Lạm phát ở Việt Nam hiện nay Nguyên nhân và giải pháp khắc phục - Pdf 11

§Ò ¸n chuyªn ngµnh
MỞ ĐẦU
Ở nước ta hiện nay, chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,
cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển nền kinh tế xã hội, nâng cao
đời sống nhân dân. Tuy nhiên, lạm phát và tăng trưởng kinh tế luôn là bài toán khó
đối với tất cả các quốc gia. Việt Nam đã gia nhập WTO nên thị trường trong nước
diễn biến theo sát thị trường quốc tế. Thời gian qua thị trường thế giới tiếp tục có
những biến động phức tạp khó lường trước. Vì vậy Việt Nam cần tôn trọng quy luật
khách quan của nền kinh tế thị trường, Chính phủ không nên làm thay thị trường. Đặc
biệt là không nên sử dụng các biện pháp có tính bao cấp từ nguồn ngân sách nhà nước
như: cấp bù lỗ, cấp bù lãi suất, khoanh nợ, ... Cơ chế bao cấp qua giá một số mặt hàng
có tính theo sát thị trường thế giới sẽ làm méo mó giá cả trong nước, tạo điều kiện
cho tình trạng xuất lậu qua biên giới, tác động tiêu cực đến ngân sách quốc gia, gây
tiềm ẩn nguy cơ lạm phát. Năm 2008 vừa qua đã chứng minh điều đó. Lạm phát như
là một hiện tượng của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi
hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt kết quả khả quan.
Lạm phát ảnh hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến mọi mặt của đời sống xã
hội, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động. Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ
cuối thế kỷ 19 đến nay, ở nước ta lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài. Lạm phát
đã phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan hệ
trọng nền kinh tế xã hội. Và đặc biệt là thời gian gần đây, từ cuối năm 2007, nhất là
năm 2008 lạm phát đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta một cách sâu sắc.
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, đặc biệt thấy được tầm
quan trọng của lạm phát, em tìm hiểu và viết đề tài : “ Lạm phát ở Việt Nam hiện
nay: Nguyên nhân và giải pháp khắc phục”.
SV: Hoµng ThÞ ¸nh TuyÕt. MSV: BH173166
1
§Ò ¸n chuyªn ngµnh
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1. Khái niệm và phân loại lạm phát:
1.1. Khái niệm về lạm phát:

d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
1.2. Phân loại lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10%/1 năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ
này, nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của lao động ổn định. Sự ổn định
đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra với
tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn….
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo nên tâm lý an tâm cho người lao động chỉ
trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu nhập
ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
- Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với cả tỷ lệ
2 hoặc 3 con số một năm ở mức phi mã. Lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên
nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này
người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở
mức lãi suất bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến
dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa
lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng
nhanh, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất
giá nhanh chóng thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và
hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi
xảy ra.
Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng: Lạm phát ở các nước đang phát triển thường
diễn ra trong một thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó thường phức tạp và trầm trọng
hơn. Các nhà kinh tế học đã chia lạm phát thành 03 loại.
SV: Hoµng ThÞ ¸nh TuyÕt. MSV: BH173166
3
§Ò ¸n chuyªn ngµnh
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50%/năm; lạm
phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%/năm; siêu

tiêu công cộng sẽ dẫn tới lạm phát nghiêm trọng
Ví dụ:
Năm 1966 – 1967 Chính phủ Mỹ đã sử dụng tăng tiền để trả cho những chi phí
leo thang trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Lạm phát tăng từ 3% (năm 1967) đến
6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cân bằng,
nghĩa là (i) và (y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi.
Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên một tỷ lệ tương
ứng. Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây là lý do tại sao ngân hàng Trung
ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.
2.2. Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát do cầu kéo):
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về hàng
hoá, dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phi
tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm. Nếu cầu về
hàng hoá vượt mức cung xong sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dụng
máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được
gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát do cẩu tăng lên
hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó. Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suất máy
móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ. Sử dụng công suất
máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng.
2.3. Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy:
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm thất
nghiệp nên còn gọi là lạm phát “đình trệ”. Hình thức của lạm phát này phát sinh ra từ
phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng. Điều
này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng
trả giá cao hơn.
Ví dụ:
SV: Hoµng ThÞ ¸nh TuyÕt. MSV: BH173166
5
§Ò ¸n chuyªn ngµnh

6
§Ò ¸n chuyªn ngµnh
lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải in
thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này
thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy nhiên, Chính phủ có thể tài trợ thâm
hụt ngân sách bằng cách vay tiền của nhân dân thông qua hình thức bán tín phiếu, trái
phiếu. Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nếu
thâm hụt ngân sách tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc và lãi) sẽ lớn đến
mức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn.
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế,
chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý. Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí đầu
vào, nguyên nhân do nước ngoài.
3. Những tác động của lạm phát:
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhau
đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế mà lạm phát
được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác động của nó.
* Đối với lĩnh vực sản xuất:
Đối với lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra
biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự mất giá
của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh-
sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra xáo động về kinh tế. Nếu một
doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản
lớn.
* Đối với lĩnh vực lưu thông:
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá. Các
doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao.
Do có nhiều người tham gia vào lĩnh vực này trở nên hỗn loạn. Tiền ở trong tay
những người vừa mới bán xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ
lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.
SV: Hoµng ThÞ ¸nh TuyÕt. MSV: BH173166

8
§Ò ¸n chuyªn ngµnh
nuôi mấy chục vạn quân nhân, bán Đông Dương làm chiếc cầu an toàn đánh Đông
Nam Á. Hậu quả nặng nề của lạm phát nhân dân Việt Nam phải chịu giá sinh hoạt từ
1939-1945 bình quân cao hơn 25 lần.
Thời kỳ 1946 – 1954: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay đồng Đông Dương
và sau đó là đồng ngân hàng để huy động sức người, sức của toàn dân tiến hành cuộc
kháng chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lược Pháp.
Thời kỳ 1955 – 1965: Chính phủ tay sai Mỹ kế tiếp nhau ở Miền Nam Việt
Nam liên tục lạm phát đồng tiền Miền Nam để bù đắp lại cuộc chiến tranh chống lại
phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Mặc dù được Chính phủ Mỹ đổ tiền của
vào với khối lượng viện trợ khổng lồ, giá trị hàng trăm tỷ USD cũng không thể bù
đắp nổi chi phí. Thời kỳ Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đã lạm phát lên gấp 5 lần với
hàng trăm tỷ đồng tiền lưu thông ở Miền Nam năm 1975. Năm 1969 lên tới 600 triệu
đồng, giá sinh hoạt tăng hàng trăm lần so với năm 1965.
Thời kỳ 1965 – 1975:
Ở miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải tiến hành
một cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Chống chiến tranh phá hoại của Mỹ tại
miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đã phát hành số tiền lớn gấp 3
lần tiền lưu thông của năm 1965 ở miền Bắc). Nhưng nhờ có sự viện trợ to lớn và có
hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em đã hạn chế được lạm
phát trong thời gian này.
Thời kỳ 1976 đến nay:
Sau khi thống nhất đất nước, chúng ta thiếu kinh nghiệm trong thời bình nên
duy trù quá lâu cơ chế thời chiến tập trung quan liêu bao cấp toàn diện, không mở
rộng sản xuất kinh doanh nên đã tự gây cho mình nhiều khó khăn, sản xuất không đủ
tiêu dùng, ngân sách không đủ chỉ tiêu, lạm phát tiền giấy liên tục và bùng nổ dữ dội
tới 3 con số. Nhưng mấy năm gần đây, mức độ lạm phát chỉ ở mức trên dưới 10%, có
thể nói đây cũng là một thành công không nhỏ của nhà nước ta.

GDP của Việt Nam là 70 tỷ USD chỉ tương đương với 1% GDP của khu vực này trừ
Nhật Bản. Vì vậy, Chính phủ đã đưa ra tám giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế lạm
phát, trong đó quan trọng nhất là đình hoãn các công trình chưa thật cần thiết, cắt
SV: Hoµng ThÞ ¸nh TuyÕt. MSV: BH173166
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status