Lạm phát ở Việt Nam hiện nay Nguyên nhân và giải pháp - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã đi qua hơn 20 năm đổi mới một cách ấn tượng với những
thành tựu quan trọng. Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, Việt
Nam đã chuyển từng bước chắc chắn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Việt Nam cũng đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế để tự tin
bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã khẳng định
mức độ tiến bộ mà chúng ta đạt được trong hơn 20 năm qua.
Đến nay, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp và đang
nỗ lực theo đuổi mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Làm thế
nào để chúng ta có thể đạt được mục tiêu này trong hơn 10 năm nữa, khi mà
kinh tế vĩ mô của chúng ta trở nên bất ổn, sự ổn định của nền kinh tế đang trở
nên rất mong manh? Lạm phát đang đã có dấu hiệu quay trở lại từ năm 2004 và
tăng tốc từ giữa năm 2007. Thêm vào đó, tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ thế giới, khởi đầu từ Mỹ, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam chao
đảo mạnh hơn. Từ chỗ phải trải qua tình trạng lạm phát bùng lên dữ dội và cối
năm 2007 đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một tình huống
rất khó khăn: lạm phát có nhiều nguy cơ quay trở lại, song chúng ta lại mong
muốn tăng tốc độ để đạt mục tiêu của năm 2020 và mục tiêu phát triển trong
tương lai xa hơn nữa.
Vấn đề đặt ra là nguyên nhân nào gây ra tình trạng lạm phát và bất ổn
kinh tê vĩ mô ở Việt Nam hiện nay? Ngoài tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ toàn cầu còn có những nguyên nhân nào khác nữa? Làm thế nào
để tăng trưởng cao và vững chắc trong dài hạn? … Thực tế đó đang đặt ra yêu
cầu cần phải có những nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về những nguyên nhân gây
ra lạm phát và những bất ổn kinh tế vĩ mô. Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa lý
1
luận, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài: "Lạm phát ở Việt Nam hiện nay:
Nguyên nhân và giải pháp” trong bối cảnh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

chớnh sỏch v n nh th trng ti chớnh Vit Nam sau mt nm gia nhp WTO,
Tp chớ Phỏt trin kinh t s 360, thỏng 5/2008.
Th hai, cỏc tỏc gi trc tip bn v cỏc gii phỏp ct gim lm phỏt
Vit Nam hin nay bng cỏc cụng c chớnh sỏch ti chớnh - tin t.
Cỏc cụng trỡnh thuc nhúm ny cú rt nhiu. Tiờu biu trong s ú cú mt
s cụng trỡnh in hỡnh:
- Lờ Hựng, (2006), Gii phỏp hon thin v phỏt trin nghip v th
trng m, Nghiờn cu kinh t s 340 thỏng 9/2006.
- Nguyn i Lai, (2008), Chng lm phỏt t phớa ngõn hng, Thi bỏo
kinh t Vit Nam, kinh t 2007 - 2008, Vit Nam v th gii.
- Lờ Xuõn Ngha, (2008), Vn dng cụng c lói sut Vit Nam trong
giai on hin nay, Tp chớ phỏt trin kinh t thỏng 4/2008.
- Lờ Quc Lý, (2005), Chớnh sỏch tin t v lm phỏt: Cn cú l trỡnh kiờn
quyt v nht quỏn, Tp chớ Ti chớnh 3/2008.
- Nguyn c Hng, (2008), iu hnh chớnh sỏch tin t nm 2007, Thi
bỏo Kinh t Vit Nam, kinh t 2007 - 2008 Vit Nam v th gii.
- Cao C Bụi, (2008), Lm phỏt v chng lm phỏt nhỡn t gúc iu
hnh chớnh sỏch tin t, Tp chớ Phỏt trin kinh t 4/2008.
- V Thanh T Anh, (2008), Gim thõm ht ngõn sỏch khụi phc s n
nh v mụ, Tp chớ Ti chớnh 6/2008.
- Nguyễn Đại Lai (2009), Bình luận và dự báo về các động thái tài chính
Việt Nam sau các quyết định mới nhất của Ngân hàng Nhà nớc, Tạp chí Ngân
hàng số 29 tháng 12/2009
Th ba, cỏc tỏc gi i vo nghiờn cu c s lý thuyt v thc tin ca
chớnh sỏch mc tiờu lm phỏt, khuyn ngh vn dng chớnh sỏch ú Vit Nam
nhm t c t l lm phỏt ti u trong trung hn v di hn.
3
Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này có thể kể tới là:
- Học viện Ngân hàng, (2005), Chính sách mục tiêu lạm phát cho Việt
Nam (gồm 14 bài viết về vấn đề này), kỷ yếu hội thảo khoa học ngân hàng, Học

nhân lạm phát do yếu tố tiền tệ, như một số tác giả đã được nêu ở hướng nghiên
cứu thứ nhất, mà họ còn đề cập tới các nguyên nhân khác gây ra lạm phát ở Việt
Nam hiện nay. Đó là lạm phát do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát do
yếu tố tâm lý, lạm phát do việc chuyển đổi cơ chế quản lý giá đối với một số mặt
hàng thiết yếu (xăng dầu, điện,…), lạm phát do ảnh hưởng của quá trình hội
nhập. Đặc biệt, lạm phát do nguyên nhân từ sự yếu kém trong quản lý - điều
hành kinh tế vĩ mô của chính phủ đã được nhiều tác giả phân tích.
Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp khắc phục lạm phát
như thực hiện việc thắt chặt tiền tệ và tài chính để cắt giảm tổng cầu, trợ giá đối
với một số mặt hàng là đầu vào sản xuất, các giải pháp giảm nhập siêu, thực
hiện cơ chế giá thị trường của một số mặt hàng thiết yếu, do Nhà nước quản lý,
theo một lộ trình thích hợp,…
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến những công trình sau:
- Văn phòng Trung ương - Vụ Kinh tế, (2008), Những vấn đề kinh tế - xã
hội nổi lên trong thời gian gần đây và giải pháp khắc phục, Kỷ yếu hội thảo tháng
3/2008.
- Nguyễn Thị Hường, (2008), Bàn thêm về nguyên nhân gây ra lạm phát ở
Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 9 tháng 5/2009.
- Trần Hoàng Ngân và Võ Thị Tuyết Anh, (2008), Lạm phát, nguyên nhân
và giải pháp, Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 4/2008.
- Trương Thị Hồng, (2008), Lạm phát nên kiểm soát bằng nhiều cách, Tạp
chí Phát triển kinh tế tháng 4/2008.
- Ngô Trí Long, (2008), Đồng tâm, hiệp lực chống lạm phát, Tạp chí Tài
chính 4/2008.
5
- Hoàng Ngọc Hoà, (2008), Những giải pháp kinh tế vĩ mô của
chính sách tài chính - tiền tệ - giá cả góp phần khắc phục lạm phát cao, đảm bảo
phát triển kinh tế bền vững, Tạp chí Ngân hàng số 7 tháng 4/2008.
- Nguyễn Ngọc Tuyến, (2008), Bình ổn giá nhìn từ các quan hệ kinh tế vĩ
mô, Tạp chí Tài chính tháng 3/2008.

nhõn gõy ra lm phỏt Vit Nam t 2004 n nay v xut gii phỏp khc
phc lm phỏt cho thi k mi.
5. Phng phỏp nghiờn cu
Đề tài sử dụng phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng để
phân tích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu.
Bên cạnh đó, đề tài sử dụng các phơng pháp cụ thể nh phân tích, so sánh,
tổng hợp, thống kê, mô hình hoá và phơng pháp chuyên gia.
6. Kt cu ca ti:
Ngoi phn m u v kt lun ti c kt cu thnh 3 phn 7 tit,
c trỡnh by trong 169 trang.
7
PHẦN I
LẠM PHÁT VÀ CHỐNG LẠM PHÁT –
LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1.1.1. Khái niệm, cách đo lường và phân loại lạm phát
* Khái niệm lạm phát
Có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, về cơ bản có thể thấy có ba
khái niệm sau:
Thứ nhất, lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền
kinh tế và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát là yếu tố tiền tệ. Đây là khái
niệm lạm phát do các nhà kinh tế học trường phái cổ điển và tân cổ điển đưa ra.
Đại diện tiêu biểu của nhóm này là nhà kinh tế học Milton Friedman.
Thứ hai, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của nền kinh tế và nguyên
nhân của lạm phát không chỉ do yếu tố tiền tệ mà còn bao gồm cả những nguyên
nhân khác như sự biến động giá cả của nguyên liệu đầu vào quan trọng như giá
năng lượng, vật liệu. Khái niệm này là của các nhà kinh tế học hiện đại - đại
diện tiêu biểu là nhà kinh tế học Paul. A. Samuelson. Với khái niệm này, Paul.
A. Samuelson không đề cập trực tiếp đến sự tăng lên liên tục của mức giá chung
như các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ. Tuy nhiên, khi nói đến lạm phát ông

mức giá chung, các nhà thống kê thường sử dụng chỉ số giá cả.

Chỉ số giá cả: (Price Index – PI) là thước đo mức giá chung tại thời
điểm hiện tại (nếu coi thời điểm cần so sánh là 100 đơn vị). Các chỉ số giá cả
thường được sử dụng là: chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI); Chỉ
số điều chỉnh GDP (Deputation Gross Domestic Index – D); Chỉ số giá cả sản
xuất (Producer Price Index – PPI); Chỉ số bán buôn (Whole Sale Price Index –
WPI); Chỉ số giá bán lẻ (Rerail Price Index – RPI) và

Tỷ lệ lạm phát (Inflation rate – П) là thước đo phần trăm thay đổi của
chỉ số giá tại một thời điểm so với thời điểm khác (làm gốc).
9
- Phương pháp đo lường các chỉ số lạm phát
Ở hầu hết các quốc gia và Việt Nam (từ năm 1998 đến nay) thường sử
dụng 3 chỉ số quan trọng nhất đó là CPI, D và П để đo lường lạm phát.
a. Cách tính hệ số điều chỉnh GDP – D
Chỉ số điều chỉnh GDP là tỷ lệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế
GDP danh ngh
D %
GDP th
= ∗
Üa
100
ùc tÕ
GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hiện tại tính theo giá hiện hành
GDP thực là giá trị sản lượng tính theo giá của năm gốc. Vì vậy, D có thể
được hiểu như là mức giá của tất cả các thành phần của GDP bao gồm của tiêu
dùng đầu tư (I), mua sắm chính (G) và hàng hóa xuất khẩu.
b. Chỉ số tiêu dùng CPI
CPI là chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường lạm phát. CPI đo

490 mặt hàng năm 2005.
Từ 10/2009 số lượng nhóm hàng tăng từ 10 lên 11; số lượng mặt hàng sẽ
tăng thêm 82, từ 490 – 572 mặt hàng. Quyền số của các nhóm hàng để tính CPI
ở Việt Nam cũng thay đổi dựa trên kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê.
Chẳng hạn, quyền số của nhóm lương thực, thực phẩm giảm khoảng 12,98% từ
mức 60,86% tháng 5/1997 xuống còn 47,90% năm 1999 và tiếp tục giảm còn
42,7% năm 2005.
- Bước 2: Chọn thời điểm chỉ số giá 100% sau đó tính chỉ số giá tiêu dùng
cho thời điểm tính toán. Ví dụ, giả sử ở Hoa Kỳ với các thông số đã chọn như trên
nếu chọn năm 1995 làm năm gốc thì chỉ số giá năm đó là 100%, có nghĩa là:
CPI
1995
= 100 = [(0,20 x 100) + (0,50 x 100) + (0,30 x 100)]
Năm 1996 giá thực phẩm tăng thêm 2% đạt 102%; giá nhà cửa tăng 6%
đạt 106%; giá dịch vụ y tế tăng 10% đạt 110%:
CPI
1996
= 0,20 x 102 + 0,50 x 106 + 0,30 x 110 = 106,4
Nói cách khác, nếu lấy năm 1995 làm gốc (CPI = 100) thì CPI của Hoa
Kỳ năm 1996 là 106,4.
Chỉ số CPI ở Việt Nam từ 1998-2007 được tính cho hàng tháng so với
các gốc so sánh: Cùng tháng năm trước, tháng 12 năm trước, tháng trước. Từ
9/2007 ngoài các gốc trên Tổng cục Thống kê còn tính CPI bình quân từ đầu
11
năm đến kỳ báo cáo so với cùng kỳ năm trước. Do đó, có sự khác nhau giữa các
chỉ số lạm phát theo các cách tính ở trên. Chẳng hạn, nếu tính CPI theo phương
pháp so sánh với tháng trước đó sau đó cộng dồn chỉ số lạm phát của các tháng
để tính lạm phát của cả năm thì năm 2007 chỉ số CPI của Việt Nam là 12,63%
trong khi tính theo phương pháp bình quân thì chỉ số đó chỉ là 8.13%.
Cách tính thứ nhất có ưu điểm là dễ nhận thấy những biến động của từng

tế và cần phải loại bỏ lạm phát giá cả ra khỏi chỉ số lạm phát.
Trên thực tế, giá trị đo bằng tiền của hàng hóa thay đổi có thể do hai
nguyên nhân chủ yếu, một là, do lượng tiền tăng nhanh hơn so với mức tăng của
cung hàng hóa thì sẽ gây ra lạm phát tiền tệ; hai là, lượng cung hàng hóa giảm
sút do các yếu tố khác nhau như thiên tai, độc quyền… gây ra lạm phát giá cả.
Do đó, không thể loại bỏ lạm phát giá cả khi đo lường chỉ số lạm phát.
Tuy nhiên, để làm cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ một số
nước đã loại bỏ ra khỏi rổ hàng hóa tính CPI các mặt hàng như lương thực, thực
phẩm, năng lượng (là những mặt hàng có giá cả biến động do thiên tai, độc
quyền mang tính chất tạm thời). Khi đó, chỉ số lạm phát được gọi là chỉ số lạm
phát cơ bản (core inflation). Bởi vì, họ cho rằng dùng công cụ tiền tệ, chẳng hạn
như nâng lãi suất không thể làm cho giá xăng thế giới giảm xuống. Nhiều
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy rằng, các nước có cách tính lạm phát
không hoàn toàn giống nhau, không phải nước nào cũng loại nhiều hàng hóa nói
trên ra khỏi rỏ hàng hóa khi tính CPI.
Đối với Việt Nam không thể và không cần thiết phải loại bỏ những mặt
hàng lương thực, thực phẩm, năng lượng ra khỏi rổ hàng hóa để tính CPI bởi hai
lý do, một là, các mặt hàng lương thực, thực phẩm còn chiếm một tỷ trọng rất
lớn trong cơ cấu tiêu dùng của người dân nước ta; hai là, sự biến động của
những mặt hàng trên trong điều kiện hiện nay không chỉ mang tính chất tạm thời
mà đã trở thành xu hướng dài hạn do các nguồn cung ngày càng hạn chế (giới
hạn bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên). Nhưng, điều đáng lưu ý ở đây là, các
13
giải pháp khắc phục lạm phát cần căn cứ vào nguyên nhân của nó để "chữa trị
đúng thuốc, đúng bệnh", ngoài nguyên nhân do tiền tệ, chính sách tiền tệ chỉ sử
dụng để cứu nền kinh tế ở những thời điểm cực kỳ cần thiết khi lạm phát đang
có nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô.
Cách tính tỷ lệ lạm phát:
t t
t

,
% , %
106 4 100
100 6 4
100

Π = ∗ =
* Phân loại lạm phát
Có rất nhiều cách phân loại lạm phát và trong mỗi cách lại có nhiều cách
phân chia khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu. Sau đây là một số cách phân
loại cơ bản:
- Căn cứ vào mức độ (tỷ lệ) lạm phát chia thành 3 cấp độ cơ bản:
• Lạm phát vừa phải: đặc trưng của cấp độ này là giá cả tăng chậm và có
thể dự đoán được, tỷ lệ lạm phát hàng năm một chữ số (< 10%/năm).
• Lạm phát phi mã: tỷ lệ lạm phát hai chữ số hoặc và > 50%/năm).
• Siêu lạm phát: Lạm phát từ ba chữ số trở lên/năm. Lạm phát đã từng xảy
ra của Đức sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ lạm phát lên đến trên 10 chữ
số (năm 1924 là 10.000.000.000); Việt Nam năm 1986 (774,76%/năm) .
Ngoài ra cũng theo cách phân loại trên còn có một số tác giả chia lạm
phát thành 6 cấp độ: lạm phát ỳ (dưới 3%/năm), lạm phát nhẹ (dưới 8%/năm);
lạm phát vừa phải (8 – 12%/năm); lạm phát cao (hai con số và < 50%/năm); lạm
14
phát phi mã (2 con số và > 50%/năm) và siêu lạm phát (từ ba chữ số trở
lên/năm).
- Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát, có các loại lạm phát sau đây:
+ Lạm phát do cầu kéo
+ Lạm phát chi phí đẩy
+ Lạm phát tiền tệ
+ Lạm phát kỳ vọng
+ Lạm phát cơ cấu

do lãi suất tăng và do doanh nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh thực đơn…
góp thêm một nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp,
giảm sản lượng, thu nhập của nền kinh tế.
Thứ hai, lạm phát cao gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Khi đầu tư giảm sút do lạm phát gây ra như đã phân tích ở trên doanh
nghiệp sẽ phải sa thải công nhân, làm cho tình trạng thất nghiệp tăng lên, thu
nhập của người lao động bị giảm sút. Đồng thời, lạm phát cao còn làm giảm lợi
tức và tăng thêm chi phí cho người gửi tiết kiệm.
Lạm phát bất ngờ tăng cao, gây mất công bằng xã hội, người cho vay bị
thiệt và người đi vay được lợi.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam tác động của lạm phát còn
làm sâu sắc hơn chênh lệch giàu nghèo trong đó người nghèo bị thiệt hại nhiều
nhất.
Công trình nghiên cứu "lạm phát đối với các nhóm dân cư" do Từ Thúy
Anh và Đào Nguyên Thắng thực hiện, đã cho kết quả định lượng về mức độ ảnh
hưởng của lạm phát đối với các nhóm dân cư ở thành thị và nông thôn: lạm phát
có ảnh hưởng tiêu cực ở mức độ cao hơn đối với khu vực nông thôn so với khu
vực thành thị trong tất cả các tháng từ tháng 1 – 12/2006. Đồng thời, nghiên cứu
này cũng chỉ ra rằng, kết quả tác động của lạm phát đối với nhóm 10% dân cư
nghèo nhất cao hơn so với 10% dân số giàu nhất (24,45% so với 17,61%)
1
.
Thứ ba, trường hợp xẩy ra lạm phát phi mã và siêu lạm phát có thể dẫn
đến khủng hoảng kinh tế - xã hội.
1
Tạp chí Tài chính số 10/2008; tr. 38
16
Khi lạm phát tấn công vào nền kinh tế, sẽ làm mất niềm tin của người
dân, dân chúng ồ ạt rút tiền ở ngân hàng làm cho hệ thống ngân hàng có thể bị
lung lay, nhiều ngân hàng có khả năng bị phá sản.

lượng do sự thay đổi giữa mức giá
thực tế và mức giá dự kiến.
17
Y
1
Y
2
Y
3
P
P
P
P
e
Y Y (P P )
α
= + −
Biểu đồ 1.1. Quan hệ giữa sản
lượng và mức giá
- Khi sản lượng thấp hơn sản lượng tiềm năng
Y
một sự tăng lên trong
mức giá dự kiến từ P
1
→ P
2
sẽ làm cho sản lượng tăng lên từ Y
1
→ Y
2

e
: tỷ lệ lạm phát dự kiến; U: tỷ lệ thất
nghiệp thực tế; U
n
: tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên; β: độ co giãn mức chênh lệch giữa
thất nghiệp thực tế và thất nghiệp tự nhiên.
Khi nền kinh tế ở điểm A tỷ lệ lạm
phát П
1
> П
2
tỷ lệ thất nghiệp U
1
< U
2

Ngược lại, khi nền kinh tế ở điểm
B, tỷ lệ lạm phát П
2
< П
1
tỷ lệ thất nghiệp
U
2
> U
1
.
1
Nguyễn Văn Công (2005), Tạp chí kinh tế phát triển số 3/2005 và Bùi Duy Phú (2007), Tạp chí Ngân hàng số
12/2007.

tăng trưởng việc làm cũng tăng. Năm 2001, tỷ lệ lạm phát 0,8% tốc độ tăng
trưởng việc làm đạt 6,95%, năm 2002-2003 tỷ lệ lạm phát tăng, tốc độ tăng
trưởng việc làm tiếp tục tăng đạt 2,5 – 2,6%/năm. Tuy nhiên, từ năm 2004 lạm
phát bắt đầu tăng cao thì tốc độ tăng trưởng việc làm có xu hướng giảm xuống
(năm 2005 chỉ còn 2,3%)
1
. Như vậy, cả về lý thuyết và thực tiễn Việt Nam đều
khẳng định, quan hệ đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp (việc làm) chỉ tồn tại
trong ngắn hạn, chỉ ở điều kiện khi tỷ lệ lạm phát còn ở mức thấp.
1.1.2.2. Tác động của thiểu phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Ngược lại với lạm phát, thiểu phát xẩy ra khi mức giá chung của nền kinh
tế liên tục giảm sút. Quan niệm về thiểu phát, hiện có nhiều ý kiến khác nhau.
Có người cho rằng khi tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4% được gọi là thiểu phát. Tuy
nhiên, đối với các nền kinh tế phát triển (Đức, Nhật Bản) tỷ lệ lạm phát 3-4%
được coi là hoàn toàn bình thường. Khi nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát âm thì tất
cả các nhà kinh tế đều thống nhất đó là hiện tượng thiểu phát.
Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiểu phát:
- Do tổng cầu quá thấp dẫn đến giá cả thấp. Các nhà kinh tế thường gọi là
nền kinh tế rơi vào trạng thái quá lạnh.
1
Nguyễn Thị Hường (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc làm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
ở Việt Nam, Tổng quan đề tài cấp cơ sở, Viện Kinh tế phát triển, Học viện CT-HCQG HỒ CHÍ MINH, tr.66.
19
- Do chính phủ áp dụng các giải pháp chống lạm phát quá liều, chẳng hạn
như chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa quá mức.
- Do sử dụng các biện pháp ngăn ngừa lạm phát quá cứng nhắc như trực
tiếp kiểm soát giá của một số mặt hàng.
Tác động của thiểu phát đối với phát triển kinh tế - xã hội có thể sẽ hết
sức nghiêm trọng nếu không có những biện pháp kịp thời để khắc phục.
Thông thường tác động tiêu cực của thiểu phát đối với kinh tế - xã hội

vốn thấp, các ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng đình trệ. Mặt khác, khi đó
thâm hụt ngân sách có rất nhiều khả năng tăng cao do nguồn thu bị giảm trong
khi nhu cầu chi tiêu để khắc phục giảm phát lại tăng thêm.
Vì những tác động tiêu cực trên đây của thiểu phát nên chính phủ của các
nước luôn luôn tìm cách để ngăn ngừa và khắc phục nó.
Để chống thiểu phát thường áp dụng các giải pháp ngược chiều với chống
lạm phát.
Một là, thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng. Đó là giảm lãi
suất, tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế để kích thích tổng cầu (đầu tư, tiêu
dùng địa phương và hộ gia đình, mở rộng xuất khẩu. Đây là giải pháp mà nhiều
nước đang sử dụng, nhất là Nhật bản đã thực hiện trong nhiều năm nay. Nhưng
mức độ thành công cũng hết sức khác nhau (chẳng hạn như Nhật Bản được xem
là kém thành công) trong chính sách chống thiểu phát.
Hai là, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế để chuyển các lĩnh vực có năng
lực dư thừa sang các lĩnh vực khác, nhất là các lĩnh vực mới có nhiều tiềm năng
phát triển.
Về lý thuyết, các giải pháp chống thiểu phát không quá khó, nhưng phức
tạp, bởi vì rất dễ xẩy ra nguy cơ của sự "đổi chiều" giảm phát thành lạm phát.
Kinh nghiệm về chống thiểu phát chưa nhiều vì trên thực tế hiện tượng
thiểu phát xẩy ra chưa phổ biến, nhất là đối với các nước đang phát triển.
21
1.2. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT
1.2.1. Nguyên nhân lạm phát do tổng cầu tăng mạnh (lạm phát cầu
kéo) và giải pháp khắc phục
Khi tổng cầu tăng mạnh có thể làm cho sản lượng thực tế vượt quá mức
sản lượng tiềm năng của một nước, làm cho giá cả tăng lên để cân bằng tổng
cung và tổng cầu (xem hình 1.1.)
Biểu đồ 1.3. Lạm phát do tổng cầu tăng mạnh
Y
P

tới tổng cầu của nền kinh tế.
Tiêu dùng của hộ gia đình do thu nhập khả dụng hiện tại tăng.
Thu nhập khả dụng hiện tại tăng có thể do chính sách giảm thuế của
Chính phủ, chính sách tăng các khoản chi chuyển nhượng của Chính phủ tới các
22
P (giá cả)
AS
AD
2
AD
1
P
2
P
1
Y
P
Y
1
Y
2
Y (Sản lượng thực tế)
hộ gia đình và các khoản thu nhập khác mà các hộ gia đình nhận được và có thể
chi tiêu cho tiêu dùng.
Lý thuyết Keynes cho rằng, tiêu dùng của hộ gia đình tăng là do thu nhập
khả dụng hiện tại của họ tăng. Phân tích sâu hơn thu nhập khả dụng hiện tại,
Millon Friedman cho rằng thu nhập (khả dụng hiện tại) là tổng của thu nhập
thường xuyên Y
P
và thu nhập tạm thời Y

này, dân chúng sẽ giảm tiêu dùng mạnh hơn so với trường hợp Chính phủ thông
báo biện pháp tăng thuế thu nhập (chỉ là biện pháp tạm thời).
Như vậy, có thể thấy rằng, mức tiêu dùng của hộ gia đình chịu tác động
chi phối của nhiều yếu tố. Chính sách của Chính phủ làm giảm tiêu dùng của hộ
gia đình không hề đơn giản vì phải chú ý tới nhiều yếu tố, trong đó có nhiều yếu
tố Chính phủ khó có thể kiểm soát được.
(ii). Đầu tư tư nhân tăng
Đầu tư ở đây là đầu tư phát triển. Nó bao gồm đầu tư cố định vào sản xuất
kinh doanh, đầu tư vào nhà ở và đầu tư vào hàng tồn kho. Đầu tư tư nhân tăng là do
một trong ba loại đầu tư này tăng hay hai hoặc cả ba loại đầu tư này tăng.
Như vậy, để thay đổi đầu tư tư nhân, Chính phủ có thể tác động tới 3 loại
đầu tư trong đầu tư tư nhân này. Chính sách của Chính phủ cần chú ý tới những
điểm sau đây: Một là, chính sách Chính phủ có thể thay đổi đầu tư cố định vào
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tác động tới chi phí đầu tư, sản
phẩm cận biên của vốn MPK. Hai là, để điều chỉnh đầu tư vào nhà ở, chính sách
của Chính phủ có thể tác động vào giá nhà ở tương đối (
H
P
P
, đó là tỷ số giữa giá
nhà P
H
và mức giá chung). Chính sách làm tăng giá nhà tương đối sẽ làm tăng
đầu tư vào nhà ở mới và ngược lại. Ba là, chính sách của chính phủ có thể làm
thay đổi đầu tư hàng tồn kho bằng cách tác động vào lãi suất thực mà các doanh
nghiệp phải gánh chịu khi dự trữ hàng tồn kho. Bốn là, đầu cơ đầu tư của doanh
nghiệp phụ thuộc vào kỳ vọng vào sự tăng trưởng, mức độ tăng trưởng của nền
kinh tế. Chính phủ điều chỉnh đầu tư tư nhân không chỉ thông qua những quyết
định tạo môi trường đầu tư mà còn có thể tác động gián tiếp thông qua điều tiết
sản lượng nền kinh tế bằng các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

Trích đoạn Nguyờn nhõn lạm phỏt do yếu tố tiền tệ và giải phỏp khắc phục Nguyờn nhõn gõy ra lạm phỏt do sự mất cõn đối trong quan hệ tổng cung tổng cầu trong trung và dài hạn và giải phỏp khắc phục. Nguyờn nhõn lạm phỏt do mất đối trong cỏn cõn thu chi ngõn sỏch và giải phỏp khắc phục Nguyờn nhõn lạm phỏt do mất cõn đối trong cỏn cõn thương mại và giải phỏp khắc phục. Nguyờn nhõn gõy ra lạm phỏt từ những hạn chế trong quản lý giỏ cả và hệ thống phõn phối hàng hoỏ và giải phỏp khắc phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status