Tài liệu TIỂU LUẬN: Thực trạng và giải pháp đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Việt Nam - Pdf 10



TIỂU LUẬN:

Thực trạng và giải pháp đổi mới
công nghệ trong các doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp ở Việt Nam
Lời mở đầu Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang trong quá trình hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới. Đối với các nước đang phát triển đây vừa là cơ hội, vừa là
thách thức. Hiện nay khoảng các giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
đang ngày càng cách xa, sự cách biệt đó một phần do sự phát triển về khoa học công
nghệ là khác nhau, trình độ phát triển khoa học công nghệ ở các nước đang phát triển
còn thấp và lạc hậu so với các nước phát triển.Vì thế các nước đang phát triển muốn
hội nhập vào nền kinh tế thế giới và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển thì
phải đầu tư phát triển nền khoa học công nghệ cho mình. Có như vậy kinh tế của các
nước này mới đứng vững được trong quá trình hội nhập, giúp cho các doanh nghiệp

nghĩa thì không đầy đủ. Các tổ chức khoa học- công nghệ đã cố gắng trong việc đưa ra
một định nghĩa công nghệ để có thể hoà đồng các quan điểm, tạo thuận lợi cho việc
phát triển và hoà nhập của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu.
Mỗi lĩnh vực có một cách nhìn riêng về công nghệ để phục vụ cho mục đích của mình.
Nhưng nhìn chung một định nghĩa công nghệ cần khái quát đủ 4 đặc trưng sau:
Thứ nhất: Công nghệ là một máy biến đổi, khía cạnh này nhấn mạnh khả năng làm
ra đồ vật của công nghệ, đây cũng là sự khác biệt giữa khoa học ứng dụng với công
nghệ. Các nhà khoa học ứng dụng chỉ chú trọng tới việc khám phá ra các ứng dụng
của các lý thuyết, trong khi các nhà công nghệ không chỉ quan tâm đến việc làm ra các
đồ vật mà còn quan tâm đến hiệu quả kinh tế, tới sự thích hợp với các mục đích sử
dụng của công nghệ. Do đó khía cạnh máy biến đổi của công nghệ hàm ý vấn đề quản
lý có vấn đề đặc biệt trong việc đạt được kết quả biến đổi mong muốn.
Thứ hai: Công nghệ là một công cụ đề cập đến công nghệ thường được coi là một
cái máy, một trang thiết bị, một thiết bị. Vai trò của máy móc, đặc biệt là sự tác động
giữa con người và máy móc có vai trò quan trọng trong công nghệ.
Thứ ba: Công nghệ là kiến thức. Đặc trưng này khẳng định vai trò cốt lõi của khoa
học trong công nghệ. Nó phủ nhận cách nhìn công nghệ là những thứ phải nhìn thấy
được sờ mó được, coi công nghệ là những cái ai cũng có thể tạo ra nó nếu cần và ai có
nó thì cũng có thể sử dụng với một hiệu quả như nhau. Đó là do công nghệ có những
bí quyết và cơ sở khoa học, để sử dụng có hiệu quả công nghệ cần phải được đào tạo
và trau dồi các kỹ năng cho con người, đồng thời phải liên tục cập nhật các kiến thức
có sẵn.
Thứ tư: Công nghệ là hiện thân ở các vật thể. Căn cứ vào ba khía cạnh trên có thể
coi công nghệ nằm trong các dạng hiện thân mà nó tồn tại như của cải, thông tin, sức
lao động của con người và do đó thừa nhận công nghệ là 1 hàng hoá, một dịch vụ, nó
có thể được mua và bán như bất cứ các thứ hàng hoá khác trên thị trường nội địa cũng
như thị trường thế giới.

+ Phần con người (H): Công nghệ hàm chứa trong con người làm việc trong công
nghệ, bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm,
tính sáng tạo, khả năng lãnh đạo…
+ Phần thông tin của công nghệ (I): Công nghệ hàm chứa trong kiến thức có tổ
chức được và tư liệu hoá như các khái niệm, các thông số, các công thức, các ký
hiệu…
+ Phần tổ chức của công nghệ (O): Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế,
tạo nên bộ khung tổ chức của công nghệ như thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ,
sự phối hợp, liên kết…
Các bộ phận này có quan hệ tương hỗ với nhau, bỗ sung cho nhau, trong bất kỳ
công nghệ nào cũng không thể thiếu một trong các bộ phận đó.
Phần vật tư kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào, nó được triển khai, lắp đặt
bởi con người. Con người làm cho công nghệ hoạt động máy móc thiết bị, phương tiện
kỹ thuật phát huy hết tính năng của chúng,con người không ngừng cải tiến, mở rộng,
đổi mới các công nghệ đó, đồng thời nhờ đó mà con người ngày càng nâng cao được
khả năng về trí tuệ và sức lực của mình. Như vậy con người đóng vai trò chủ động
trong công nghệ, song lại chịu sự chi phối của thông tin và tổ chức.
Phần thông tin thể hiện tri thức tích luỹ trong công nghệ. Các thiết bị và phương
tiện có các kiến thức khác nhau thì khi sử dụng trong sản xuất sẽ tạo ra các sản phẩm
khác nhau, đó là những bí quyết của công nghệ. Nhờ những tri thức này mà con người
rút ngắn được thời gian học tập và tiếp xúc công nghệ, có thể nói thông tin của một
công nghệ là sức mạnh của công nghệ.
Phần tổ chức đóng vai trò điều hoà, phối hợp 3 yếu tố trên để thực hiện một cách
có hiệu quả mọi hoạt động biến đổi. Phần tổ chức này giúp cho việc quản lý công
nghệ được thực hiện một cách có hiệu quả nhất. Phần này phụ thuộc vào độ phức tạp
của vật tư kỹ thuật và thông tin, song nó lại quyết định sự cấu thành 3 bộ phận còn lại
của công nghệ. Có thể nói phần tổ chức mang tính động lực của công nghệ và bản thân

cách nghiêm túc, khách quan, lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn hàng đầu. Nếu tình cảm xã
hội có xu hướng tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động đổi mới công nghệ thuận lợi hơn
và ngược lại.
1.2.2. Vai trò của đổi mới công nghệ:
Với một công nghệ ở một thời điểm nhất định sẽ có một giới hạn về năng lực sản
xuất sản phẩm với một lượng đầu vào đã cho. Đổi mới công nghệ là một tiến bộ về
công nghệ. Tiến bộ đó nằm dưới dạng phương pháp mới về sản xuất hay kỹ thuật mới
tổ chức, quản lý hay marketing mà nhờ đó sản phẩm sẽ được tạo ra với năng suất cao
hơn, chất lượng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn và do đó giá cả có thể giảm xuống.
Chúng ta đang xét về mặt hiệu quả kinh tế của công nghệ, bên cạnh đó còn có hiệu
quả về mặt xã hội, việc đổi mới công nghệ còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường,
tạo thêm nhiều ngành nghề mới tạo thêm công việc làm cho người lao động, cơ cấu lại
ngành kinh tế theo vùng lãnh thổ,…
1.2.3. Các giai đoạn đổi mới công nghệ:
Đổi mới công nghệ có thể bằng nhiều cách, có thể phát triển từ nguồn công nghệ
trong nước, cũng có thể từ nguồn công nghệ nhập từ nước ngoài. Nhưng nhìn chung
đổi mới công nghệ gồm một số giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1: Nhập công nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu.
+ Giai đoạn 2: Tổ chức cơ sở hạ tầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếp thu công nghệ
nhập.
+ Giai đoạn 3: Tạo nguồn công nghệ từ nước ngoài thông qua lắp ráp (SKD, CKD
và IKD).
+ Giai đoạn 4: Phát triển công nghệ nhờ lixăng.
+ Giai đoạn 5: Đổi mới công nghệ nhờ nghiên cứu và triển khai, thích ứng công
nghệ nhập, cải tiến cho phù hợp.
+ Giai đoạn 6: Xây dựng tiềm lực công nghệ để xuất khẩu công nghệ trên cơ sở
nghiên cứu và triển khai.

1
,c
1
nằm ngang do công nghệ đang sử dụng đã ổn định,
còn b
2
,c
2
dốc xuống do quá trình đưa vào sử dụng, kinh nghiệm vận hành, trình độ tay
nghề của công nhân và khả năng quản lý của cán bộ được nâng lên. Các đường b
2
,c
2

cắt b
1
,c
1
tại các thời điểm t
1
, t
2
, t
3
và t
4
.
c
1

t
1
t
2
t
3
t
4
thời gian

2. Nội dung chủ yếu của hoạt động đổi mới công nghệ.
2.1. Lựa chọn công nghệ thích hợp:
2.1.1. Tính tất yếu khách quan của lựa chọn công nghệ thích hợp:
Ngày nay vấn đề đổi mới công nghệ là tất yếu khách quan, cần thiết đối với sự
phát triển của một quốc gia, quá trình đổi mới sẽ tạo điều kiện cho các nước đang phát
triển tiến nhanh vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, còn các nước
phát triển sẽ tạo ra một lực lượng sản xuất phát triển. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề
bất cập trong việc đổi mới với việc giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội, một công
nghệ được đổi mới đòi hỏi phải thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh của quốc gia đó.


(về vốn, lao động, sự thích nghi), còn áp dụng các công nghệ thấp thì không thể phát
triển kịp với các nước phát triển và khó hội nhập quốc tế.
Thứ hai là căn cứ vào định hướng theo nhóm mục tiêu, trong mỗi giai đoạn, một
quốc gia thường có các mục tiêu cho sự phát triển của mình, để đạt được các mục tiêu
đó các quốc gia phải lựa chọn cho mình những công nghệ thích hợp. Các nước đang
phát triển thường có một số mục tiêu là:
+ Thoả mãn nhu cầu và giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho nhân
dân.
+ Tăng năng suất lao động.
+ Cạnh tranh quốc tế.
+ Tự lực tự cường.
+ Độc lập dân tộc.
Thứ ba là căn cứ vào định hướng theo đầu vào, định hướng này xem xét công nghệ
có thích ứng với mức độ dồi dào của đầu vào hay không. Đặc biệt các nước đang phát
triển có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, do vậy họ
xem xét công nghệ thích hợp là công nghệ sử dụng nhiều nguồn lực đó.
Thứ tư là căn cứ vào định hướng không gây đột biến, có nghĩa là xem xét sự hài
hoà giữa sử dụng, thích nghi, cải tiến và phát triển. Phải có kết hợp phát triển không
gượng ép, đảm bảo hài hoà tự nhiên, kết hợp công nghệ bản xứ và công nghệ nhập, tạo
lập sự phát triển trong hoà bình và bền vững, không mâu thuẫn giữa quốc gia và địa
phương, hoà hợp giữa công nghệ truyền thống và hiện đại v.v
2.1.3. Nội dung của lựa chọn công nghệ thích hợp:
+ Tìm hiểu nhu cầu về công nghệ và sản phẩm của công nghệ trong nước.
+ Xác định, định hướng về công nghệ, nội dung này sẽ xác định được công nghệ nhập
phù hợp với mục tiêu của quốc gia.
+ Nghiên cứu và tìm hiểu thông tin về thị trường công nghệ.

kinh tế thấp, từ đó liên quan đến phúc lợi xã hội thấp, sự lãng phí nguồn tài nguyên
thiên nhiên, trình độ văn hoá thấp dẫn đến tốc độ tăng dân số lớn, rối loạn xã hội và sự
bất ổn về chính trị…Hơn nữa vấn đề với trình độ công nghệ thấp kém gây ô nhiễm
môi trường trầm trọng, đây là vấn đề lâu dài đối với các nước này. Vì thế đánh công
nghệ có một vai trò hết sức quan trọng. Nó thể hiện ở một số vấn đề sau:
+ Nó giúp cho các nước này xác định được công nghệ nào là thích hợp và khả
năng thích ứng để từ đó tiến hành chuyển giao công nghệ, nghĩa là phải xác định công
nghệ hiện hành ở các nước đã phát triển có phù hợp với điều kiện và mục tiêu của
mình hay không.
+ Giúp cho các nước này lựa chọn công nghệ để triển khai, nghĩa là xác định công
nghệ vốn có và công nghệ nhập khẩu sao cho phù hợp với các mục tiêu phát triển quốc
gia.
+ Nó giúp cho các quốc gia quản lý công nghệ phù hợp để bảo vệ môi trường.
2.2.3. Các bước tiến hành đánh giá công nghệ:
Để đánh giá công nghệ ta tiến hành các bước sau:
+ Mô tả công nghệ.
+ Liệt kê các yếu tố tác động. Yếu tố tác động này được xác định qua việc phân
tích tác động giữa công nghệ với môi trường xung quanh con người.
+ Phân tích ảnh hưởng.
+ Giới hạn phạm vi ảnh hưởng.
+ Nghiên cứu đường lối chính sách liên quan.
+ Dùng công cụ phân tích.
Một bước quan trọng trong quá trình đánh giá công nghệ là đánh giá ảnh hưởng
khác nhau của một công nghệ đối với toàn bộ môi trường xung quanh con người, để
tiến hành sự đánh giá này, chúng ta xem xét một số các yếu tố như yếu tố công nghệ,
yếu tố kinh tế, yếu tố tài nguyên, yếu tố môi trường tự nhiên, yếu tố dân số, yếu tố
văn hoá xã hội, yếu tố pháp luật- chính trị…trong các yếu tố này có những yếu tố có


T
y
k
j
jyi
BB
1 1
; B
jy
khoản lợi ích thứ j ở năm thứ y.
Bước 6: So sánh lợi ích và chi phí.
Bước 7: Chọn phương án thích hợp dựa trên các mục tiêu và các ràng buộc.
Bước 8: Hiệu chỉnh tập phương án đã chọn dựa trên sự tác động tương hỗ.
Kỹ thuật định tính được sử dụng bằng một số đánh giá chủ quan đối với tác dụng
của một công nghệ tương ứng với các yếu tố khác nhau.
2.3. Phân tích năng lực công nghệ:
2.3.1. Năng lực công nghệ và vai trò của việc phân tích năng lực công nghệ:
Năng lực công nghệ của quốc gia (ngành, cơ sở) là khả năng của nó triển khai
những công nghệ đã có một cách có hiệu quả và đương đầu được với những thay đổi
công nghệ lớn.
Từ những năm 1970 các nhà nghiên cứu bắt đầu chú ý đến các quá trình có liên
quan đến việc làm chủ và thích nghi hoá công nghệ nhập. Người ta thấy rõ ràng công
nghệ có tính ẩn, chuyển giao công nghệ có độ bất định đáng kể. Để đồng hoá công
nghệ nhận từ bên ngoài, người ta phải giải quyết nhiều vấn đề tự lập theo cách riêng
mà không thể dựa hoàn toàn vào bên bán. Từ các chuyển hướng suy nghĩ đó, vấn đề
năng lực công nghệ của quốc gia, của cơ sở và việc tăng cường năng lực đặc biệt được

nhập, năng lực sản sinh công nghệ).
Bước 5: Suy ra năng lực công nghệ ngành, quốc gia.
Cụ thể ta tiến hành phân tích năng lực công nghệ cơ sở:
Cơ sở của phương pháp này là tập hợp kiến thức để nghiên cứu, phân tích, tính
toán và xác định giá trị tạo được do đóng góp của công nghệ khi thực hiện một công
nghệ cụ thể trên một cơ sở cụ thể. Căn cứ vào giá trị này cao hay thấp ta kết luận năng
lực công nghệ của cơ sở đó.
GTCN=..Q
Trong đó: GTCN: giá trị tạo được do đóng góp của công nghệ.
: hệ số ảnh hưởng của môi trường quốc gia (<1).
Q: sản lượng được tính ra bằng tiền.
 : Hàm hệ số đóng góp của công nghệ (hàm hệ số đóng góp của các
thành phần công nghệ).
 =T
t
.H
h
.I
i
.O
o

Trong đó:
T: giá trị hệ số đóng góp của thành phần vật chất.
H: giá trị hệ số đóng góp của thành phần con người.
I: giá trị hệ số đóng góp của thành phần thông tin.
O: giá trị hệ số đóng góp của thành phần tổ chức.

nghệ của một ngành công nghệ thì công nghệ phải được xem xét trên quan điểm của 4
thành phần của nó và khoảng cách công nghệ từ đó được xác định đối với từng thành
phần.
Việc đánh giá này là giúp cho các nước nhận thấy được trình độ công nghệ của
mình so với các nước khác, trong quá trình hội nhập kinh tế các nước cạnh tranh với
nhau ngày càng gay gắt, vì thế để duy trì và phát triển nền kinh tế độc lập, các nước
phải có chính sách phát triển khoa học công nghệ nhằm phát triển nền sản xuất trong
nước. Đồng thời căn cứ vào thị trường và nhu cầu thị trường, một số sản phẩm không
còn phù hợp nữa buộc các doanh nghiệp phải thay thế công nghệ hiện tại.
2.4.2. Các hình thức đổi mới công nghệ:
a. Nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước:
Nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động đổi mới công nghệ. Ngoài những lợi ích về kinh tế mà nó đem lại cho đất nước.
Nó còn góp phần cho phát triển khoa học công nghệ trong nước tạo ra vị thế cho mỗi
quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế, nó đem lại độc quyền về công nghệ do nước
đó tạo ra, đem lại khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước.
Quá trình nghiên cứu và triển khai là quá trình nhận biết những đòi hỏi hay những
khả năng tiềm tàng, nảy sinh những ý tưởng sáng tạo. Sự nhận thức được nhu cầu của
xã hội là một sự thúc đẩy cơ bản cho nghiên cứu và triển khai - đó là sự thúc ép của
nhu cầu. Để đáp ứng đòi hỏi đó cần nghiên cứu cần dựa trên những kiến thức hiện có.
Một động cơ khác của nghiên cứu và triển khai là tìm kiếm những ứng dụng còn tiềm
tàng trong khoa học. Sự tìm tòi đó góp phần nâng cao kiến thức và làm nảy sinh
những ý tưởng công nghệ; đó là sự thúc đẩy của khoa học công nghệ. Tiếp theo quá
trình đó là các quá trình kỹ nghệ hoá: sáng tạo, thiết kế, chế tạo. Cuối cùng là quá trình
Marketing, tức là tìm cách để truyền bá công nghệ.
sinh ý
Nâng
cao
ki
ến
Nảy
sinh ý
đ


Kỹ nghệ
hoá
Marketi
ng
Bên cạnh đó nó còn có những hạn chế như mất thời gian cho nghiên cứu và triển
khai, dễ mất cơ hội chiếm lĩnh thị trường (vì không có ngay công nghệ đang cần); hạn
chế về năng lực, nguồn lực do đó không tạo ra được công nghệ có chất lượng, có khi
chi phí còn đắt hơn là nhập từ nước ngoài.
Những hạn chế này là những vấn đề lớn đối với các nước đang phát triển do đó
hình thức đổi mới công nghệ này chỉ được thực hiện với một tỷ lệ nhỏ so với toàn bộ
hoạt động đổi mới công nghệ, các nước này chủ yếu thực hiện đổi mới công nghệ
thông qua hình thức chuyển giao công nghệ.
b. Chuyển giao công nghệ:
Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển và nhận công nghệ qua biên giới một
quốc gia.
Đây là hình thức chủ yếu để thực hiện đổi mới công nghệ ở các nước đang phát
triển. ở các nước này, do trình độ nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước còn

trong nước vừa tận dụng được các công nghệ ở cuối chu kỳ sống của nó.
Thứ ba: nhu cầu của thị trường biến đổi ngày càng đa dạng vì vậy các nhà doanh
nghiệp cần phải định hướng cho các sản phẩm mới và các sản phẩm thay thế. Muốn
vậy không có con đường nào khác là phải luôn đổi mới công nghệ. Đổi mới từng
phần, từng công đoạn, hay đổi mới toàn bộ tuỳ thuộc theo chiến lược sản phẩm và
năng lực công nghệ. Nhưng đổi mới công nghệ không thể không chú ý tới chuyển giao
công nghệ. Nói cách khác đổi mới công nghệ là nhu cầu của chuyển giao công nghệ.
Thứ tư: tranh thủ vốn đầu tư của nước ngoài. Tận dụng chuyển giao công nghệ để
đầu tư chất xám từ nước ngoài, tận dụng liên doanh, liên kết …
Hiện nay có hai hình thức chuyển giao công nghệ đó là chuyển giao dọc và
chuyển giao ngang.
+ Chuyển giao dọc là sự nhận và chuyển công nghệ đang trong giai đoạn quản lý
của nghiên cứu có nghĩa là công nghệ chưa đưa vào sản xuất đại trà.
+ Chuyển giao ngang là sự chuyển và nhận công nghệ đã sản xuất đại trà.
Mỗi hình thức chuyển giao đều có ưu nhược điểm riêng trong một số trường hợp
thì áp dụng hình thức chuyển giao dọc là có lợi nhưng trong trường hợp khác thì
chuyển giao ngang là có lợi, vì thế khi thức hiện chuyển giao người ta xét xem nên
thực hiện chuyển giao theo hình thức nào là đạt hiệu quả cao nhất.
Các bước để tổ chức thực hiện chuyển giao công nghệ:
+ Chuẩn bị: trong bước này đòi hỏi nắm vững những yêu cầu của chuyển giao
công nghệ, nghĩa là sau khi thực hiện các công việc của hoạt động công nghệ như lựa
chọn công nghệ thích hợp, đánh giá công nghệ, phân tích năng lực công nghệ để thực
hiện đổi mới công nghệ các nước, các doanh nghiệp phải nắm vững được các điều
kiện này để tiến hành chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó các nước
(các doanh nghiệp) còn phải nắm vững các hợp đồng chuyển giao công nghệ như hợp
đồng lixăng, hợp đồng chuyển giao công nghệ kèm theo cung cấp máy móc thiết bị,
xây dựng công trình công nghiệp có hoặc không kèm lixăng, hợp đồng dịch vụ, hỗ trợ

i
=>C
i
. Cụ thể là:
+ Nâng cao trình độ công nghệ, hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm…
+ Không làm phương hại đến an toàn sản xuất, bảo đảm an toàn lao động, điều
kiện và môi trường công nghệ cho người lao động.
+ Sử dụng hợp lý năng lượng, các nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực.
+ Không gây tác hại đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội chung.

II. Thực trạng đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp
ở Việt nam:
1. Tình hình công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Việt nam:
1.1. Tình hình công nghệ chung của nền kinh tế quốc dân:
Công nghiệp là ngành đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế nước ta, nó đã đạt
được tốc độ tăng trưởng khá cao trong khoảng thời gian 10 năm qua, với tỷ lệ tăng
bình quân (từ 1991- 2000) là 14% năm. Tuy nhiên tăng trưởng công nghiệp là quá
trình không đều, trải qua những khúc quanh hoặc gắn liền với sự thay đổi chính sách
trong nước hoặc do ảnh hưởng bởi tình hình ngoài nước. Mặc dù ngành công nghiệp
đạt tốc độ tăng trương cao như vậy nhưng so với tốc độ phát triển của thế giới thì công
nghiệp Việt nam còn phát triển ở trình độ thấp. Đặc biệt so sánh về mặt công nghệ thì
Việt nam còn phát triển ở trình độ thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới. Sau đây là số liệu so sánh trình độ công nghệ Việt nam và các nước trong khu
vực (%):
Nhóm ngành công
nghệ thấp (a)
Nhóm ngành công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status