , điều này có thể xây dựng trên cơ
sở các mối quan hệ tốt giữa các NH với nhau .
* Huy động trên thị trường vốn :
Các NHTM cũng tiến hành vay mượn trên thị trường vốn bằng cách phát hành các
giấy tờ có giá : kì phiếu , trái phiếu , chứng chỉ tiền gửi .Thông thường đây là khoản vay
không có tài sản đảm bảo , các NH vay mượn dựa trên uy tín và lãi suất cạnh tranh .Đặc
khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian
thanh toán, đầu mối trong hợp đồng đồng tài trợ
+ Vốn tài trợ ủy thác: Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ đa phương , rất
nhiều các tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của Ngân hàng , có
nguồn tài chính , đã sử dụng mạng lưới Ngân hàng như các kênh phân phối tới các mục
tiêu .Kết quả là hình thành nguồn ủy thác , làm gia tăng nguồn vốn của Ngân hàng mà
trong đó NH tìm kiếm lợi nhuận dưới hình thức hưởng phí hoa hồng thông qua nghiệp vụ
đại lí, nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để cho vay trung, dài
hạn thực hiện những chương trình dự án có mục tiêu định trước trong sản xuất kinh
doanh.
Đây là nguồn vốn mà NH và Ngân hàng không có trách nhiệm thẩm định những
khách hàng loại này và là nghiệp vụ mang tính chất trung gian của NHTM mà qua đó
NHTM có thể đáp ứng nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế .
+Nguồn vốn trong thanh toán: trong quá trình làm trung gian thanh toán NHTM
cũng có một khoản vốn gọi là khoản vốn trong thanh toán như vốn trên tài khoản tiền gửi mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi bảo chi séc và các khoản tiền phong tỏa do các Ngân
hàng chấp nhận các hối phiếu thương mại.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM
1.3.1.Nhân tố thuộc NHTM
1.3.1.1.Công nghệ Ngân hàng
Ngày nay công nghệ đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
đặc biệt trong lĩnh vực Ngân hàng – lĩnh vực kinh doanh dịch vụ , luôn đòi hỏi sự đổi
mới và nâng cấp để có thể đáp ứng nhu cầu đi lên của xã hội . Công nghệ Ngân hàng
ngày càng trở nên phổ biến cũng bởi sự thuận tiện và đa dạng mà nó mang lại. Các hình
thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được sử dụng rộng rãi , cùng với hệ
thống máy rút tiền tự động ATM , home banking , dịch vụ thẻ tín dụng , hệ thống thanh
toán điện tử , dịch vụ Ngân hàng đang dần đi vào đời sống xã hội và tác động không
nhỏ tới hoạt động huy động vốn của Ngân hàng .
riêng và trong hoạt động kinh doanh của mình nói chung
1.3.1.3.Phương hướng và chiến lược kinh doanh từng thời kỳ
Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng từng thời kỳ khác nhau cũng ảnh hưởng
đến lượng vốn huy động của từng thời kỳ tương ứng .Các phương hướng , chiến lược của
Ngân hàng thay đổi có thể do tác động của nhân tố bên ngoài hoặc cũng có thể do chính
Ngân hàng định ra nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như theo đuổi một mục tiêu
dài hạn nào đó mà NH đã đặt ra. Mỗi Ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác
nhau phụ thuộc vào từng điểm mạnh, điểm yếu, khả năng cũng như hạn chế Ngân hàng .
Chiến lược kinh doanh liên quan đến huy động vốn có thể là chính sách lãi suất, thay đổi
quy mô cơ cấu nguồn huy động , hình thức huy động và các dịch vụ liên quan Một
chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ , các nguồn vốn được khai thác một cách tối đa thì
công tác huy động vốn sẽ phát huy được hiệu quả.
1.3.1.4.Chính sách lãi suất
Chính sách lãi suất có ảnh hưởng rất quan trong tới nguồn vốn huy động . Lãi suất
chính là giá cả của nguồn huy động đối với Ngân hàng , và các Ngân hàng luôn muốn tìm
cho mình một nguồn vốn đảm bảo với mức lãi suất huy động thấp nhất .Ngân hàng luôn phải cân nhắc một mức lãi suất hợp lý đối với nguồn huy động để vừa đảm bảo lợi nhuận
vừa có thể thu hút được khách hàng bởi KH khi gửi tiền hay cho NH vay luôn tính đến
một mức lãi cao nhất mà họ có thể nhận được .Lãi suất cao thì có thể huy động được
nguồn vốn lớn tuy nhiên chi phí huy động cũng bị kéo theo , trong khi đó một chính sách
lãi suất thấp sẽ hạn chế khách hàng tiền gửi vào Ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động
tín dụng và đầu tư của Ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của NH.
Tuy nhiên đưa ra được một chính sách lãi suất hợp lý là một việc không đơn giản
đối với các Ngân hàng vì lãi suất huy động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lãi suất cho
vay, mặt bằng lãi suất trên thị trường, mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy
định ,từng kì hạn huy động, từng nhóm khách hàng… NHNN luôn giới hạn một mức lãi
suât cho vay thông qua lãi suất cơ bản , điều này khiến cho các NHTM phải tính toán đến
lãi suất huy động sao cho vừa có thể đảm bảo lợi ích , vừa thu hút được KH mà vẫn có
khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới . Trong công tác khách hàng, Ngân hàng
thường chia khách hàng ra làm nhiều nhóm để có cách phục vụ phù hợp. Với những
khách hàng lâu năm, giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm
với Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất trong
khi các KH mới sẽ được hưởng các chương trình khuyến mãi đi kèm với dịch vụ ưu đãi
khi đến gửi tiền tại NH .
1.3.1.6.Trình độ năng lực của nhân viên NH
Con người luôn là nhân tố quan trọng nhất mang tính quyết định trong bất cứ một
ngành nghề hoạt động nào không chỉ riêng ngành NH. Hình ảnh của một NH có được ghi
sâu trong tiềm thức của KH hay không trước hết được thể hiện qua bộ thái độ của nhân
viên giao dịch , nhân viên giao dịch được coi là bộ mặt của Ngân hàng , khách hàng là
những người có quyền lợi lựa chọn, vì vậy họ sẽ chọn nơi làm họ hài lòng nhất để gửi
tiền, vay tiền và sử dụng các dịch vụ khác do Ngân hàng cung ứng.
Tiếp đó là trình độ của cán bộ Ngân hàng , trình độ nghiệp vụ của cán bộ Ngân
hàng càng cao , mọi thao tác nghiệp vụ thực hiện nhanh chóng , chính xác , thái độ phục
vụ , tác phong làm việc của cán bộ Ngân hàng tốt , nhiệt tình , cởi mở , tạo thuận lợi cho
khách hàng sẽ gây được ấn tượng tốt đối với khách hàng , thu hút được nhiều khách hàng
hơn . Đối với nhà quản lý thì năng lực và trình độ lại là yếu tố hàng đầu quyết định trực
tiếp đến vận mệnh của một NH. Một nhà quản lý giỏi, đầu óc nhạy bén , khả nưng tư duy
phán đoán cao sẽ luôn đảm bảo được hiệu quả trong hoạt động của Ngân hàng , giúp NH
có những bước đi vững chắc trên thương trường. Do đó, để tăng cường huy động vốn thì
một điều cực kỳ quan trọng là các nhân viên nân hàng phải có đủ những tiêu chí của một
nhân viên Ngân hàng chuyên nghiệp : hiểu biết khách hàng, tác phong phục vụ tốt,
nghiệp vụ giỏi và điều quan trọng là luôn phấn đấu hết mình vì NH .
1.3.2.Nhân tố ngoài NHTM
1.3.2.1.Các chính sách quy định của nhà nước
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt chịu tác động trực tiếp bởi các
qua các nhu cầu thanh toán chi tiêu và sử dụng các dịch vụ của NH . Mọi biến động của
nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc tăng, giảm nguồn vốn huy động từ
bên ngoài của Ngân hàng . Khi nền kinh tế lạm phát hay thiểu phát , điều này sẽ ảnh
hưởng gián tiếp đến nguồn vốn huy động của NH thông qua các chính sách iền tệ được
đưa ra bởi NHNN , NHNN thắt chặt tiền tệ khi lạm phát dẫn tới huy động tăng lên và nới
lỏng tiền tệ khi thiểu phát dẫn tới huy động hạn chế . Khi nền kinh tế tăng trưởng cao ,
thu nhập dân cư ổn định, tích lũy trong xã hội nhiều điều này sẽ tạo môi trường tốt cho
việc huy động vốn của NHTM , ngược lại khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái ,
thất nghiệp gia tăng , thu nhập dân cư bấp bênh người dân sẽ không muốn gửi tiền vào
NH từ đó ảnh hưởng đến khả năng khai thác vốn của NHTM .
Bên cạnh môi trường kinh tế , xã hội , môi trường chính trị cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến công tác huy động vốn của Ngân hàng , một môi trường chính trị ổn định , các
thể chế vững ổn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của NH , ngược lại
các sự bất ổn trong công tác chính trị hay ngoại giao các cuộc bãi công, biểu tình, luôn
kéo theo tình trạng huy động vốn của Ngân hàng bị hạn chế bởi sự sút giảm niềm tin của
người dân .
Bởi vậy đối với nhân tố khách quan ko lường trước được , NH luôn phải có những
biện pháp phòng ngừa rủi ro để có thể đảm bảo hoạt động kinh doanh nói chung , hoạt
động huy động vốn nói riêng được vận hành theo một cách hiệu quả . 1.3.2.3 .Tâm lý thói quen người dân
Khách hàng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của bất cứ ngành nghề nào không chỉ riêng Ngân hàng .Để có thể nắm bắt được tâm lý
khách hàng từ đó đưa ra các chính sách phù hợp không phải đơn giản .Tâm lý thói quen
người dân được hình thành qua một thời gian dài và ăn sâu vào trong tâm trí , điều này
ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của Ngân hàng .
Thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán luôn khiến cho người dân ít được tiếp
cận với các dịch vụ tiện ích của Ngân hàng , một mặt họ chưa hiểu rõ về sự thuận tiện
cũng như lợi ích có được khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng , mặt khác họ
giao dịch , nâng cấp công nghệ NH đào tạo đội ngũ nhân viên …để có thể tồn tại và phát
triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay . 1.4.Tăng cường nguồn
vốn trong các NHTM
1.4.1.Xác định chi phí huy động vốn
1.4.1.1.Chi phí huy động vốn
* Lãi suất huy động
Chi phí huy động vốn trước hết được thể hiện ở lãi suất huy động cũng giống như
giá cả của hàng hóa , lãi suất luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao trong khi người đi vay lại mong muốn một mức lãi suất
thấp . Trong hoạt động huy động vốn , là trung gian đóng vai trò cầu nối giữa người đi
vay và cho vay , Ngân hàng luôn phải tính toán một mức lãi suất hợp lý nhất vừa đảm
bảo lợi ích của Ngân hàng vừa đáp ứng được quyền lợi của các bên tham gia .Vì vậy mỗi
Ngân hàng đều cố gắng tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động bình
quân là nhỏ nhất và có thể sử dụng được nguồn vốn đó với mức lãi suất có thể chấp nhận
được trên thị trường Chi phí huy động được đánh giá qua hệ thống các chỉ tiêu lãi suất
huy động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia quyền của lãi suất các nguồn theo
khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của từng nguồn và đặc biệt là lãi suất cạnh
tranh (lãi suất thực ) NEC .
* Chi phí khác
Bên cạnh lãi suất , trong quá trình huy động vốn NH còn phải chịu các khoản chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí cơ sở vật chất , chi phí giao
dịch quảng cáo … Tuy chi phí này chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng cũng đóng
góp một phần không thể thiếu trong các quyết định huy động của Ngân hàng .
1.4.1.2. Phương pháp xác định chi phí huy động vốn:
*Phương pháp chi phí trung bình theo nguyên giá:
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, có ưu điểm là đánh giá được
nguồn vốn trong quá khứ.
Chi phí trả lãi Chi phí trả lãi
1.4.2.Xây dựng qui mô và cơ cấu vốn phù hợp
Các khoản nợ là tài nguyên chính của Ngân hàng , chất lượng và số lượng của nó
ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng và số lượng các khoản cho vay và đầu tư . Một sự gia
tăng trong các khoản tiền gửi và đi vay là điều kiện để Ngân hàng mở rộng qui mô hoạt
động , nâng cao tính thanh khoản . Trong điều kiện cụ thể, các nguồn của một Ngân hàng
có thể có tốc độ và qui mô thay đổi khác nhau , những nhân tố ảnh hưởng và bị ảnh
hưởng bởi qui mô và kết cấu của nguồn tiền thường xuyên thay đổi và phải được nghiên
cứu một cách kĩ lưỡng . Đây là cơ sở để Ngân hàng đưa ra các quyết định phù hợp để
thay đổi qui mô và kết cấu nguồn tiền .Vào những thời điểm khác nhau , do tác động của
yếu tố thời vụ , qui mô của tiền gửi tiết kiệm có thể giảm xuống hoặc tăng lên , mặt khác
tùy từng loại khách hàng , tốc độ gia tăng của nguồn vốn cũng khác nhau khi ở trong
cùng một thời điểm : các DN xây dựng tiền gửi của họ tăng hay giảm phụ thuộc nhiều
vào mùa xây dựng trong khi đó cũng thời điểm đó người dân lại có thể gửi tiền nhiều vì
họ đang có một số lượng tiền nhàn rỗi .Bởi vậy NH cần nghiên cứu thống kê đầy đủ các
thay đổi bên ngoài có thể tác động trực tiếp đến sự thay đổi về các loại nguồn vốn cũng
như tốc độ quay vòng của mỗi nguồn để từ đó lập kế hoạch cho từng giai đoạn phù hợp
với yêu cầu sử dụng .
Bên cạnh đó cũng phải kể đến sự khác nhau giữa chính sách liên quan đến huy
động vốn của các Ngânhang khác nhau .Những Ngân hàng lớn , có vị trí vững chắc, tiềm
lực mạnh sẽ có cơ cấu nguồn khác với những Ngân hàng nhỏ , chưa có vị trí trên thương