LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đã bước vào kỷ nguyên thông tin, kỷ
nguyên của Internet và World Wide Web với sự phát triển của nền kinh tế
tri thức. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động đến mọi bình
diện của xã hội, làm thay đổi sự tương tác giữa người cán bộ thư viện với
vốn tài liệu, nguồn lực thông tin và người đọc. Sự xuất hiện của mạng máy
tính kỹ thuật lưu trữ và chuyển dạng tài liệu đã dẫn đến việc hình thành các
thư viện hiện đại, làm biến đổi sâu sắc quá trình tổ chức, thu nhập, xử lý và
phục vụ của các cơ quan thư viện thông tin. Thực tế dó đã đòi hỏi người
cán bộ thư việc thông tin phải có những năng lực mới. Để đào tạo được đội
ngũ cán bộ thư viện thông tin đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của thực tế
là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Trên thực tế trong những năm gần
đây đào tạo cán bộ thư viện thông tin là một trong những chuyên ngành đào
tạo có nhiều sự biến động.
Trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại, có nhiều cơ hội cũng như
nhiều thách thức đã và đang đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ thư viện
thông tin. Tính chất nghề thư viện đã có nhiều thay đổi so với trước đây và
sẽ còn tiếp tục thay đổi với việc áp dụng các phương tiện và công nghệ
thông tin hiện đại. Làm thế nào để tìm ra được các mô hình và giải pháp
thích hợp cho công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin để các sản phẩm
đào tạo đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong thực tế. Đó là một vấn đề có
tính chất chiến lược và được toàn ngành thư viện thông tin hết sức quan
tâm.
Tìm hiểu, nghiên cúu và đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo
cán bộ thư viện thông tin ở Việt Nam trong các cơ sở đào tạo cũng như
công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức nghề nghiệp tại các thư viện và cơ
quan thông tin, thu thập các ý kiến nhận xét về kết quả đào tạo của các
1
trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin trong bối cạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá là những vấn đề cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
- Chương 3: Mô hình và giải pháp về đào tạo cán bộ thông tin thư viện
ở Việt Nam trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại.
Phần phụ lục bao gồm: Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình giáo dục
thông tin thư viện chuyên nghiệp-2000 của IFLA, các chương trình đào tạo
của Việt Nam và nước ngoài, mẫu phiếu điều tra.
Trong quá trình thực hiẹn đề tài chúng tôi đã nhận được sự quan tâm,
tạo điều kiẹn giúp đỡ của Bộ Văn Hoá Thông Tin, Trường Đại học Văn
Hoá Hà Nội,, Khoa Thư viện Thông Tin, Phòng Nghiên cứu khoa học của
trường, các trung tâm thông tin, thư viện và nhiều bạn đồng nghiệp.
Nhân đây chúng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bộ Văn Hoá
Thông Tin, Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội, Các Quý Cơ quan và bạn
hữu đã tận tình giúp đỡ và cho chúng tôi những lời chỉ bảo quý báu.
Mặc dù đã nỗ lực về mọi mặt, nhưng do thời gian và kinh phí có hạn,
cho nên công trình của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định.
Chúng tôi rất mong được những ý kiến góp ý của các bạn đồng nghiệp
và những ai quan tâm đến vấn đề này.
Nhóm nghiên cứu
3
CHƯƠNG I: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ THƯ VIỆN
THÔNG TIN VÀ CÁC YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ
HỘI THÔNG TIN HIỆN ĐẠI
1. Khái quát về công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở trên thế
giới và ở Việt Nam.
1.1 Công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin trên thế giới.
Thư viện đã xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên và
nghề thư viện cũng ra đời với sự phát triển của thư viện. Nhưng bộ môn thư
viện học, với tư cách là một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứu rõ
ràng mới chỉ hình thành vào cuối thế kỷ XIX. Việc đào tạo nghề thư viện
một cách có hệ thống và quy mô cũng chỉ được bắt đầu tiến hành vào thời
thực hành của ngành thư viện. Trong một thời gian dài, công tác đào tạo
cán bộ thư viện ở Mỹ đã thực hiện theo hướng này. Cho đến ngày nay, mô
hình và phương pháp đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở Mỹ vẫn được
đánh giá là có chất lượng cao, đứng vào loại hàng đầu thế giới.
Ở Châu Âu đến đầu thế kỷ XX một số trường đào tạo nghề thư viện
mới được thành lập. Chẳng hạn như ở Đức, Trường chuyên ngành như
Viện ở Lepdích được thành lập năm 1915, ở Anh trường Lưu trữ và thư
viện nằm trong Trường đại học tổng hợp Luân Đôn được thành lập năm
1919, ở Achentina Trường thư viện ở Buênôs-Airex được thành lập năm
1922, ở Pháp trường thư viện nằm trong trường Đại học Thiên chúa giáo ở
Paris được thành lập năm 1925 , Trường thư viẹn hoàng gia ở Xtốckhôm
của Thủy Điển được thành lập năm 1926….
Trên thế giới, trong lĩnh vực nghề nghiệp thư viện thông tin, người ta
phân chia thành hai hình thái đào tạo: Đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp, đào
tạo chuyên nghiệp. Đặc trưng phân biệt của hình thái đào tạo bồi dưỡng
nghề nghiệp đào tạo chuyên nghiệp là tính pháp lý của văn bằng cấp sau
khoá học. Vì thế những khoá học này còn được gọi là khoá học không có
5
cấp vị, còn đào tạo chuyên nghiệp là loại hình đào tạo có kèm theo văn
bằng. Học viên qua các khoá này được cấp văn bằng xác nhận một cấp học
tương ứng. Vì thế các khoá học đào tạo chuyên nghiệp còn được gọi là
khoá học có cấp vị.
Đào tạo bồi dưỡng là một hình thức đào tạo quan trọng được các
nước trên thế giới hết sức quan tâm. IFLA đã thành lập một tiểu ban
chuyên theo dõi về công tác đào tạo bồi dưỡng. Đào tạo bồi dưỡng còn
được gọi là đào tạo liên tục. Tiểu ban này có nhiệm vụ khuyến khích và
thúc đẩy các chương trình đào tạo về khoa học thư viện thông tin quốc tế,
giúp cho người cán bộ TVTT trên toàn thế giới có thể trao đổi thông tin,
phát triển các kỹ năng nghề nghiệp, thúc đẩy công tác giáo dục thường
xuyên. Tính đến nay IFLA đã 5 lần tổ chức hội nghị quốc tế về vấn đề đào
hội của các nước khác nhau, đặc tính nghề nghiệp của hệ thống giáo dục,
nền tảng tư tưởng của việc tổ chức sự nghiệp thư viện, quan điểm khác
nhau về nghề nghiệp và thậm chí các khuynh hướng phát triển nghề nghiệp
cũng không thể đồng nhất ở tất cả các nước trên thế giới. Tuyên ngôn của
UNESCO về các thư viện công cộng năm 1972 đã đặt ra các yêu cầu về
đào tạo chuyên nghiệp bắt buộc dối với cán bộ thư viện. Sau đó UNESCO
đã xuất bản cuốn “Sách chỉ dẫn cho các trường thư viện và thông tin trên
thê giới". Trong lần xuất bản vào năm 1985, cuốn sách đã thống kê hơn
600 trường thư viện đào tạo cán bộ thư viện của 92 nước. Hiện nay con số
này không dừng lại ở đó.
Theo con số thống kê trong "Bách khoa toàn thư về dịch vụ thông tin
thư viện", hơn 70 chương trình giáo dục khoa học thư viện được áp dụng
trong các trường học ở Mỹ và Canada đã được Hội thư viện Mỹ (ALA)
phát triển và sự hội tụ của nghề thư viện với khoa học thông tin đã được
phản ánh thông qua các chương trình đào tạo.
Tại Canađa ở miền Bắc nước Mỹ người ta rất chú trọng đến vấn đề kỹ
thuật trong công tác thư viện. Để trở thành người cán bộ thư viện, người ta
7
phải học một trong bảy chương trình do hội thư viện Mỹ thiết lập Khoá đào
tạo thư viện đầu tiên được tiến hành tại trường đại học tổng hợp Mc.Gill
vào năm 1904. Chương trình đào tạo sau đại học bắt đầu được tiến hành
vào năm 1931 . Vào những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều trường đã đổi tên
do ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học thông tin.
Ở Anh đào tạo thư viện có phần khác biệt so với Bắc Mỹ. Hội thư
viện Anh có một vai trò quan trọng trong công tác đào tạo cán bộ thư viện.
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, Hiến chương Hoàng gia Anh đã ban đặc quyền
cho Hội thư viện Anh "tổ chức các kỳ thi về thư viện học và cấp bằng".
Năm 1964 Hội thư viện Anh đã ban hành một chương trình giảng dạy mới
gồm 2 năm học liên tục cho những người chưa tốt nghiệp và 1 năm cho
những người đã tốt nghiệp một bằng đại học khác. Bằng của Hội thư viện
bằng tiến sĩ thông tin thư viện. (Trường đại học Vũ Hán có quyền đào tạo
tiến sĩ thõng tin, trường đại học Bắc kinh : tiến sĩ thư viện).
Ở Thái Lan: Việc đào tạo cử nhân Thư viện bắt đầu từ 1959 tại khoa
nghệ thuật của Trường đại học Chubalóngkorn. Hiện nay có 6 trường đào
tạo cán bộ thư viện bậc đại học.
Ở Inđônêxia: Hiện có 3 trường đại học đảm nhiệm việc đào tạo cán bộ
Thư viện bậc Đại học. Việc đào tạo cán bộ Thư viện bậc đại học bắt đầu từ
1985.
Ở Malaixia: Việc đào tạo cán bộ Thư viện bậc Đại học ở Malaixia
được tiến hành từ năm 1957. Hiện có 3 trường đào tạo cán bộ thư viện bậc
đại học.
Ở Philipin: Việc đào tạo cán bộ bậc đại học xuất hiện rất sớm, từ năm
1916 tại trường Đại học Philipin. Hiện ở Philipin có 26 trường đào tạo
cán bộ Thư viện bậc đại học. Do qui mô to lớn của việc đào tạo này nên
những người tốt nghiệp đại học thư viện ở Philipin có thể được gọi với cái
tên khác nhau: cử nhân khoa học về khoa học thư viện (BSLS); cử nhân
9
khoa học thư viện (BSI); cử nhân nghệ thuật chuyên ngành thư viện
(ABLS); cử nhân khoa học giáo dục chuyên ngành thư viện (BSELS).
Ở Camơrun. cho đèn những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
vẫn chưa có trường đào tạo cán bộ thư viện. Các cán bộ thư viện được đào
tạo ở Anh, Canađa, Pháp, Nigiêria và Mỹ. Mãi đến năm 1986 Bộ Đại học
của Camơrun mới đưa ra quyết định thành lập một trường đào tạo cán bộ
thư viện.
Về chương trình đào tạo hiện nay mỗi nước và mỗi trường dạy nghề
thư viện đều có xây dựng một chương trình đào tạo riêng. Các chương trình
đó có những nét đặc thù chung về một số môn học cốt lõi nhưng các trường
cũng không phải tuân thủ đào tạo theo một chương trình thống nhất. Hầu
hết các chương trình đều có hai phần : Phần cốt lõi (Bao gồm các môn học
bắt buộc) và phần tự chọn cho phép học sinh tự lựa chọn các môn học mà
chương trình hạt nhân của mình. Đây là ba chuyên đề được các trường dạy
nghề thư viện ở Mỹ quan tâm áp dụng nhiều nhất. Còn các chuyên đề, môn
học khác thuộc 12 môn học theo tiêu chuẩn của IFLA chỉ được chưa đến
một nửa các trường đưa vào chương trình bắt buộc. Có 4 chuyên đề, môn
học bị tất cả các trường ở Mỹ loại bỏ là : lịch sử thư viện, Thư tịch, Phương
pháp nghiên cứu và lựa chọn sách. Trong khi đó một số trường lại đưa vào
chương trình hạt nhân của mình các môn học mới như : Tìm kiếm dữ liệu
trực tuyến và phân tích hệ thống thông tin.
Đến tháng 12 năm 2000, IFLA đã phê chuẩn sửa đổi các tiêu chuẩn
này thành “Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình giáo dục thư viện thông
tin chuyên nghiệp”. (Có thể tham khảo thêm trong Phụ lục l). IFLA đã
khuyến cáo các chương trình đào tạo thư viện cần bao gồm 10 môn học hạt
nhân như sau:
1 - Môi trường thông tin, các đao đức và chính sách thông tin, lịch sử
của lĩnh vực này.
2- Sự hình thành thông tin, giao tiếp và sử dụng
11
3- Các nhu cầu thông tin định mức và các dịch vụ trả lời chỉ định .
4- Quy trình chuyển giao thông tin
5- Sự tổ chức, tìm kiếm, bảo quản và giữ gìn thông tin
6- Sự nghiên cứu, phân tích và giải thích về thông tin
7- Việc áp dụng các kỹ thuật thông tin và truyền thông vào các sán
phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.
8- Việc quản lý tài nguyên thông tin và quản lý tri thức.
9- Việc quản lý các cơ quan (tổ chức) thông tin
10 Sự ước định về chất lượng và số lượng của các kết quả sử dụng
thông tin thư viện.
Về hình thức và phương thức đào tạo: ở các nước tiên tiến người ta đã
áp dụng rất sâu rộng công nghệ thông tin vào công tác đào tạo. Chẳng
những các phương tiện hiện đai được sử dụng vào việc giảng dạy mà ngay
Việt Nam khá muộn. Trong lịch sử, thư viện ở Việt Nam bắt đầu được
thành lập từ thế kỷ Xi nhưng việc đào tạo nghề thư viện chỉ mới thực sự bắt
đầu được tiến hành vào thế kỷ XX. Trước thế kỷ XX, nghề thư viện được
coi là một nghề mang tính kinh nghiệm và kỹ thuật đơn thuần. Công tác
đào tạo cán bộ thư viện không thực sự được chú trọng. Người làm công tác
thư viện thường chỉ được hướng dẫn trước khi đảm trách công việc. Việc
đào tạo cán bộ phụ trách thư viện cho Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp được
tiến hành tại Pháp. Tính đến năm 1960, ở Việt Nam mới có một lớp tập
huấn do chuyên gia Liên xô sang giảng dạy.
Hiện nay công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thư viện được tiến
hành dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Cũng như các nước trên
thế giới ở Việt Nam có hai hình thái đào tạo: Đào tạo chuyên nghiệp và bồi
dưỡng nghề nghiệp.
Đào tạo chuyên nghiệp hay còn gọi là đào tạo theo các văn bằng.
Công tác đào tạo chuyên nghiệp nghề TVTT là do các cơ sở đào tạo chuyên
13
nghiệp nghề TVTT đảm nhiệm. Về văn bằng hiện tồn tại bốn trình độ cơ
bản sau: trung học, cao đẳng, cử nhân và thạc sĩ.
Việc đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học hiện do các trường trung
học và cao đẳng văn hoá nghệ thuật tại các địa phương đảm nhiệm. Cả
nước có 23 trường trung học và 2 trường cao đẳng văn hoá nghệ thuật
nhưng chỉ có một số trường có đào tạo cán bộ thư viện bậc trung cấp, điển
hình như: các trường văn hoá nghệ thuật Ờ các tỉnh thành phố Hải Phòng,
Thanh Hoá, Bình Định, Đà Năng, Trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ
Chí Mỉnh…
Về trình độ cao đẳng hiện Việt Nam có 2 Trường cao đẳng văn hoá
nghệ thuật tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đào tạo cán bộ
thư viện trình độ cao đẳng.
Về trình độ đại học hiện có bốn cơ sở đào tạo cán bộ TVTT bậc đại
học (nặng về nghiệp vụ thư viện) bao gồm: Khoa Thư viện Thông tin
sở thông tin thư viện học. Sau các khoá học này, học viên được cấp chứng
chỉ.
15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ
THÔNG TIN THƯ VIỆN Ở VIỆT NAM
1. Đào tạo chuyên nghiệp
1.1. Đào tạo cán bộ thư viện thông tin bậc trung học và trình độ cao
đẳng.
Trong thời gian dài từ năm 1961 đến năm 1976 việc đào tạo cán bộ
thư viện bậc trung học do Khoa Thư viện trường Lý luận và nghiệp vụ (Đại
học Văn hoá Hà Nội ngày nay) đảm nhiệm. Đã có 10 khoá với gần 400
sinh viên trung cấp thư viện được đào tạo tại đây. Từ năm 1976, Khoa Thư
viện thôi không đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học nữa. Nhiệm vụ này
được chuyển sang cho một số trường văn hoá nghệ thuật của các tỉnh thành
phố.
Hiện nay có 13 trường cao đẳng và trung học Văn hoá Nghệ thuật
tham gia vào việc đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học. Tiêu biểu như
Trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Văn
hoá Nghệ thuật tỉnh Khánh Hoà và 11 trường trung học khác.
Hệ trung học học tập trung trong 2 năm. Từ năm 2000 trở về trước các
trường đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học tự xây dựng một chương trình
đào tạo riêng. Việc đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học không được tiến
hành thường xuyên liên tục tại các trường như việc đào tạo ở các trình độ
khác. Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông qua Chương trình đào tạo
trung cấp thư viện áp dụng chung cho tất cả các trường. Tuy nhiên do tính
chất không đào tạo thường xuyên nên các trường trung học chưa hình thành
một đội ngũ cán bộ giảng dạy có tính chuyên nghiệp. Phần lớn cán bộ
giảng dạy của các trường trung học văn hoá nghệ thuật được mời thỉnh
giảng từ các thư viện tỉnh, thành phố. Mỗi trường trung học đào tạo cán bộ
thư viện chỉ có một cán bộ chuyên trách về vấn đề tổ chức lớp, mời giáo
Hà Nội, Bộ môn Thông tin Thư viện thuộc Đại học Khoa học xã hội và
17
nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Thông tin thư viện thuộc Trường
Cao đẳng văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Thông tin học và quản trị
thông tin thuộc đại học dân lập Đông Đô. Trong các cơ sở đào tạo cán bộ
TBTT trình độ đại học, Khoa Thư viện Thông tin là một khoa đào tạo cán
bộ thông tin thư viện bậc đại học ra đời sớm nhất. Năm 1961 Uỷ ban Kế
hoạch Nhà nước và phủ Thủ tướng đã ra quyết định thành lập khoa Thư
viện. Nhiệm vụ ban đầu của khoa là đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học và
trung học.
Nếu xét trong cả quá trình thì việc đào tạo cán bộ thư viện tại khoa
cũng có thời kỳ bị gián đoạn. Từ khi thành lập đến nay khoa đã chiêu sinh
được 35 khoá chính quy, 8 khoá tại chức tại trường và nhiều lớp tại chức
các đối tượng khắp cả nước. Khoa Thông tin Thư viện Trường Đại học Văn
hoá Hà Nội đã từng thực hiện 3 phương án:
- Đào tạo cán bộ thư viện cho các Thư viện công cộng đại chúng và
Thư viện khoa tổng hợp. Các khoá 1, 3, 6, 7, 8, 10 đến 31 (tính đến năm
1998) được tổ chức đào tạo trực tiếp tại trường với thời gian là 4 năm, nền
tảng khoa học cơ bản là văn hoá, lịch sử, giáo dục học và tâm lý học.
- Đào tạo cán bộ thư viện cho các thư viện khoa học và chuyên ngành.
Để thực hiện phương án này, trường đã gửi sinh viên học ba năm khoa học
cơ bản tại các trường đại học khác như: Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường
Đại học Bách khoa và trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Sau đó về
trường học 1,5 năm nghiệp vụ thư viện, thư mục. Các khoá 2, 4, 5 được áp
dụng đào tạo.
- Đào tạo cán bộ thư viện cho các thư viện chuyên ngành khoa học tự
nhiên, được thực hiện trực tiếp tại trường trên nền tảng khoa học cơ bản là
toán, lý, hoá với thời gian 4, 5 năm (áp dụng chỉ một lần đối với sinh viên
khoá 9).
Từ năm 1961 đến năm 1998 mục tiêu đào tạo của trường Đại học Văn
hành tại chỗ. Từ năm 1996, Khoa Thư viện Thông tin đã được trường cho
19
phép tổ chức một thư viện thực hành riêng. Nhờ vậy việc thực hành của
sinh viên có nhiều thuận lợi và chất lượng đào tạo cũng được nâng lên.
Không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc dạy kiến thức, dạy nghề, thực
hiện phương châm của Bộ giáo dục và đào tạo “Biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo”, Khoa Thông tin – Thư viện đã rất chú trọng
đến việc hướng dẫn cho sinh viên tham gia vào công tác nghiên cứu khoa
học. Ngoài việc định kỷ ra các đề tài khoá luận, luận văn cho sinh viên năm
thứ ba, thứ tư, các giảng viên còn hướng dẫn cho sinh viên thực hiện nhiều
đề tài nghiên cứu tập trung vào những vấn đề mới, những vấn đề cấp bách
của ngành. Hội thảo khoa học của sinh viên được tổ chức hàng năm. Một
số em đã đạt giải cao trong cuộc thi nghiên cứu khoa học toàn quốc.
Bên cạnh phương thức đào tạo, một yếu tố không thể không nhắc đến
khi bàn về công tác đào tạo của bất cứ một ngành nghề nào là: chương trình
đào tạo.
Về chương trình đào tạo: Khoa học Thông tin – Thư viện đã cố gắng
không ngừng đổi mới và hoàn thiện chương trình đào tạo của mình trong
suốt quá trình hoạt động từ trước đến nay. Đặc biệt từ năm 1992, với việc
đổi tên khoa thư viện thành thông tin, thư viện, nhiều môn học đã được xây
dựng và triển khai đưa vào giảng dạy như: Tin học, thông tin học đại
cương, định chủ đề tài liệu, mô tả nội dung tài liệu, tìm tin và phổ biến
thông tin… Trong vài năm gần đây học sinh còn được học thêm môn tin
học tư liệu, hệ quản trị CDS/ISIS và công nghệ thông tin… nhiều chuyên
đề mới được mở ra và chương trình đào tạo mới đã phần nào đáp ứng được
yêu cầu cảu thực tế. Năm 2002, trước yêu cầu bức thiết của thực tế và sự
biến động cơ bản của nghề thư viện thông tin dưới sự tác động của công
nghệ thông tin và truyền thông, theo quyết định số 3440/QĐ BGD&ĐT của
Bộ giáo dục và đào tạo Hội đồng ngành thư viện đã được thành lập để xây
dựng chương trình khung giáo dục đại học chuyên ngành thư viện thông tin
dựng được một dàn máy tính với gần bốn chục máy. Khoa thông tin thư
21
viện cũng có máy riêng. Nhà trường đã cho phép một số bộ phận nối mạng
Internet để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giáo
viên cũng như học sinh. Bên cạnh đó Khoa thông tin thư viện còn tổ chức
riêng một thư viện thực hành với trên 6000 tài liệu, hơn 300 tư liệu nghiệp
vụ và hàng trăm các khoá luận, luận văn của sinh viên các khoá. Đó chính
là những phương tiện hỗ trợ rất đắc lực cho việc đào tạo của trường và của
khoa.
Về công tác nghiên cứu khoa học: Để không ngừng cập nhật kiến
thức mới và thực hiện phương châm gắn liền lí luận với thực tiễn, các cán
bộ giảng viên trong khoa đã có nhiều cố gắng tích cực tham gia các đề tài
nghiên cứu khoa học. Một số đề tài đã và sẽ được nghiệm thu và đem áp
dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng các bài giảng.
Đó là những mặt mạnh của Khoa Thư viện Thông tin so với một số cơ
sở đào tạo khác. Tuy nhiên cũng còn không ít điều tồn tại trong công tác
đào tạo khiến chúng ta không thể bỏ qua được. Điều nổi cộm kiến chúng ta
đã nhiều lần băn khoăn trăn trở là mặc dù khoa thông tin – thư viện đã có
hơn 40 năm đào tạo nhưng vẫn chưa xây dựng được một hệ thống các giáo
trình phong phú và đầy đủ, vẫn có những môn học, học sinh chỉ hoàn toàn
học theo những lời giảng của thầy cô.
Các tài liệu tham khảo chuyên ngành vốn không có nhiều lại nằm
phân tán trong nhiều cơ quan thông tin thư viện. Những tư liệu viết về
những vấn đề mới phần lớn là của các nước ngoài. Trong khi đó vì kinh phí
hạn hẹp, hiện nay Trường Đại học Văn hoá Hà Nội chưa nhập bất cứ một
tạp chí ngoại văn nào. Điều kiện trao đổi, sưu tập và dịch thuật các tư liệu
tham khảo chưa được quan tâm thoả đáng. Vì thế không nói đến học sinh
mà ngay cả giảng viên cũng gặp không ít khó khăn khi cần đọc và tham
khảo tài liệu. Việc nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên chủ yếu phụ thuộc
vào sự cố gắng nỗ lực của các cá nhân.
23
trao trả về Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Từ đó cho đến năm 1994 việc
đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học bị gián đoạn. Trong thời gian này trung
tâm thông tin của trường có thỉnh thoảng mở các lớp tại chức. Có 117 học
sinh đã tốt nghiệp đại học tại chức tại trung tâm trong 11 năm đó. Năm
1995, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Trường Đại
học Quốc gia Hà Nội ra quyết định cho thành lập lại tổ bộ môn thông tin
thư viện trực thuộc ban giám hiệu. Từ đó đến nay, Bộ môn Thông tin Thư
viện liên tục tuyển sinh đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện. Ban đầu
Bộ môn đã nhận học sinh từ mọi khối thi A, B, C, D. Từ năm 1998 Bộ môn
chỉ nhận học sinh thi tuyển đầu vào 2 khối: C và D.
Về đội ngũ giáo viên, cán bộ giảng dạy: Bộ môn hiện có 19 người,
trong đó có 2 tiến sĩ, 4 giáo viên kiêm nhiệm trong trung tâm thông tin của
trường và các giáo viên thỉnh giảng. Tính đến nay bộ môn đã chiêu sinh
được 10 khoá. Bộ môn cũng đã mở được một số lớp tại chức ở Hà Nội và
địa phương.
Được sự quan tâm đầu tư của nhà trường, Bộ môn đã xây dựng được
một chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện với 120 đơn vị
học trình, chia làm 3 khối: Khối kiến thức cơ bản, khối kiến thức nghiệp vụ
và khối kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu. Nhìn chung chương trình do Bộ
môn xây dựng đã cập nhật được các vấn đề mới và chú trọng trang bị cho
sinh viên các kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin hiện đại.
Việc phân bổ chương trình cân đối giữa ba phần: Kiến thức thư viện thư
mục, ứng dụng tin học và kiến thức thông tin tư liệu. (Có thể tham khảo
thêm trong phần phục lục 1). Ngoài các giờ học lý thuyết và thực hành trên
lớp sinh viên của trường đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia phải
đi thực tập 2 tháng tại các cơ quan thông tin, thư viện (ít hơn so với Trường
Đại học Văn hoá Hà Nội và Khoa Thư viện Thông tin học của trường Khoa
học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh).
24