các hình thức huy động vốn vay ở các dn vn hiện nay - Pdf 10

Lời mở đầu
Năm 2007 vừa qua Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này là kết quả của một quá
trình đàm phán lâu dài. Gia nhập WTO, Việt Nam đang đứng trước cơ hội
hội nhập thế giới sâu rộng hơn bao giờ hết.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước rất thách thức, vậy nên
muốn cạnh tranh đứng vững và phát triển trong môi trường đầy tiềm năng
và nhiều thách thức này, các doanh nghiệp ngoài việc cần phải chuẩn bị kĩ
lưỡng về chiến lược kinh doanh lâu dài, yêu cầu cao về kỹ thuật, chất lượng
ngồn nhân lực thì có 1 điều kiện tiên quyết không thể thiếu đó là nguồn vốn
dồi dào. chúng ta có thể thấy rõ nhu cầu nghiên cứu và ứng dụng vấn đề thu
hút nguồn vốn sao cho hiệu quả, phục vụ những kế hoạch tài chính trong
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của doanh nghiệp, em đã tìm hiểu về thực
trạng huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, sau đây em
xin trình bày phần tìm hiểu của mình mong rằng phần nào sẽ giúp cho các
bạn hiểu thêm về vấn đề này. Rất mong nhận được sự nhận xét của các bạn
và giảng viên thạc sĩ Phan Hồng Mai.
1
Nội dung
1. Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu ở các DN VN hiện nay
1.1 Vốn góp ban đầu
Hiện hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ và vừa.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thì có tới 96,81% số doanh nghiệp
nước ta thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó xét về vốn chủ sở
hữu, số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,80%, số doanh
nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ chiếm 37,03% số doanh nghiệp vốn từ 5 đến 10
tỷ chỉ chiếm khoảng 8,15%, theo số liệu năm 2006 ta có 73% các doanh
nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng; số doanh nghiệp có số vốn từ 50-200 tỷ
đồng chiếm 8,5% Như vậy, quy mô vốn của các doanh nghiệp Việt Nam
rất nhỏ lẻ, không thể đáp ứng yêu cầu phát triển và cạnh tranh trong giai
đoạn hiện nay, khi Việt Nam gia nhập WTO. Nhu cầu tăng vốn, thu hút

1.3.Vốn từ phát hành cổ phiếu mới
Đây là kênh huy động vốn đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ doanh
nghiệp cổ phần nào. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, thị trường chứng
khoán đang trên đà phát triển, tuy chưa ổn định, nên việc thu hút nguồn vốn
từ phát hành cổ phiếu mới là rất cần thiết và hoàn toàn có khả năng thực
hiện, doanh nghiệp cũng có thể xây dựng hình ảnh thương hiệu từ phương
thức này, song cần thận trọng, chú ý đề phòng những rủi ro của thị trường.
Theo số liệu của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, tính đến ngày
31/12/2006, trên TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh (HoSTC) có 106 công
ty và 2 chứng chỉ quỹ, trên sàn GDCK Hà Nội (HaSTC) có 87 công ty,
tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là 221,156 tỷ, chiếm 22,7% tổng GDP 2006,
và lớn gấp 20 lần năm 2005.
Số lượng công ty niêm yết tăng mạnh vào cuối năm 2006, chỉ riêng
tháng 12/2006 có tới 50 công ty niêm yết mới trên HoSTC, bình quân mỗi
ngày gần 2 công ty. Nguyên nhân chính của tình trạng lên sàn ồ ạt là do từ
3
01/01/2007, Luật chứng khoán chính thức có hiệu lực, bãi bỏ ưu đãi thuế
Thu nhập doanh nghiệp cho những doanh nghiệp niêm yết trên sàn sau
ngày này.
Như vậy, thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán đã có
bước phát triển vượt bậc, tạo kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp,
song, thực chất thị trường này còn rất nhiều bất cập.
Đầu tiên, ta điểm qua tình hình phát triển của thị trường chứng khoán
giai đoạn 2005-2007. Một số nét dễ nhận thấy đó là thị trường thường tăng
trưởng nóng trong những tháng cuối năm và đầu năm, còn từ tháng 4 đến
khoảng tháng 7-8 thị trường điều chỉnh giảm. Tình trạng này diễn ra liên
tục cho thấy khả năng tăng trưởng bong bóng và sự mất ổn định của thị
trường. Trong điều kiện tăng trưởng ồ ạt, việc các doanh nghiệp phát hành
cổ phiếu mới là một biện pháp giảm sốt hữu hiệu đối với thị trường, tăng
cung thì thị trường sẽ cân bằng hơn. Song khi thị trường mất ổn định, đi

gián, gây nhiều khó khăn trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp, cũng như dự báo rủi ro kinh doanh cổ phiếu của các nhà đầu tư.
Nguyên nhân tình trạng này là do các doanh nghiệp chưa có ý thức
trong việc cung cấp thông tin. Bề ngoài, các nhà đầu tư phải được cung cấp
những báo cáo tài chính thường kỳ của doanh nghiệp, bao gồm cả báo cáo
kiểm toán của một công ty kiểm toán độc lập. Song, trên thực tế, doanh
nghiệp chưa cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết. Lý do đó là doanh
nghiệp mang tâm lý đề phòng với các cơ quan quản lý nhà nước như thuế
vụ, công an, quản lý thị trường và các doanh nghiệp phải dè chừng những
đối thủ cạnh tranh, sợ lộ những kế hoạch tài chính của mình.
Hệ thống khai báo và chính sách thuế của Việt Nam còn nhiều bất
cập, làm cho doanh nghiệp luôn muốn khai thấp doanh thu, khai tăng chi
phí để bảo toàn lợi nhuận. Hậu quả là tình hình tài chính của doanh nghiệp
bị bóp méo, gây ảnh hưởng đến hình ảnh của doanh nghiệp, và khó khăn
cho nhà đầu tư.
5
Như vậy, vấn đề thu hút nguồn vốn chủ sở hữu ở Việt Nam hiện nay
còn nhiều bất cập và hạn chế. Việc huy động và sử dụng nguồn vốn này
như thế nào là một nhiệm vụ quan trọng của ban điều hành quản lý doanh
nghiệp.
2. Các hình thức huy động vốn vay ở các DN VN hiện nay
2.1. Tín dụng ngân hàng
Ngân hàng là các tổ chức tài chính trung gian có địa vị không thể thiếu
trong bất cứ nền kinh tế nào. Đây là một kênh phân bổ nguồn lực xã hội
hiệu quả cao.
Đây là một nguồn vốn quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Doanh nghiệp luôn cần nguồn tín dụng ngân hàng để đảm bảo khả năng
thanh toán trong ngắn hạn. Nguồn vay này cũng có thể sử dụng phục vụ
cho những dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp trong trung và dài hạn.
Hiện nay, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng vẫn sử dụng

tài sản thế chấp, và nếu có tài sản thế chấp thì cũng chỉ được vay tối đa
70% giá trị tài sản, theo cách định giá của ngân hàng cho vay. Không
những vậy, kết quả của việc chạy đua thu hút vốn giữa các ngân hàng bằng
lãi suất trong thời gian qua đã đẩy lãi suất cho vay lên quá cao, trung bình
khoảng 12-13%. Điều đó làm cho doanh nghiệp càng khó có khả năng
chạm tới nguồn vốn ngân hàng.
Trong hoàn cảnh này, nhu cầu vốn của doanh nghiệp lại không ngừng
tăng cao, sức ép hội nhập từ APTA, gần đây là WTO khiến cho doanh
nghiệp phải tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường.
2.2.Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại, hay còn được biết tới như là những hoạt động
mua bán chịu, trả chậm hay trả góp. Tín dụng thương mại là một kênh đảm
bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn hạn, giúp các doanh
nghiệp tự chủ tài chính, giúp đỡ lẫn nhau. Các công cụ chủ yếu được sử
7
dụng là thương phiếu, như hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, các loại
séc
Thời gian qua, các doanh nghiệp có giao dịch với nước ngoài đã sử
dụng những công cụ này một cách thường xuyên, đặc biệt là hối phiếu,
trong các hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và vay nợ nước ngoài. Tuy
còn nhiều bỡ ngỡ, song với kinh nghiệm tích lũy qua thời gian, các doanh
nghiệp này đã sử dụng tốt công cụ này.
Song, một thực trạng đáng buồn là các doanh nghiệp Việt Nam khi
buôn bán trong nội địa chưa sử dụng phổ biến thương phiếu. Các ngân
hàng cũng chưa thực hiện những nghiệp vụ như bảo lãnh, chiết khấu hay
cầm cố thương phiếu. Trong khi các hoạt động như mua bán chịu, bán hàng
gối đầu cho đại lý, giữa các tiểu thương là hoạt động diễn ra hàng ngày
hàng giờ.
Ở Việt Nam hiện nay 80,5% các hoạt động mua bán có sử dụng tới tín
dụng thương mại, song những nghiệp vụ này chỉ được ghi sơ sài trên sổ nợ

trò cao trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp, tuy còn nhiều hạn chế như
chí phí thuê mua cao.
2.4.Tín dụng bằng trái phiếu tín phiếu
Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay còn rất non trẻ, trong năm
2006 tuy đã có những phát triển vượt bậc song còn nhiều hạn chế cần giải
quyết.
Trong số những hạn chế ấy, vấn đề trái phiếu doanh nghiệp nổi lên
như một khuyết điểm không đáng có.
Trong số các loại chứng khoán đang niêm yết, trái phiếu doanh nghiệp
không có một vị trí nào. Trong khi các cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được
quan tâm chú ý, trái phiếu chính phủ thì có hơn 400 loại (cuối năm 2006),
thì trái phiếu doanh nghiệp niêm yết chỉ có 2 loại, trái phiếu của Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam, và trái phiếu chuyển đổi của ngân hàng
9
ngoại thương Việt Nam. Ngoài ra còn có một số loại trái phiếu doanh
nghiệp khá thu hút như trái phiếu của Vinashin
Tính đến tháng 6 năm 2004, trái phiếu chính quyền địa phương và trái
phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 7% tổng giá trị trái phiếu phát hành ở Việt
Nam. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển, dư nợ trái phiếu
thấp, chủ thể phát hành không đa dạng, chưa có hệ thống các nhà tạo lập thị
trường và hệ thống giao dịch, thanh toán còn nhiều hạn chế. Tất cả những
yếu tố đó làm cho từ khâu phát hành đến đảm bảo khả năng thanh khoản
cũng như những biện pháp phòng ngừa rủi ro đều chưa được quan tâm.
Như vậy, một kênh huy động vốn có vai trò quan trọng đang bị bỏ
quên. Lợi ích từ trái phiếu doanh nghiệp là điều không phải bàn cãi nhiều,
vậy nguyên nhân là ở đâu?
Nguyên nhân thứ nhất, các doanh nghiệp chưa có hiểu biết đúng mức
về trái phiếu doanh nghiệp, chưa thấy hết lợi ích của việc huy động vốn
bằng phát hành trái phiếu. Các doanh nghiệp gặp khá nhiều khó khăn trong
việc xin phép phát hành do những thủ tục hành chính rườm rà, không hoàn

mua trái phiếu không có định hướng, rủi ro là rất lớn.
11
Kết luận
Như vậy, thị trường tài chính Việt Nam tuy đang tăng trưởng với tốc
độ lớn song vẫn còn tiềm ẩn nhiều hạn chế. Nhà nước, các ngân hàng
thương mại và các doanh nghiệp còn rất nhiều việc phải làm để nâng cao
chất lượng thu hút nguồn vốn cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp
có cơ sở vững vàng để sản xuất kinh doanh, để cạnh tranh và phát triển
trong hoàn cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Việt Nam đang phát triển nhanh, đang hòa nhập cùng quốc tế. Trong
hoàn cảnh này, vấn đề tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
là vô cùng quan trọng, để doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển.
Vấn đề huy động vốn cho doanh nghiệp là một vấn đề đầu tiên cần
giải quyết khi xây dựng khả năng cạnh tranh. Đảm bảo đầy đủ nhu cầu về
vốn của doanh nghiệp, trong khi sử dụng một cơ cấu vốn hợp lý tối ưu với
chi phí thấp nhất có thể, là bước đầu tiên tạo nền tảng cho quá trình hoạt
động kinh doanh thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status