một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại việt nam – hoa kỳ - Pdf 10

Chơng i
cơ sở lý luận chung về quan hệ thơng mại
Việt nam- Hoa kỳ
I. những xu hớng kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay
1. xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới
Ngày nay, nền kinh tế thế giới là một chỉnh thể thống nhất, nó là một
thể hữu cơ của nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Sự thống nhất của
nền kinh tế quốc gia thành một nền kinh tế thế giới thống nhất đó cũng phù
hợp với sự phát triển của quá trình phân công lao động vợt ra khỏi biên giới
của các quốc gia. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ trên toàn thế giới đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế
diễn ra càng mạnh mẽ hơn. Quá trình phân công lao động quốc tế là nguồn
gốc của sự hình thành các mối quan hệ thơng mại quốc tế và nguồn gốc của
toàn cầu hoá. Trong lịch sử kinh tế thế giới cho tới tận bây giờ đã chứng
minh rằng, không một quốc gia nào hiện đang có nền kinh tế hoàn toàn
không có quan hệ với bên ngoài. Các quốc gia muốn phát triển thì nhất định
phải tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Quá trình này là
một quy luật không thể phủ định nó đợc.
Dới xu thế này, biên giới kinh tế của các quốc gia sẽ càng giảm do
hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ dần, một nền kinh tế toàn
cầu không biên giới sẽ xuất hiện, các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển, các thể chế kinh tế toàn cầu sẽ hình
thành vv. Trong điều kiện đó , một nền kinh tế muốn không lệ thuộc vào bên
ngoài, muốn đảm bảo lấy các nhu cầu thiết yếu, chắc chắn là sẽ không có
chỗ đứng chân. Một nền kinh tế phát triển hiệu quả sẽ phải là một nền kinh
tế gồm những ngành có lợi thế cạnh tranh cao và đơng nhiên là phải tuỳ
thuộc vào thị trờng thế giới.
1
Trong điều kiên đó, mô hình phát triển kinh tế theo hớng hội nhập nền
kinh tế quốc tế đang xuất hiện. Mô hình này khác hẳn với mô hình kinh tế h-
ớng nội: một bên lấy thị trờng toàn cầu trong đó thị trờng quốc gia làm căn

nó đem lại ích to lớn cho các quốc gia nếu biết phát huy những lợi thế cạnh
tranh của mình. Đối với nớc ta, để phát triển đợc thì không có con đờng nào
khác là phải tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lợi ích từ quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đợc chứng minh từ những thành tựu mà nền
kinh tế nớc ta đạt đợc trong giai đoạn vừa qua- từ sau quá trình đổi mới
2. Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển.
Xu thế đã trở thành xu thế chính thay cho sự đối đầu giữa các siêu c-
ờng quốc, sự xung đột, chạy đua vũ trang giữa hai hệ thống xã hội đối lập.
Các hình thức chủ nghĩa thực dân cũ và mới, các cuộc chiến tranh xâm lợc
đã bị lên án khắp nơi. Trên toàn thế giới, các nớc hiện giờ đang lỗ lực tập
trung để phát triển kinh tế. Đây là một điều kiện rất quan trọng để giúp cho
các quốc gia có thể mở cửa đất nớc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế phát
triển trong xu thế hoà bình hợp tác đang thay thế cho mô hình kinh tế phát
triển trong tình trạng đối đầu và chiến tranh lạnh. Một nền kinh tế đợc xây
dựng trong điều kiện luôn phải ứng phó với các cuộc chiến tranh lạnh dù là
đã khác hoàn toàn với nền kinh tế phát triển trong xu thế hoà bình hợp tác.
một nền kinh tế có tính chất chiến tranh cho nên tính hiệu quả không cao,
chi phí cao, một bên thực thi chính sách hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng,
lấy việc tăng hiệu quả kinh tế, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế là quốc
sách hàng đầu.
Đây là một thuận lợi lớn cho nớc ta, với xu thế này khi tham gia vào
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia sẽ dẹp vấn đề quan điểm đ-
ờng lối, hệ tởng sang một bên trong một chừng mực nào đó và cùng nhau
quan tâm đến hợp tác về kinh tế. Nớc ta là một nớc đi lên con đờng xây
dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp tuy nhiên trên thế
giới những nớc đi theo con đờng này vẫn còn rất ít và trên thế giới thì hầu
hết các nớc phát triển lại đi theo con đờng t bản chủ nghĩa. Trong quá trình
hợp tác với các nớc này tuy nhiên do xu thế của thời đại này các nớc đều tập
trung vào phát triển kinh tế cho nên vấn đề này có thể đợc xoa dịu và đây là
3

4
công nghệ cao, những ngành kinh tế tri thức. Lợi nhuận từ các ngành kinh tế
tri thức là rất cao, lớn hơn nhiều so với các ngành công nghiệp nặng trớc kia.
Ví dụ nh lợi nhuận của hãng Itel, Mircosoft của Hoa kỳ đã đạt đợc mức lợi
nhuận 24% trên doanh thu kéo dài trong nhiều năm trong khi đó lợi nhuận
của những ngành công nghiệp nặng trớc kia chỉ chiếm 10% doanh thu .
Nhờ cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, những nớc nghèo nh n-
ớc ta có thể tìm đợc cơ hội để phát triển, nếu tạo đợc nhân lực chất lợng cao,
tiếp cận đợc trình độ khoa học công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó thời gian để
tiến hành công nghiệp hoá đợc rút ngắn. nếu ở thế kỷ 18, một nớc muốn
công nghiệp hoá phải mất khoảng 100 năm, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thì
phải mất khoảng 50- 60 năm, trong những thập kỷ 70 là khoảng 20-30 năm,
đến cuối thế kỷ 20 thì quãng đờng này còn có thể rút ngắn hơn na. Do vậy,
chúng ta phải có những chiến lợc đi tắt đón đầu, có những thay đổi nhìn
nhận lại về xu hớng xuất hiện kinh tế tri thớc trong giai đoạn hiện nay.
Những quan niệm về quan niệm về mục tiêu, phơng tiện, phạm vi của công
nghiệp hoá cần phải có những thay đổi đòi hỏi cho phù hợp. Quan điểm công
nghiệp hoá hiện đại hoá của Đảng ta đó là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chuyển sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện
đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Quan niệm này trong điều kiện của nền
kinh tế tri thức cần có sự thay đổi bổ sung hoặc làm rõ thêm, ít nhất là về
mục tiêu của ngành công nghiệp hoá. Theo cách hiểu của quan niệm trong
điều kiện của nền kinh tế tri thức cần có sự thay đổi bổ sung hoặc làm rõ
thêm, theo cách hiểu của quan niệm trên thì năng suất lao động cao có nghĩa
là nhàn nhiều, tốt, rẻ hơn một cách định lợng thì rõ ràng là không đủ, ở đây
có vấn đề thay đổi về chất hoặc về phơng tiện để tiến hành công nghiệp hoá
cũng cần bổ sung vấn đề coi trí tuệ là nhân tố tăng trởng kinh tế.

giữa những ngời sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Thơng mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc
tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho
đất nớc.
b.Vai trò và nhiệm vụ của thơng mại quốc tế
Đảng và nhà nớc ta chủ trơng mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại và
kinh tế đối ngoại, trong đó một lĩnh vực cực kỳ quan trọng là thơng mại hàng
hoá và dịch vụ với nớc ngoài. Đó là chủ trơng hoàn toàn đúng đắn và phù
hợp với thời đại, với xu thế phát triển của nhiều nớc trên thế giới trong những
năm gần đây. Thơng mại hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài không thể là
quan hệ ban phát cho không, không phải chỉ có nhập mà phải có xuất, phải
cân đối đợc xuất nhập và tiến tới xuất siêu ngày càng lớn. Tất cả các mối
quan hệ đó muốn lâu bền phải dựa trên các quy luật kinh tế và phải đợc giải
quyết thông qua các quan hệ Thơng mại buôn bán, trao đổi và kinh doanh vì
mục tiêu kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, vì dân giầu nớc
mạnh và công bằng văn minh
Nói đến thơng mại quốc tế không thể không nói đến kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng hoá vì dịch vụ và đây là nội dung quan trọng và cốt lõi của
quá trình kinh doanh thơng mại quốc tế. Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng
hoá và dịch vụ với nớc ngoài đòi hỏi phải đầu t trí lực, sức lực, tiền của, quan
hệ và phơng pháp quản lý để thu đợc kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối
thiểu. Do đó, thơng mại quốc tế trang bị những kiến thức cần thiết và lý
thuyết thơng mại quốc tế, thị trờng, hình thức giao dịch hợp đồng, thanh
toán, quản lý xuất nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh Th ơng mại quốc tế là
lĩnh vực và là ngành phân phối lu thông hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài.
Đây là lĩnh vực kinh doanh hàng hoá thuộc hai khâu của quá trình tái sản
xuất mở rộng, chắp nối sản xuất và tiêu dùng của nớc ta với sản xuất và tiêu
dùng của nớc ngoài, nếu làm tốt sẽ ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và đời
sống. Nếu xem xét quá trình tái sản xuất theo nghĩa liên tục không ngừng và
7

Thứ 2 các nớc tiến hành buôn bán với nhau để đạt đợc lợi thế nhờ
chuyên môn hoá ở một số loại hàng hóa. Nó có thể sản xuất mỗi loại hàng
này ở quy mô lớn hơn và do đó hiệu quả là trong trờng hợp nớc đó sản xuất
tất cả mọi thứ. Hai động cơ trên chính là tiền đề cho các quan hệ giữa các
quốc gia
Quan hệ thơng mại quốc tế nằm trong nội dung của quan hệ kinh tế
quốc tế rất rộng lớn và đa dạng gồm có: quan hệ trong lĩnh vực ngoại th-
ơng( quan hệ thơng mại quốc tế) quan hệ trong lĩnh vực dịch vụ nh du lịch
quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, bảo hiểm quốc tế, quan hệ trong lĩnh vực
tài chính, quan hệ trong lĩnh vực đầu t quốc tế, quan hệ trong lĩnh vực
chuyển giao công nghệ. Có thể hiểu quan hệ thơng mại quốc tế là quan hệ
kinh tế mua bán, trao đổi hàng hoá của một nớc với nớc các quốc gia khác
trên thế giới bao gồm cả hàng hoá hu hình và hàng hoá vô hình.
Quan hệ thơng mại quốc tế là các mối quan hệ thoả thuận, tự nguyện
giữa các quốc gia. Nó diễn ra theo yêu cầu của các quy luật kinh tế nh : Quy
luật giá trị, Quy luật cạnh tranh, thêm vào đó, quan hệ thơng mại quốc tế còn
chịu sự tác động của hệ thống quan lý khác nhau của các chính sách pháp
luật, thể chế của từng quốc gia cũng nh các điều ớc quốc tế.
ở phần trên chúng ta nghiên cứu những xu hớng chung của nền kinh tế
thế giới, đến phần này, qua nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về thơng mại
quốc tế nhằm giải thích bản chất của các hoạt động thơng mại quốc tế cũng
nh giải thích bản chất của quan hệ thơng mại Việt nam Hoa kỳ.
Các lý thuyết thơng mại quốc tế xuất hiện vào thế kỷ 15 và đợc phát
triển liên tục qua mấy năm nay. Theo tiến trình phát triển các lý thuyết khác
nhau về thơng maị quốc tế đã phản ánh từng nấc thang vận động t duy loài
ngời trong buôn bán quốc tế. Việc hiểu rõ các lý thuyết này sẽ tạo điều kiện
cho các công ty và các chính phủ xác định tốt hơn vị trí và quyền lơị của
mình trong buôn bán quốc tế, do đó các học thuyết có nhiệm vụ giải đáp
những vấn đề cơ bản.
9

hàng hoá, nghĩa là các quốc gia phải cố gắng đạt đợc thặng d trong cán cân
thơng mại, để toàn bộ quy mô hoạt động xuất khẩu vợt khỏi quy mô hoạt
động nhập khẩu.
Tóm lại, lý thuyết trong thơng đã sớm đánh giá đợc tầm quan trọng
của thơng mại quốc tế, nó khác với trào lu t tởng kinh tế phong kiến thời
bấy giờ đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp. Vai trò của nhà nớc với t cách là
chủ thể điều chỉnh quan hệ kinh tế từ nớc này sang nớc khác đã đợc coi
trọng. Tuy vậy, lý luận về thơng mại quốc tế còn đơn giản, ít tính chất lý
luận, thờng dợc nêu lên dới hình thức những lợi khuyên thực tiễn về chính
sách kinh tế, lập luận mang tính chất kinh nghiệm cha thể giải thích đợc bản
chất của thơng mại quốc tế
3.Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith
Lý thuyết này xuất hiện vào đầu thế kỷ 18 cùng thời kỳ nổ ra 3 cuộc
cách mạng công nghiệp, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp xây dựng trên
cơ sở lý thuyết về buôn bán tự do đợc phát triển vào thời kỳ này năm 1776
trong tác phẩm sự giầu có của các dân tộc. Asmith đã bác bỏ quan niệm coi
vàng đồng nghĩa với của cải và đa ra quan điểm các nớc thu đợc lợi ích lớn
nhất khi tham gia trao đổi các loại hàng hóa có thể sản xuất với hiệu quả tối
đa, ông cho rằng các loại chi phí sản xuất sẽ là căn cứ cho biét từng nớc hoặc
buôn bán nên sản xuất mặt hàng gì
Theo quan điểm về lợi thế tuyệt đối, một nớc chỉ sản xuất các loại
hàng hoá cho phép sử dụng tốt nhất các nguồn tài nguyên của nó. Các nguồn
lực đó là đội ngũ lao động có tay nghề và đợc đào tạo thích hợp, nguồn vốn ,
tiến bộ công nghệ hoặc thậm chí cả truyền thống kinh doanh.
Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai
mặt hàng giống nhau. Quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất
hàng hoá X và quốc gia thứ hai có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng hoá
Y. Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt
hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó trao đổi, thì cả hai quốc gia sẽ đều
11

về một số mặt hàng khác.
Vậy có thể kết luận rằng một trong những điểm cốt yếu nhất của lý
thuyết lợi thế so sách là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thơng
maị quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải lợi thế tuyệt đối
.lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thơng mại quốc tế.
Tóm lại : lợi ích thơng mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi
thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể đợc thể hiện
bằng các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thơng
mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau của mỗi quốc gia. Chi
phí của thơng mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về chi
phí cơ hội của mỗi quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tơng đối để
làm ra các sản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia hay là nói cách
khác khi các chi phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không
có lợi thế so sánh và cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên
môn hoá sản xuất và thơng mại quốc tế. Quy luật này đợc nhiều nhà kinh tế
khác tiếp tục phát triển, hoàn thiện trở thành một quy luật chi phối động thái
phát triển của thơng mại quốc tế.
3. Lý thuyết về nguồn lực và thơng mại của Hecksher Ohlin
Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc chính của những
lợi ích của thơng mại quốc tế, những lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao
các nớc khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết so sánh của
D.Rcardo đã không giải thích đợc những vấn đề trên đây. Để khắc phục hạn
chế này, hai nhà kinh tế thuỷ điển là Eli Hecksher và B. Ohlin trong tác
phẩm th ơng mại liên khu vực và quốc tế xuất bản năm 1933 đã phát triển
lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo thêm một bớc bằng việc đa ra mô
hình H-O để trình bày lý thuyết u đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý
thuyết này đã giải thích hiện tợng thơng mại quốc tế là do trong một nền
kinh tế mở cửa, mỗi nớc, mỗi quốc gia đều hớng đến chuyên môn hoá các
ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nớc đó là
13

nhanh chóng hội nhập và sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Đồng
14
thời trên cở sở trên cơ sở lợi ích thơng mại thu đợc sẽ thúc đẩy nhanh chóng
sự tăng trởng và phát triển kinh tế ở những nớc này.
Chơng II
Phân tích quan hệ thơng mại việt nam hoa kỳ
15
I. Đặc điểm quan hệ thơng mại Việt nam Hoa kỳ
1. Giai đoạn phát triển trớc khi Hoa kỳ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với
Việt nam
.1. Lịch sử quan hệ VN - HK
a. Trớc năm 1975.
Thời kỳ trớc năm 1975 Hoa kỳ đã có mối quan hệ với chính quyền Sài
Gòn cũ, kim ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng hoá nhập khẩu
bằng viện trợ của Hoa kỳ để phục vụ cuộc chiến tranh xâm lợc . Về xuất
khẩu sang Hoa kỳ có một số mặt hàng nh gỗ, cao su, hải sản với số lợng
không đáng kể.
Từ tháng 5 năm 1994, Hoa kỳ thực thi lệnh cấm vận chống miền Bắc nớc
ta và khi Việt nam trong tất cả các lĩnh vực thơng mại tài chính tín dụng,
ngân hàng, đồng thời Hoa kỳ áp dụng chế tài khống chế các nớc đồng minh
và các tổ chức quốc tế nhằm ngăn cản, thao túng các mối quan hệ kinh tế th-
ơng mại Việt nam.
Mặc dù bị Hoa kỳ cấm vận, song thông qua con đờng trực tiếp hoặc gián
tiếp Việt nam vẫn có mối quan hệ kinh tế và viện trợ phát triển với nhiều n-
ớc, nhiều tổ chức và tổ chức phi chính phủ, trong đó có Hoa kỳ, nhiều công
ty Hoa kỳ gián tiếp cũng có mặt hàng hoá xuất khẩu vào nớc ta.
b. Những năm trớc 90.
Theo số liệu thống kê của Việt nam, xuất khẩu sang Hoa kỳ thời kỳ
1986- 1990 hầu nh không có gì về nhập khẩu, mặc dù bị cấm vận chặt chẽ
song hàng nhập khẩu từ Hoa kỳ trong giai đoạn 1986 1990 đạt giá trị 5

Tháng 7 năm 1993 Hoa kỳ tuyên bố không can thiệp vào các tổ chức tài
chính quốc tế, trớc hết là quỹ tiền tệ IMF, ngân hàng thế giới WB ngân hàng
phát triển Châu á ADB. Tháng 10 năm 1993 quan hệ giữa nớc ta với các tổ
chức tài chính quốc tế đợc nối lại và tháng 11 năm 1993 hội nghị các nhà tài
17
trợ quốc tế cho Việt nam đã họp tại Paris, đại biểu Hoa kỳ đã tham dự với t
cách là quan sát viên.
2. Đặc điểm quan hệ VN - HK
Vị trí vai trò của Hoa Kỳ và Việt nam đối với nhau ngày càng
trở nên quan trọng
Hoa kỳ là một quốc gia giàu với diện tích 9,2 triệu km, dân số 262
triệu ngời, đủ các dân tộc và màu da. Hiện nay nền kinh tế Hoa kỳ là một
trong những nền kinh tế mạnh và hiện đại nhất thế giới. GDP của Mỹ năm
1999 là 9200 tỷ USD chiếm 20% tổng GDP của thế giới. Trong những năm
gần đây kinh tế Hoa kỳ có tốc độ tăng trởng khá cao và liên tục 4% năm
1999, năm 2000 là 5% trong khi thị trờng Nhật bản và Châu Âu thì tăng tr-
ởng chậm. Tất cả những điều đó cho thấy rằng nhu cầu tiêu dùng của ngời
Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cao, mặc dù trớc đây họ vốn đã là một thị trờng tiêu
thụ khổng lồ. Năm 2000, nhập khẩu của Hoa kỳ đã đạt tới con số 1.220 tỷ
USD, trong khi đó nhập siêu lên đến 267 tỷ USD. Có nhiều nhà phân tích đã
cho rằng, nền kinh tế Hoa kỳ là một nền kinh tế đang thách thức với lý luận
chu kỳ kinh tế truyền thống và ký luận kinh tế học phơng Tây. Ví dụ nh tỷ
lệ lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp thấp không cùng tồn tại lâu dài. Nhng
kinh tế Hoa kỳ lại đang trong tình trạng tỷ lệ lạm phát thấp và tỷ lệ thất
nghiệp thấp. Do nền kinh tế Hoa kỳ đạt kỷ lục 102 tháng liên tiếp giữ đợc
phát triển, nó đã cải biến mối quan hệ tăng tốc độ kinh tế, thất nghiệp, lam
phát. Do đó, kinh tế Hoa kỳ tràn đầy sức sống, nó thúc đẩy kinh tế thế giới
phát triển lành mạnh. Hầu nh hai phần ba tổng sản lợng kinh tế của đất nớc
bao gồm hàng hoá và dịch vụ là do cá nhân mua cho việc sử dụng các nhân.
Một phần ba còn lại là do Chính phủ và các doanh nghiệp mua. Do tỷ lệ này

sản lớn trên thế giới chiếm 72% thị trờng đậu tơng thế giới, 70% thị trờng
ngô, chi phối thị trờng nông nghiệp thế giới.
19
Bảng5 Thống kê kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng của Hoa kỳ
trong năm 2001 ( ĐV tỷ USD)
Mặt hàng Kim ngạch Mặt hàng Kim ngạch
Thịt
3
Phụ liệu quần áo dệt may
35
Hải sản
6.5
Ngọc trai
19
Rau quả
5
Kính
3.5
Ngũ cốc và chế phẩm từ ngũ cốc
14
Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép
23
Hạt có dầu
0.9
Đồng và sản phẩm từ đồng
4
Dỗu động thực vật 1.5 Dụng cụ và sản phẩm nhỏ tứ kim
loại
4
Đồ uống có cồn và không cồn 6 Lò phản ứng hạt nhân nồi hơi, máy

40% thơng mại của Hoa kỳ so với thơng mại của toàn thế giới, bằng 1,5 lần
thơng mại của Hoa kỳ với EU. Hoa kỳ chủ trơng củng cố các thị trờng của
hoa kỳ đã có, xâm nhập và mở rộng thị trờng mới. Năm 2000 chính quyền
Mỹ đa ra khái niệm 10 thị trờng mới nổi lên làm trong điểm phát triển thị tr-
ờng. Tro ng đó ASEAN, Trung quốc, Hồng kông, Đài loan, ấn độ, Hàn
quốc, Autralia, Achentina, Meixco. Trong chiến lợc này, quan hệ Hoa kỳ
ASEAN hết sức đợc chú trọng bởi theo nhiều chuyên gia Hoa kỳ cho dự bao
năm 2010 với 680 triệu dân, việc Hoa kỳ bình thờng hoá quan hệ thơng mại
và ký kết Hiệp đinh thơng mại với Việt nam cũng không năm ngoài chiều h-
ớng trên .đối với Hoa kỳ Viêt nam cũng lổi lên nh thị trờng nhiều tiềm năng
cha khai thác cuối cùng, có vai trò và vị trí cầu nối giữa vùng Đông Bắc á
( trọng điểm của chính sách tơng lai của Hoa kỳ trong khu vực Châu á Thái
Bình Dơng) vì thế Hoa kỳ không thể không chú ý
Đối với Hoa kỳ, Châu á có ý nghĩa then chốt đối với đời sống kinh tế
cũng nh đối với cuộc sống hàng ngaỳ của ngơì dân Hoa kỳ. Đó cũng là vùng
đất béo bở nhất xét từ góc độ bảo đảm việc làm và xuất khẩu của ngời dân
Mỹ. Hoa kỳ đã từ lâu quan tâm đến khu vực Đông Nam á, bởi vì 80% thiếu
21
hụt từ ngoại thơng của Hoa kỳ lại thuộc về 9 nớc ở khu vực Đông Nam á và
Đông á để tạo thế đối trọng với Trung Quốc và Nhật bản, cho phép Hoa kỳ
có thể kiểm soát hiệu quả tiềm lực quân sự của hai nớc này và kinh tế cuả cả
khối cũng nh vị thế của Việt nam trên thị trờng quốc tế cũng không nằm
ngoài tính toán chiến lợc của Việt nam trong việc mở rộng quan hệ thơng
mại với Hoa kỳ.
Trong bối cảnh đó, vị trí địa lý KT- CT của Việt nam đang đợc các n-
ớc lớn và trung tâm kinh tế thế giới ngày càng coi trọng và dần dần trở thành
khâu quan trọng trong chiến lợc của các trung tâm này. Quan hệ thơng mại
Việt nam đang nằm trong chiến lợc thâm nhập vào thị trờng mới nổi lên của
Hoa kỳ ở khu vực này song một nớc Việt nam đổi mới mở cửa đa dạng hoá,
đa phơng hoá các quan hệ đối ngoại, hội nhập vào khu vực và thế giới là

là đã vợt xa quá so với Việt nam. Khi nền kinh tế Hoa kỳ đang dẫn dắt các
nền kinh tế quốc tế bớc vào giai đoạn CNH thứ t thì Việt nam mới bắt đầu b-
ớc vào những chặng đờng đầu của giai đoạn CNH. Xuất phát điểm muộn,
thấp lại vừa mới chuyển đổi kinh tế, sự phù hợp tác quan hệ giữa ngời khổng
lồ và chú bé tí hon sẽ khó khăn, thờng là rất không bình đẳng và trong ngày
một ngày hai, nền kinh tế Việt nam sẽ không thể thích nghi đợc mô phỏng
hoặc chịu sự dẫn dắt của Hoa kỳ và các tổ chức quốc tế mà phần lớn luật
chơi đợc đợc mô phỏng hoặc chịu sự dân dắt của Hoa kỳ. Song không thể
nói nền kinh tế Việt nam với những nền tảng hiện nay là quan trọng đối với
nền kinh tế Hoa kỳ, kể cả vấn đề tài nguyên khi mà các tài nguyên chủ lực
nh vàng, than, sắt, dầu thô, của Hoa kỳ đều có trữ lợng lớn vào loại nhất nhì
thế giới. Việc Hoa kỳ nối lại quan hệ thơng mại giữa hai nớc là nhằm tăng c-
ờng ảnh hởng của họ đến Đông Nam á về mọi phơng diện. Hoa kỳ muốn tạo
dựng hình ảnh mới của mình ở khu vực này sau thời kỳ chiến tranh lạnh
bằng việc thể hiện vai trò dẫn dắt kinh tế của mình trong APEC. Do vậy,
mặc dù Hoa kỳ cha đánh giá hết lợi thế của một nền kinh tế nhỏ bé nh Việt
nam, trong chiến lợc Châu á - Thái Bình Dơng. Điều này đặt ra cho phía
Việt Nam trong phơng hớng phát triển quan hệ thơng mại với Hoa kỳ, quan
hệ lợi ích phải đặt cái nhìn dài hạn, rộng lớn của sự hội nhập. Càng hội nhập
23
thực sự vào khu vực, Việt nam càng trở lên sáng giá và có nhiều u thế trong
tiến trình phát triển quan hệ thơng mại giữa hai nớc.
Quan hệ thơng mại giữa hai nớc có sự khác biệt về chính sách
của nền kinh tế giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt xu thế tự do thơng mại với
một nớc đang phát triển cận xu thế này .
Mỹ là một nền kinh tế theo xu hớng tự do hoá thơng mại, thúc đẩy mậu
dịch tự do. Đây là động thái chính trong các chính sách thơng mại quốc tế
của Mỹ trong những năm tới. Để tham gia vào quan hệ thơng mại Việt nam
Hoa kỳ thì chúng ta cần phải đáp ứng những yêu cầu của Hoa kỳ nh trao
cho Hoa kỳ thuế tối huệ quốc, dỡ bỏ những hàng rào bảo hộ, thực thi chính

Ngày 3-2-1994 Tổng thống B. Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận có hiệu lực
34 công ty Hoa kỳ lập văn phòng đại diện ở Việt nam từ cuối năm 1993
nhanh chóng triển khai hoạt động 11/7/1995 hai nớc thiết lập mối quan hệ
ngoại giao. Từ ngày 21 đến 26 tháng 9 năm 1995 diễn ra vòng đàm phán th-
ơng mại đâù tiên giữa đại diện hai nớc đã mở ra cơ hội thúc đẩy hoạt động
ngoại thơng giữa hai nớc, tuy tỷ lệ tăng cha cao nhng vẫn ở mức ổn định. Sau
đây là bảng số liệu thống kê tình hình thơng mại giữa hai nớc qua một số
năm
Bảng1: Tình hình XNK của Việt nam Hoa Kỳ (tính triệu USD)
Năm Xuất Khẩu Nhập Khẩu Tổng Kim Ngach
1994 50.4 172.0 222.4
1995 200 252.0 452.0
1996 319 289.0 608
1997 388.2 278.0 666.2
1998 553.4 269.0 822.4
25

Trích đoạn Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt nam sang thị trờng Hoakỳ Đánh giá cơ hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status