Các hình thức huy động vốn ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Việt Nam đã chính thức gia nhập vào WTO, tổ chức thương mại thế
giới. Trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này là kết quả của một quá
trình đàm phán lâu dài, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hội nhập thế
giới sâu rộng hơn bao giờ hết.
Doanh nghiệp Việt Nam muốn cạnh tranh đứng vững và phát triển
trong môi trường mới đầy tiềm năng và nhiều thách thức này, ngoài những
yếu tố không thể thiếu như cần có chiến lược lâu dài, cùng với những yêu
cầu nâng cao kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực, thì điều kiện tiên quyết
không thể thiếu đó là nguồn vốn dồi dào. Trong khi đó, thị trường chứng
khoán Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển đầy tiềm năng và thách
thức. Chúng ta đã cam kết mở cửa ngành ngân hàng tài chính và chứng
khoán, vốn là một bước chuẩn bị nền tảng cho quá trình hội nhập.
Đứng trước nhu cầu nghiên cứu và ứng dụng vấn đề thu hút nguồn
vốn sao cho hiệu quả, phục vụ những kế hoạch tài chính trong ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn của doanh nghiệp, em xin mạnh dạn chọn đề tài :
Các hình thức huy động vốn ở Việt Nam hiện nay –
Thực trạng và giải pháp
Bản đề án của em gồm 3 phần :
Phần I : Các hình thức huy động vốn trong nền kinh tế thị
trường
Phần II : Các hình thức huy động vốn ở các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay
Phần III : Một số giải pháp và kiến nghị
Do trình độ còn hạn chế, đề án chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót,
em rất mong được thầy cô và các bạn góp ý để bản đề án của em ngày
càng tốt hơn và có giá trị lý thuyết cũng như thực tiễn.
Em xin chân thành cám ơn thầy Vũ Duy Hào đã giúp em hoàn thành
bản đề án này.
Phần I

phá sản, đều thể hiện rõ ràng trong tình hình tài chính, mà tình hình nguồn
vốn là một đóng góp quan trọng.
Doanh nghiệp muốn thực hiện bất kỳ hoạt động gì đều cần có vốn.
Khi doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô, mở rộng thị trường, sản xuất
một sản phẩm mới,... thì vốn là nhân tố không thể thiếu. Trong quá trình
tham gia vào thị trường, doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh để tồn tại, và
những hướng tăng khả năng cạnh tranh sẽ không thể thực hiện nếu không
có vốn. Đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, hạ giá thành, tăng
chất lượng sản phẩm,... vốn là vấn đề đầu tiên cần giải quyết.
Làm thế nào để đảm bảo khả năng chi trả, đảm bảo tình hình tài
chính lành mạnh, đảm bảo khả năng cạnh tranh, đảm bảo nguồn vốn phục
vụ cho đầu tư phát triển,... đó là một câu hỏi thường trực của bất kỳ doanh
nghiệp nào. Và đó cũng là một trong những công việc quan trọng bậc nhất
cho những nhà điều hành doanh nghiệp: Quản lý nguồn vốn.
2. Nguồn hình thành vốn trong doanh nghiệp
2.1.Các nguồn hình thành vốn trong doanh nghiệp
Vốn hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, ở đây em chỉ xin đi sâu
phân tích những nguồn cơ bản và quan trọng nhất.
Thứ nhất, vốn chủ sở hữu, do chủ sở hữu của doanh nghiệp bỏ ra.
Nguồn này bao gồm 3 loại chính
• Vốn góp ban đầu
• Vốn từ lợi nhuận để lại
• Vốn từ phát hành cổ phiếu mới
* Vốn góp ban đầu của doanh nghiệp do chủ sở hữu – các cổ đông
đóng góp. Nguồn này khác nhau tùy theo hình thức sở hữu của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp là DNNN, chủ sở hữu doanh nghiệp là Nhà
nước, tương tự với các loại hình doanh nghiệp khác, chủ sở hữu có thể là
một cá nhân, hay nhiều cá nhân, một tổ chức, hay nhiều tổ chức, hoặc do
các bên tham gia liên doanh góp vốn...
Đây là cơ sở đầu tiên để doanh nghiệp bắt đầu hoạt động. Do vậy,

Cổ phiếu có nhiều loại, dựa trên tình hình thị trường, yêu cầu của
doanh nghiệp cũng như của nhà đầu tư mà doanh nghiệp nên lựa chọn sử
dụng loại cổ phiếu phù hợp.
Cổ phiếu thường (cổ phiếu thông thường) là loại cổ phiếu có tính
thanh khoản cao, được mua bán trên thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu ưu tiên chiếm số lượng ít, có một số đặc quyền cũng như
hạn chế, đó là được trả cổ tức cố định, song không có quyền bỏ phiếu.
Hầu hết các nước trên thế giới sử dụng công cụ giới hạn phát hành
để kiểm soát hạn chế rủi ro cho công chúng. Đây là một văn bản pháp lý
quy định những điều kiện để được phát hành cổ phiếu tăng vốn, đặc biệt
cũng có thể quy định lượng cổ phiếu được phép phát hành trong một thời
kỳ nhất định.
Doanh nghiệp cũng có một biện pháp hạn chế rủi ro của việc phát
hành cổ phiếu, đó là sử dụng cổ phiếu ngân quỹ. Cổ phiếu trong ngân quỹ
được mua bán khi doanh nghiệp muốn đầu tư tài chính ngắn hạn, ổn định
thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp, trong trường hợp thị trường chứng
khoán khủng hoảng hay điều chỉnh, hay trong trường hợp có sát nhập
thôn tính giữa các doanh nghiệp.
Nếu thị trường tài chính an toàn, doanh nghiệp hoạt động tốt, thì phát
hành thêm cổ phiếu là một lựa chọn tốt. Đây là nguồn vốn trung và dài hạn
với chi phí phụ thuộc tình hình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không
bị sức ép trả nợ và lãi vay.
Nhưng, nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu có một số hạn chế. Hạn chế
đầu tiên đó là phát hành thêm cổ phiếu gây ảnh hưởng quyền sở hữu
doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể bị giảm quyền kiểm soát, thậm chí bị
thôn tính. Hạn chế thứ hai đó là việc chi trả cổ tức dựa trên lợi nhuận sau
thuế, còn chi phí lãi vay được tính trước khi tính thuế. Doanh nghiệp phải
nộp thuế nhiều hơn so với đi vay trong trường hợp hoạt động hiệu quả.
Nguồn thứ hai là vốn vay, vay từ nhiều nguồn khác nhau, tựu chung
lại có 4 loại chính : tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng thuê

dụng thương mại là một phương thức tài trợ khá rẻ, tiện dụng và linh hoạt.
Bởi trên thực tế, có rất ít doanh nghiệp có thể lập tức trả tiền mua hàng.
Như vậy, bằng tín dụng thuê mua, doanh nghiệp có thể mở rộng quan hệ
với bạn hàng một cách chặt chẽ, tin cậy lẫn nhau. Chi phí của khoản vay
này thường thấp, trong ngắn hạn, và được tính vào giá thành.
Loại tín dụng này cũng có một nhược điểm cần chú ý. Đó là khi quy
mô tài trợ của loại tín dụng này chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn vốn, đó là khi
mức độ rủi ro đã lên tới mức khó kiểm soát. Do vậy khi doanh nghiệp sử
dụng nguồn này, doanh nghiệp cần chú ý vấn đề cơ cấu nguồn vốn cho
hợp lý, đảm bảo quản lý tốt rủi ro.
Loại thứ ba trong các hình thức vay nợ của doanh nghiệp, đó là tín
dụng thuê mua. Các công ty tài chính cung cấp dịch vụ thuê mua như một
kênh cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp tạo vốn bằng việc
thuê mua các thiết bị, cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi doanh nghiệp khó khăn về tài chính, doanh nghiệp có thể bán lại
tài sản, rồi sau đó thuê tài sản đó, hết hạn hợp đồng có thể mua lại hoặc
không.
Loại tín dụng này có ưu điểm là mang lại một kênh huy động vốn,
cung cấp cho doanh nghiệp nhiều công cụ hơn. Trong nền kinh tế chưa
phát triển, công cụ này dễ thực hiện hơn, khá linh hoạt. Nó thích hợp với
các doanh nghiệp nhỏ khó thu hút vốn, không cần tài sản bảo lãnh, không
làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp. Nhược điểm của loại tín dụng này
cũng giống tín dụng thương mại, và tín dụng ngân hàng. Sức ép trả phí
thuê, thường là rất đắt, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận doanh nghiệp
Loại tín dụng cuối cùng, còn khá mới mẻ, đó là vay bằng phát hành
trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu doanh nghiệp.
Trái phiếu là một phiếu vay nợ dài hạn thường với một lãi suất cố
định (trừ trái phiếu biến đổi), rất phù hợp khi doanh nghiệp muốn huy động
vốn dài hạn, có kế hoạch chi tiết kinh doanh và trả nợ. Tín phiếu ít sử dụng
hơn, là phiếu vay nợ ngắn hạn.

hưởng lớn đến khả năng huy động và cái giá phải trả cho nguồn vốn huy
động được.
Vấn đề thứ hai đó là ngành nghề kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có khả năng thu hút vốn từ dân cư, hay
sẽ vay tín dụng từ ngân hàng, đây là sự lựa chọn dựa trên những đặc
trưng cơ bản của doanh nghiệp.
Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp cũng là một yếu tố cần
xét đến. Nếu như doanh nghiệp nhỏ, chỉ là một doanh nghiệp tư nhân, thì
tất nhiên nguồn vốn từ dân cư sẽ không hề được quan tâm, mà quan hệ
với các ngân hàng sẽ được đặt lên hàng đầu...
Doanh nghiệp phát triển như thế nào, phụ thuộc phần lớn vào trình độ
khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý. Do vậy, đây cũng là yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng thu hút vốn của doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư trong tương lai cũng sẽ
ânh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu cũng như đánh giá của các ngân
hàng thương mại, qua đó quyết định nguồn tài trợ cho những dự án đó.
Thái độ của chủ doanh nghiệp cũng như khuynh hướng của nhà quản
lý tham gia vào những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề lựa chọn nguồn vốn
cần huy động.
Các nhân tố khác thuộc phạm vi môi trường kinh doanh như chính
sách thuế, tâm lý người dân... cũng tác động không nhỏ tới định hướng
của doanh nghiệp.
Phần II
Thực trạng các hình thức huy động vốn
ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
1. Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu ở các DN VN hiện nay
1.1. Vốn góp ban đầu
Hiện hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ và vừa.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thì có tới 96,81% số doanh nghiệp
nước ta thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó xét về vốn chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status