- 1 -
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.1. KHÁI QUÁT VỀ LẠM PHÁT
1.1.1 Các quan điểm về lạm phát
Lạm phát là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên trong các quốc
gia thực hiện chế độ lưu thông tiền giấy hiện nay. Khi nói đến lạm phát
người ta nghó ngay đến sự gia tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh
tế. Điều này đồng nghóa với việc suy giảm quá đáng trong sức mua của đồng
tiền của một quốc gia. Sức mua của một đồng tiền được đo lường bởi sự biến
đổi nghòch đảo của vật giá chung. Nếu sức mua của vật giá chung gia tăng
thì sức mua của đồng tiền giảm và ngược lại mức vật giá giảm thì sức mua
của đồng tiền tăng. Hay có thể hiểu rằng lạm phát là việc phát hành thừa
tiền giấy vào lưu thông, làm cho tiền giấy bò mất giá, giá cả hàng hoá tăng
lên, thu nhập quốc dân bò phân phối lại gây thiệt hại đến toàn bộ đời sống
kinh tế – xã hội. Vậy đâu chính là nguyên nhân của lạm phát.
Có thể giải thích nguyên nhân của lạm phát dựa trên giác độ mối quan
hệ cung cầu, tức mức giá chung tăng khi tổng cung giảm hoặc tổng cầu tăng.
Tổng cung giảm có thể là do các cú sốc bất lợi về phía cung như giá của các
yếu tố sản xuất tăng, cung lao động giảm. Tổng cầu tăng có thể là do tăng
chi tiêu của chính phủ, giảm thuế hay do tăng cung tiền. Tổng cung giảm hay
tổng cầu tăng liên tục sẽ làm cho giá cả không ngừng tăng lên và lạm phát
xảy ra.
Đa số các nhà kinh tế có cùng một quan điểm như trên về lạm phát,
nhưng tùy theo từng giai đoạn lòch sử và giác độ nghiên cứu khác nhau, giữa
họ cũng có những quan điểm khác nhau về nguyên nhân gây ra lạm phát
cũng như cách thức để chống lạm phát. Trong đó, đáng chú ý nhất là quan
điểm của các nhà kinh tế theo hai trường phái: phái trọng tiền và phái
Keynes.
1.1.1.1 Quan điểm của phái trọng tiền
Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các nhà kinh tế cổ điển (điển hình là
một số trường hợp nào đó sẽ không làm cho giá cả tăng lên.
Như vậy, với cách nhìn mới này các nhà kinh tế cũng có cùng quan
điểm với Irving Fisher khi cho rằng tăng cung tiền cũng là nguyên nhân duy
nhất gây ra lạm phát. Tuy nhiên để chống lại lạm phát, khác với I.Fisher, họ
cho rằng không phải bằng việc ngưng tăng cung tiền mà là duy trì sự phát
triển cân đối giữa tăng cung tiền và tăng trưởng kinh tế, điều này sẽ làm cho
giá cả được ổn đònh.
Một vấn đề liên quan đến biện pháp chống lạm phát này là có thể dẫn
đến suy thoái kinh tế kéo dài. Vì kết quả trước tiên của việc giảm tăng cung
tiền là sụt giảm trong tổng cầu. Tổng cầu giảm dẫn đến sản lượng giảm và
thất nghiệp gia tăng. Hơn nữa, việc giảm cung tiền sẽ làm cho lãi suất tăng
lên kéo theo đầu tư giảm. Điều này sẽ làm giảm năng suất và sản lượng của
nền kinh tế. Trong dài hạn, giảm cung tiền, sản lượng cũng giảm. Vì thế, để
duy trì sự cân đối giữa tiền và hàng hoá chống lại lạm phát đòi hỏi phải cắt
giảm cung tiền nhiều hơn, kéo theo sụt giảm sản lượng và suy thoái kinh tế
hơn nữa. Nói như vậy, không có nghóa là việc duy trì mối quan hệ cân đối
giữa tăng cung tiền và tăng trưởng là không quan trọng trong việc kiểm soát - 3 -
lạm phát, mà vấn đề là ở chỗ biện pháp chống lạm phát này có thể phải trả
giá rất cao.
1.1.1.2 Quan điểm của phái Keynes
Để khắc phục những thiếu xót của lý thuyết cổ điển khi cho rằng cung
tiền là nguyên nhân duy nhất gây ra lạm phát, John Maynard Keynes đã
phát triển một lý thuyết mới về lạm phát. Theo đó, Keynes cho rằng nguyên
nhân chủ yếu gây ra lạm phát là do việc tăng nhu cầu quá mức, vượt quá
khả năng cung ứng của nền kinh tế, tức vượt quá mức sản lượng tiềm năng
(là mức sản lượng đạt tới mức toàn dụng nhân công). Sở dó như vậy là vì, khi
nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng, các doanh nghiệp thường không tăng
- 4 -
Để lý giải cho trường hợp trên, Keynes và các nhà kinh tế vó mô theo
trường phái Keynes cho rằng phía cung cũng quan trọng trong việc gây ra
lạm phát. Khi có những cú sốc về phía cung như khủng hoảng dầu lửa, đình
công đòi tăng lương…, làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên buộc các
doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và nâng cao giá bán sản phẩm. Điều này
sẽ làm dòch chuyển đường cong Phillips theo hướng suy thoái, nghóa là nền
kinh tế phải điều chỉnh ở mức sản lượng thấp hơn và mức giá cao hơn trước.
Quá trình điều chỉnh này hàm ý cả việc lạm phát tăng và gia tăng thất
nghiệp, vì thế tình trạng lạm phát đình đốn không mâu thuẫn với mô hình
của Keynes.
Ngoài các lý thuyết trên về lạm phát, các nhà kinh tế vó mô hiện đại
theo phái Keynes còn cho rằng sự "kỳ vọng" trong tương lai cũng là một
nguyên nhân gây ra lạm phát, đó gọi là lạm phát quán tính. Theo lý thuyết
này, lạm phát có thể góp phần tạo ra lạm phát hơn nữa nếu mọi người mong
đợi điều đó sẽ xảy ra. Đó là vì khi lạm phát xảy ra, người lao động dự kiến
lạm phát vẫn tiếp tục tăng trong tương lai, do đó để duy trì "mức lương thực"
của mình người lao động yêu cầu được tăng mức lương danh nghóa lên để bù
đắp sự mất giá của đồng tiền. Nếu yêu cầu này được chấp nhận và tiền
lương tăng lên sẽ đẩy chi phí tăng. Để duy trì lợi nhuận của mình, doanh
nghiệp sẽ chuyển phần chi phí tăng lên này sang cho người tiêu dùng bằng
cách tăng giá bán, và như vậy lạm phát sẽ tiếp tục xảy ra. Điều đáng chú ý ở
đây là nếu người lao động cho rằng trong tương lai lạm phát xảy ra là thấp
thì yêu cầu đòi tăng lương sẽ thấp và có thể không xảy ra, còn nếu người lao
động cho rằng lạm phát khó có thể kiềm chế được thì yêu cầu đòi tăng lương
sẽ cao. Do vậy việc phát ra những dấu hiệu đáng tin cậy cho thò trường rằng
lạm phát sẽ đi xuống và được kiểm soát trong tương lai là rất quan trọng đối
việc giảm lạm phát quán tính. Những dấu hiệu này chỉ có thể có được từ
việc công bố và thực thi các chính sách đáng tin cậy để kiềm chế lạm phát
của chính phủ.
1.1.2.1.1 Tác động tích cực của lạm phát
Theo lý thuyết kinh tế vó mô, khi nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn
dụng, hay nói cách khác, khi các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn,
công nghệ... chưa được khai thác hết thì khi mức giá chung tăng lên sẽ có tác
dụng kích thích các doanh nghiệp gia tăng đầu tư để tăng sản lượng hàng hoá
cung ứng trên thò trường, làm cho sản xuất được mở rộng. Sản xuất mở rộng
sẽ tạo ra được nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu
nhập của người dân. Đầu tư cho sản xuất tăng, thu nhập của người dân tăng
sẽ góp phần làm tăng tổng cầu. Tổng cầu tăng lại tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển. Sản xuất và tiêu dùng liên tục phát triển, mở rộng sẽ góp phần
duy trì sự tăng trưởng ổn đònh của nền kinh tế. Trên giác độ này, lạm phát
được xem là một nhân tố kích thích kinh tế phát triển.
Giá cả chung tăng tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, nhưng không
phải tất cả các ngành trong nền kinh tế đều phát triển. Giá cả tăng sẽ làm
cho các yếu tố sản xuất đầu vào tăng giá, làm tăng chi phí sản xuất. Vì thế,
những ngành nào tăng được giá bán thì sẽ tồn tại và phát triển, còn những
ngành nào mà giá bán không tăng được, hay thậm chí còn giảm xuống, thì có
thể bò thu hẹp dần. Kết quả là vốn đầu tư sẽ chuyển dòch, các ngành kinh tế
phát triển được thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư, còn các ngành không - 6 -
phát triển được sẽ thu hút được ít vốn đầu tư, hơn nữa vốn đầu tư còn bò rút
dần để đầu tư vào những lónh vực, ngành nghề khác Điều này sẽ góp phần
làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng có lợi và hiệu quả hơn.
Giá cả tăng không những góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế mà còn
tạo ra một áp lực cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế ở hầu hết các ngành
nghề. Đối với các ngành tăng được giá bán thì áp lực lớn nhất đối với các
doanh nghiệp là làm sao để duy trì và phát triển thò phần của mình. Còn
những ngành không tăng giá được thì các doanh nghiệp phải chòu áp lực lớn
- 7 -
để in tiền là có thể dùng để mua sắm một khối lượng hàng hoá lớn hơn trên
thò trường. Cũng chính vì những mối lợi này mà đa số các chính phủ đều cố
gắng duy trì lạm phát trong nền kinh tế.
- Các doanh nghiệp cũng có lợi từ lạm phát đứng trên giác độ tăng giá
bán so với sự thay đổi tiền lương của người lao động. Thông thường, khi lạm
phát xảy ra các doanh nghiệp thường sẽ tăng giá bán trước khi có những
quyết đònh để thay đổi tiền lương cho người lao động. Sự thay đổi lương này
thông thường được thực hiện vào thời điểm đầu năm, và nếu có tăng lương
thì mức tăng cũng không thể cao hơn mức tăng giá vì thế lợi nhuận của nhà
sản xuất thường cao hơn so với trước.
- Đối với những người đi vay, nếu lãi suất đi vay không gắn với sự thay
đổi lạm phát thì khi giá cả tăng, năng lực mua sắm của đồng tiền bò giảm
sút, vì thế giá trò đồng tiền khi họ vay sẽ cao hơn giá trò đồng tiền mà họ trả
lại nợ vay cho chủ nợ, do đó người đi vay cũng sẽ được hưởng lợi từ lạm
phát. Dó nhiên, nếu lãi suất vay gắn với sự biến động của lạm phát thì người
đi vay sẽ không có lợi gì. Như vậy, lạm phát xảy ra cũng có những tác động
tích cực nhất đònh đối với nền kinh tế như tăng trưởng, gia tăng việc làm,
kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn... Tuy nhiên, những tác
động tích cực trên chỉ có được thực sự khi lạm phát xảy ra là thấp và mang
tính ổn đònh trong một thời gian dài.
1.1.2.1.2 Tác động tiêu cực của lạm phát
Mặc dù trong một số trường hợp nào đó, lạm phát xảy ra là có lợi cho
nền kinh tế, nhưng nhìn chung, lạm phát xảy ra đều có những tác động tiêu
cực đối với nền kinh tế, thể hiện ở một số mặt như: phân bố nguồn lực, phân
phối thu nhập, phát triển kinh tế và lãng phí của xã hội.
-
Phân bố nguồn lực không hiệu quả: khi lạm phát xảy ra đồng tiền sẽ bò
này làm cho nhà sản xuất dường như ngày càng giàu hơn, trong khi đó người
lao động, hưu trí ngày càng nghèo đi.
+ Đối với những người cho vay, thường là họ cho vay dưới dạng lãi suất
cố đònh khi lạm phát xảy ra, những đồng tiền mà họ nhận được từ việc cho
vay sẽ có giá trò thấp hơn lúc cho vay, vì thế phần lãi suất thực mà họ được
hưởng sẽ giảm sút thậm chí còn bò âm nếu lạm phát quá cao. Trong số những
người cho vay, có thể nói dân chúng là người cho vay nhiều nhất dưới dạng
tiền gửi tiết kiệm và mua trái phiếu chính phủ, nên cũng là những người chòu
thiệt hại nhiều nhất.
-
Làm suy thoái kinh tế: lạm phát xảy ra làm cho nguồn lực phân bố
không hiệu quả, các khoản đầu tư không sản xuất gia tăng làm cho các
khoản đầu tư vào sản xuất sụt giảm, làm giảm cầu về các yếu tố sản xuất, do
đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế. Tổng cầu và sản xuất sụt giảm sẽ làm
giảm tăng trưởng kinh tế, tăng tình trạng thất nghiệp và dẫn đến suy thoái
kinh tế.
Lạm phát cao sẽ làm cho việc dự đoán giá cả và chi phí gặp khó khăn,
do đó các dự án đầu tư mới cũng sẽ khó được thực hiện. Giá cả tăng nên các
yếu tố sản xuất đầu vào cũng tăng, nhu cầu tiền vốn để thanh toán các giao
dòch mua bán cũng tăng làm cho lãi suất tăng cao. Lãi suất tăng lại làm tăng
chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận cho nên sẽ không khuyến khích sản xuất
phát triển. Hơn nữa, chi phí tăng cao, lợi nhuận thấp sẽ không hấp dẫn các
nhà đầu tư bỏ tiền vào thò trường vốn. Kết quả là thò trường vốn trong nước
bò suy yếu và thu hẹp dần, các luồng vốn đầu tư quốc tế sẽ chạy qua các
nước khác có mức lạm phát thấp hơn và ổn đònh hơn. - 9 -
Ngoài ra, nếu lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ởû nước ngoài sẽ
làm cho giá cả của hàng hoá trong nước tăng lên làm giảm sức cạnh tranh
biện pháp để kiểm soát lạm phát sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế. Các
biện pháp này cũng đòi hỏi phải tốn thời gian, công sức và chi phí để thực
hiện. Chẳng hạn như để chống lại tình trạng lạm phát do một số loại nguyên
vật liệu nhập khẩu tăng đột biến làm mức giá chung tăng lên trên diện rộng,
chính phủ có thể áp dụng biện pháp giảm thuế nhập khẩu, chi bù lỗ cho các
doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này… Điều này sẽ làm giảm nguồn
thu vào ngân sách Nhà nước và tăng chi tiêu của chính phủ. - 10 -
1.1.2.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của công tác kiểm soát lạm phát trong
nền kinh tế
Khi lạm phát xảy ra tất yếu sẽ có những tác động đến nền kinh tế, có
tác động tích cực và cũng có những tác động tiêu cực như đã đề cập bên
trên. Do vậy, tùy thuộc vào từng mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia, để tránh những tổn thất do lạm phát gây ra hay những mong muốn lạm
phát mang lại, các nhà làm chính sách phải thực hiện công tác kiểm soát lạm
phát cho phù hợp.
Thông thường, trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, mỗi quốc
gia bao giờ cũng đặt ra nhiều mục tiêu như đảm bảo tăng trưởng và phát
triển kinh tế cao, ổn đònh giá cả, tạo nhiều công việc làm, xóa bỏ nạn nghèo
đói, ổn đònh chính trò…, trong đó, mục tiêu ngày càng tăng trưởng và phát
triển kinh tế cao hơn luôn là mục tiêu hàng đầu nhằm mang lại sự giàu có,
thònh vượng cho đất nước, làm tiền đề cho việc đạt được các mục tiêu khác.
Một vấn đề đặt ra là cần phải làm gì để đạt tốc độ tăng trưởng và phát
triển như mong muốn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào việc khai thác và
sử dụng một cách thật hiệu quả các nguồn lực trong nước cũng như từ nước
ngoài. Sở dó như vậy là vì các nguồn lực kinh tế như đất đai, tài nguyên, lao
động, vốn, công nghệ… đều là những yếu tố có hạn mà nhu cầu sử dụng của
con người là vô hạn. Đặc biệt, áp lực tăng trưởng kinh tế nhanh mạnh sẽ kéo
phù hợp sao cho kết quả đo lường có thể phục vụ một cách đắc lực nhất cho
việc điều hành các chính sách kinh tế vó mô và kiểm soát lạm phát. Để tính
toán lạm phát, các phương pháp được lựa chọn thường dùng các chỉ số như
chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số điều chỉnh GDP, chỉ số giá bán lẻ (RPI), chỉ
số giá tiêu dùng (CPI). Trong đó, hai chỉ số được sử dụng phổ biến nhất là
chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số điều chỉnh GDP.
1.2.1.1.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumption Price Index)
Để tính toán chỉ tiêu này, người ta bắt đầu bằng việc thu thập số liệu về
giá cả của hàng ngàn hàng hóa và dòch vụ. CPI chuyển giá cả của nhiều
hàng hoá và dòch vụ thành một chỉ số duy nhất phản ánh mức giá chung. Có
thể thực hiện bằng cách tính số bình quân của tất cả các loại giá cả, tuy
nhiên việc tính như vậy sẽ coi như tất cả hàng hóa và dòch vụ đều có tầm
quan trọng như nhau, điều này không đúng trong thực tế. Do vậy, người ta
dùng xác đònh quyền số cho các mặt hàng này bằng cách tính toán giá cả
của một giỏ hàng hóa và dòch vụ mà một người tiêu dùng đại diện mua. CPI
gán quyền số cố đònh (q
0
i
) cho giá cả của các hàng hóa khác nhau.
Vậy, CPI là giá của một giỏ hàng hóa và dòch vụ này so với giá của giỏ
hàng hóa và dòch vụ như thế trong một năm cơ sở (năm gốc) nào đó.
Đo lường chỉ số giá tiêu dùng CPI:
100
00
0
xCPI
qp
qp
ii
i
CPI
t
– CPI
t-1
CPI
t-1
1.2.1.1.2 Chỉ số điều chỉnh GDP
Chỉ số điều chỉnh GDP còn được gọi là chỉ số điều chỉnh giá ngầm đònh
của GDP. Đó chính là tỷ lệ giữa GDP danh nghóa và GDP thực tế.
GDP danh nghóa
GDP thực tế
Chỉ số điều chỉnh GDP =
Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vò sản lượng điển hình
so với giá của nó trong năm cơ sở.
Ta thấy rằng, chỉ số giá tiêu dùng được dùng để phản ánh mức giá trung
bình của một rổ hàng hoá, dòch vụ ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc. Nhược
điểm chính của chỉ số này là sự giới hạn của rổ hàng hoá cũng như sử dụng
trọng số cố đònh trong tính toán. Do đó, chỉ số giá không phản ánh được sự
thay đổi chất lượng của hàng hoá, cơ cấu hàng hoá tiêu dùng và sự biến đổi
chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian.
Còn chỉ số điều chỉnh GDP được tính dựa vào toàn bộ khối lượng hàng hoá,
dòch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm và giá cả ở kỳ hiện hành so
với kỳ gốc. Về cơ bản thì chỉ số điều chỉnh GDP sẽ tính toán lạm phát chính
xác hơn chỉ số giá tiêu dùng theo đònh nghóa về lạm phát, vì nó thể hiện
được xu hướng tăng mức giá chung của hàng hoá. Tuy nhiên, chỉ số điều
chỉnh GDP chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi đã có thông báo
chính thức về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của năm đó, còn chỉ số giá sẽ
có ưu điểm hơn là tính được lạm phát tại từng tháng, từng quý hay từng năm.
khác nhau người ta cũng thường áp dụng các phương thức khác nhau. Nhìn
chung có hai loại phương thức sau:
1.2.1.2.1 Phương thức “hạn chế tiền tệ”
Phương thức “hạn chế tiền tệ” – kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng
hay còn gọi là phương thức đóng băng. Phương thức này xuất phát từ luận
điểm của M.Friedman cho rằng sự tăng trưởng kinh tế ổn đònh của một quốc
gia chỉ là kết quả của một chính sách tiền tệ ổn đònh. Chính sách tiền tệ ổn
đònh và có hiệu quả chỉ có thể dựa trên sự kiểm soát chặt chẽ khối lượng
tiền phát hành trong lưu thông nghóa là kiểm soát sự cung ứng tiền tệ kết hợp
với chính sách thuế nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng dài
hạn. Đây chính là phương thức chủ yếu để ổn đònh tiền tệ, kiềm chế lạm
phát.
1.2.1.2.2 Phương thức “nới lỏng tiền tệ”
Phương thức “nới lỏng tiền tệ” – lấy lạm phát trừ lạm phát: phương thức
này xuất phát từ luận điểm của J.M.Keynes cho rằng một nền kinh tế tăng
trưởng và có hiệu quả là giải quyết đầy đủ công ăn việc làm, muốn vậy phải - 14 -
kích thích mặt cầu bằng các chính sách vó mô của Nhà nước. Trong đó, việc
nới lỏng tiền tệ, mở rộng việc cung ứng tiền tệ sẽ kích thích mặt cầu, giải
quyết được nạn thất nghiệp nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ đó lạm
phát sẽ được kiểm soát. Theo quan điểm này, người ta coi lạm phát và chống
lạm phát như là một quá trình liên tục nghóa là vừa chống lạm phát lại vừa
thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát.
1.2.2 Kinh nghiệm trong công tác kiểm soát lạm phát trên thế giới
1.2.2.1 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Mỹ
Đầu tiên, chúng ta xem xét kinh nghiệm của Mỹ – một quốc gia có
nhiều ảnh hưởng đến kinh tế thế giới trong việc tìm ta một giải pháp chính
sách tài khoá và tiền tệ hỗn hợp nhằm kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm
nhập liên bang đánh vào thu nhập trên toàn thế giới của các công dân Mỹ và
người nước ngoài cư ngụ tại Mỹ và một phần thu nhập tại Mỹ của những
người không cư ngụ tại đây. Nhiều năm qua, các nhà lập pháp đã tạo ra
nhiều loại miễn và giảm thuế thu nhập khác nhau nhằm khuyến khích các
loại hình hoạt động kinh tế đặc biệt. Đáng chú ý nhất là người đóng thuế
được phép khấu trừ khỏi thu nhập chòu thuế của mình mọi khoản lãi suất
phải trả cho khoản tiền vay để mua nhà ở. Tương tự như vậy, chính phủ cho
phép người đóng thuế có thu nhập thấp và trung bình không phải đóng thuế
cho những khoản tiền nhất đònh mà họ gửi tiết kiệm vào tài khoản hưu trí cá
nhân đặc biệt (IRAs) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu khi về hưu và cho việc
học đại học của con cái họ.
- Chính sách tài khóa và ổn đònh kinh tế: được sử dụng vào những năm
1930, bằng cách tăng chi tiêu và giảm thuế nhằm hạn chế thất nghiệp tràn
lan và khiến cho nền kinh tế tăng trưởng trở lại theo học thuyết “Lý thuyết
chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của Maynard Keynes. Những năm
1960 đến 1970, thời kỳ mà lạm phát ở Mỹ gia tăng, chính phủ sử dụng chiến
lược chống lạm phát thông thường là kiềm chế cầu bằng việc cắt chi tiêu
liên bang và tăng thuế, nhưng điều này lại có thể làm cạn kiệt thu nhập từ
một nền kinh tế vốn đã bò thiệt hại do giá dầu mỏ tăng. Tổng thống Jimmy
Carter (1977-1981) đã tìm cách giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan đó
bằng một chiến lược theo hai chiều hướng. Ông đã đẩy mạnh chính sách tài
khoá hướng vào việc chống thất nghiệp, cho phép tăng thâm hụt ngân sách
liên bang và tạo ra các chương trình việc làm đối phó với suy thoái theo chu
kỳ cho những người thất nghiệp. Để chống lạm phát, ông tạo ra một chương
trình kiểm soát giá cả và lương tự động nhưng không hiệu quả, nền kinh tế
vẫn chòu lạm phát cao minh chứng cho học thuyết của Keynes không còn
đúng vì một yếu tố khác đã làm giảm hơn nữa khả năng của chính phủ trong
việc sử dụng chính sách tài khóa để quản lý nền kinh tế – đó là thâm hụt
ngân sách.
- Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Mỹ: Cục dự trữ liên bang Mỹ
1.2.2.2 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Hàn Quốc (1981 – 1984)
Chúng ta đều biết rằng giá cả của hàng hoá và dòch vụ được xác đinh
bởi cung cầu thò trường, tức là do tổng cung tổng cầu và độ khan hiếm của
hàng hóa, dòch vụ đó trên thò trường xác đònh. Lãi suất tăng lên đồng nghóa
với việc đồng tiền được coi trọng hơn hay tổng cung tiền tệ thấp hơn tổng
cầu tiền tệ. Lãi suất thấp thì khuyến khích các nhà đầu tư dùng vốn nhiều
cho nhà đầu tư phát triển, nhưng khi nhu cầu của nhà đầu tư tăng lên sẽ kéo
theo tăng lãi suất tiền tệ vì lúc này có một lượng cung tiền tệ nhất đònh mà
tổng cầu sử dụng tiền tệ tăng lên sẽ dẫn đến tiền tệ khan hiếm hay tổng
cung tiền tệ bò thấp đi tương đối. Tuy nhiên, nếu lãi suất tăng quá cao thì
hiệu quả hay lợi nhuận do đồng tiền tạo ra sẽ thấp đi và nhu cầu sử dụng
đồng tiền sẽ giảm vì ít người muốn đầu tư sẽ dẫn đến tổng cầu tiền tệ giảm
so với tổng cung tiền tệ. Điều này lại đưa đến lãi suất giảm.
Lãi suất là giá của tiền tệ. Lạm phát là sự mất giá của tiền tệ. Vậy khi
sử dụng đồng tiền một thời gian nhất đònh nào đó phải cho người ta nhận
được lợi nhuận tính theo đồng tiền, tức là lãi suất trừ đi lạm phát phải là một
số dương nào đó thì mới có thể nói sử dụng đồng tiền hiệu quả. Nói cách
khác lãi suất dương là sự bảo toàn giá trò đồng tiền. Lãi suất dương là giá trò
thực của đồng tiền và là một biện pháp quan trọng chống lạm phát. Từ lý - 17 -
thuyết này, việc thiết kế thành công một chương trình để ổn đònh kinh tế vó
mô, đẩy lùi lạm phát từ mức cao xuống mức thấp là một vấn đề lớn. Chúng
ta hãy xem xét kinh nghiệm của nền kinh tế một nước kém phát triển có bối
cảnh lạm phát và không kiểm soát nổi mức thâm hụt của Chính phủ, đó là
Hàn Quốc.
Chính phủ Hàn Quốc đã thành công trong việc ổn đònh giá thời kỳ 1981
– 1984. Vào giai đoạn 1979 - 1981, Hàn Quốc bò lạm phát với mức độ trung
bình là trên 20%. Tính theo giá trò thực thì lãi suất cho vay danh nghóa chuẩn
giảmphát
GDP (tỷ
lệ thay
đổi)
Danh
nghóa
Thực
tế
Danh
nghóa
Thực
tế
Danh
nghóa
Thực
tế
Danh
nghóa
Thực
tế
(1) (2)
(3)
(4)
(5)
(6)
chênh lệch lạm phát giữa Hàn Quốc và Mỹ đã hạn chế được sự khuyến
khích thái quá đối với việc chuyển vốn nước ngoài vào nền kinh tế Hàn
Quốc. Thậm chí khi tình trạng đó xảy ra, chính phủ Hàn Quốc vẫn duy trì sự
kiểm soát chặt chẽ đối với tài khoản vốn nhằm hạn chế sự gia tăng hơn nữa
tình trạng nợ quốc tế trong quá trình tự do hóa.
Chính phủ Hàn Quốc đã thành công trong việc giảm lãi suất danh nghóa
xuống mức phù hợp trong khi vẫn giữ cho lãi suất thực tế ở mức dương, mặc
dù vẫn thấp hơn mức cân bằng thò trường. Ngân hàng Hàn Quốc cũng giảm
yêu cầu về dự trữ khi chính sách tài khoá được cải thiện, nhưng tín dụng của
ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại và luồng tư bản
nước ngoài vào đất nước vẫn bò hạn chế để đảm bảo mức giảm phát mong
muốn mà vẫn không đánh giá quá cao tỷ giá hối đoái. Chính phủ Hàn Quốc
cũng giảm mức gia tăng của tiền lương xuống.
Kết quả là việc thắt chặt tiền tệ được thực hiện trong khi lãi suất thực
được giữ ở mức dương và khá ổn đònh theo đạo luật. Điều này có ý nghóa là
để giảm lạm phát, hệ thống ngân hàng Hàn Quốc nói chung phải hạn chế tín
dụng cho khu vực tư nhân. Tuy nhiên, do thâm hụt về tài khóa của chính phủ
Hàn Quốc đồng thời được giảm đi, luồng ngân quỹ thực tế có thể cho vay đối
với khu vực tư nhân đã tăng lên. Do vậy đã giảm bớt sức ép của cung đối với
hàng hóa trong nước. Không cần phải có sự hạn chế tín dụng ròng đối với
khu vực tư nhân một khi chính phủ Hàn Quốc và các cơ quan chuyên trách
không còn hướng luồng tín dụng ngân hàng vào bản thân mình.
Mặc dù có những khó khăn, việc ổn đònh thành công giá cả trong nước
trong khi vẫn giữ được khả năng cạnh tranh ngoại thương có những lợi ích
tiềm năng to lớn. Trong một số năm sau khi chương trình ổn đònh hóa thành
công (thời kỳ 1981 – 1984) sự tăng trưởng GNP và sự phát triển về tài chính
của Hàn Quốc thực sự là đáng kể. Việc tăng nhanh các luồng tài chính trong
nền kinh tế Hàn Quốc cho phép nước này trả được nhiều nợ nước ngoài
thông qua thặng dư thương mại. Tiền gửi ngân hàng không chỉ tiếp tục tăng
mạnh so với GNP mà cơ cấu thời hạn của các nguồn tài chính công ty cũng
phát và đạt tới đỉnh điểm vào năm 1986 lên tới 774,7%.
2.1 LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN TỪ NĂM
2000 TRỞ VỀ TRƯỚC
2.1.1 Siêu lạm phát – giai đoạn từ 1986 đến 1991
2.1.1.1 Tình hình lạm phát và kiểm soát lạm phát
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) được coi là điểm mốc của
công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Rút kinh nghiệm những sai lầm trong
quản lý kinh tế những năm trùc, Đại hội đã quyết đònh đổi mới triệt để cơ
chế quản lý kinh tế với những nội dung cơ bản như: phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần; chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước; thực - 20 -
hiện mở cửa kinh tế và nâng cao hoạt động kinh tế đối ngoại, thực hành dân
chủ trong mọi mặt của nền kinh tế xã hội.
Trên cơ sở Nghò quyết của Đại hội Đảng VI, trong giai đoạn này, Chính
phủ đã thực hiện hàng loạt các cuộc cải cách mạnh mẽ về nông nghiệp,
công nghiệp, tài chính, tiền tệ, mở rộng ngoại thương, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài... Kết quả là nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích
cực, tăng trưởng kinh tế dần đi vào ổn đònh và không ngừng tăng lên từ
2,84% năm 1986 tăng lên 5,8% vào năm 1990.
Bảng 2: Tình hình tăng trưởng và lạm phát giai đoạn 1986 -1991
-
200,00
400,00
600,00
800,00
CPI (%)
774,70 373,00 223,10 34,70 67,50 67,30
thuế chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế nhà nước, khu vực mà đa số các doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, do đó, nguồn thu rất hạn hẹp và tăng không đáng kể.
Điều này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách ở mức cao và kéo dài;
- Đồng tiền bò mất giá khiến cho nguồn vốn huy động vào trong hệ
thống ngân hàng giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó nhu cầu bổ sung vốn
để bù đắp nguồn vốn thiếu hụt do làm ăn thua lỗ và mua sắm nguyên vật
liệu từ các doanh nghiệp lại tăng lên, làm cho tình trạng thiếu vốn ngày càng
trở nên gay gắt;
- Giá cả tăng cao trong khi nguồn vốn và nguồn cung cấp nguyên vật
liệu lại trở nên khan hiếm, các doanh nghiệp không đủ năng lực để duy trì
hoạt động sản xuất và chạy theo sự biến động của giá cả, kết quả là sản xuất
bò sụt giảm, thất nghiệp gia tăng, điều này càng làm cho đời sống của người
dân càng khó khăn hơn khi phần lớn lao động làm việc trong khu vực nhà
nước.
2.1.1.2 Nguyên nhân và các biện pháp kiểm soát lạm phát
2.1.1.2.1 Nguyên nhân gây ra tình trạng siêu lạm phát thời kỳ này
Về mặt lý thuyết, ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào, lạm phát tăng
cao và kéo dài luôn luôn gắn liền với việc phát hành tiền giấy quá mức vào
trong lưu thông để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước. Nhìn vào diễn biến
lạm phát của Việt Nam giai đoạn này, lạm phát tăng rất cao ở mức từ hai
đến ba con số và kéo dài liên tục từ năm 1986 cho đến năm 1991. Như vậy
rõ ràng, nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam thời gian này là do
phát hành tiền giấy quá mức để bù đắp thâm hụt ngân sách (hơn 50% khoản
thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng nguồn phát hành tiền giấy), làm cho
khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên rất nhanh, điều này cũng đồng
nghóa với việc làm gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Trong khi đó, nền
sản xuất trong nước còn kém phát triển và chòu sự chi phối rất lớn của các - 22 -
ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mặt tiền tệ và
tín dụng, và hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh
tiền tệ và tín dụng.
Và đến năm 1990, Pháp lệnh ngân hàng ra đời đã đánh dấu một sự thay
đổi về hệ thống ngân hàng bằng việc quy đònh rõ quyền hạn và nghóa vụ của
ngân hàng nhà nước trong việc đưa ra các chính sách tiền tệ và hướng dẫn - 23 -
kiểm tra hệ thống ngân hàng. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau này.
Về chính sách điều hành lãi suất đã có những bước đột phá để chuyển
dần theo hướng gắn với thò trường, thể hiện bằng Quyết đònh số 39/HĐBT
ngày 10/04/1989 về việc quy đònh cơ chế điều hành lãi suất theo cơ chế thò
trường, theo đó: lãi suất tín dụng phải bù đắp được tỷ lệ lạm phát, khuyến
khích các tổ chức, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng; lãi suất phải phục vụ cho
kinh doanh có hiệu quả. Trên cơ sở quyết đònh này, lãi suất tín dụng đã dần
được điều chỉnh và từ ngày 10/05/1989 lãi suất tiền gửi ngân hàng đã được
nâng lên 13%/tháng nhằm thu hút lượng tiền gửi từ trong dân chúng, qua đó
góp phần làm giảm bớt khối lượng tiền trong lưu thông và có vốn để phục vụ
cho đầu tư phát triển. Với việc tăng lãi suất lần này, có lẽ như là đồng tiền
trong nước đã tăng giá trở lại, điều này gây ra một tác động tâm lý rất lớn và
kết quả là một khối lượng lớn tiền tệ đã được huy động vào trong hệ thống
ngân hàng, giúp làm giảm bớt nhu cầu chi tiêu trong dân chúng.
- Thực hiện những cải cách sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp
Ngày 05/04/1988, Bộ Chính trò ra Nghò quyết số 10 về đổi mới quản lý
trong nông nghiệp, đây là một bước tiến xa hơn so với nội dung khoán được
thực hiện vào năm 1981. Các hộ nông dân được coi là những đơn vì kinh tế
tự chủ, điều này cho phép nông dân được làm chủ hoàn toàn công việc sản
xuất của họ và chỉ phải nộp thuế cho nhà nước theo luật đònh. Nhờ đó, các
khi cần thiết nhà nước có thể can thiệp thông qua các biện pháp gián tiếp
như hỗ trợ vốn, lãi suất, trợ cấp.
Như vậy, bằng những giải pháp đồng bộ để thu hút bớt lượng tiền trong
lưu thông và đẩy mạnh phát triển nền sản xuất hàng hoá, tình hình lạm phát
giai đoạn này tuy cao nhưng cũng đã có những chuyển biến tích cực từ chỗ
ba con số từ năm 1986 đến năm 1988 đã giảm xuống còn 34,7% vào năm
1989. Tuy nhiên do lãi suất tín dụng tăng cao và lại dược sử dụng chủ yếu để
cấp vốn bổ sung cho khu vực nhà nước với lãi suất thấp đã làm tăng lượng
tiền trong lưu thông và giảm hiệu quả hoạt động cho vay tín dụng. Điều này
buộc Nhà nước phải tăng chi ngân sách để bù lỗ cho hoạt động của ngân
hàng và tài trợ lãi suất cho vay đối với khu vực nhà nước. Kết quả lượng tiền
trong lưu thông lại tăng lên, thâm hụt ngân sách cũng tăng thêm, làm cho
lạm phát tăng trở lại vào các năm cuối của giai đoạn này: 67,5% ở năm 1990
và 67,3% ở năm 1991.
2.1.2 Lạm phát giai đoạn từ 1992 đến 1999
2.1.2.1 Diễn biến tình hình lạm phát
Những diễn biến tình hình kinh tế xã hội phức tạp các năm 1986-1991
khiến cho nỗi lo về việc quay trở lại tình trạng siêu lạm phát là rất lớn.
Chính vì vậy một trong những mục tiêu trọng tâm của nước ta trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn này là phải kiểm soát và đẩy lùi
được lạm phát nhằm ổn đònh đời sống kinh tế xã hội, tạo ra môi trường thuận
lợi để thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế. Xác đònh nguyên nhân chính gây
ra tình trạng siêu lạm phát những năm trước là do tăng phát hành tiền giấy
quá mức để bù đắp thâm hụt ngân sách và sự phát triển yếu kém của nền
sản xuất hàng hoá trong nước. Vì vậy, để kiểm soát được lạm phát và đạt
được mục tiêu tăng trưởng, Nhà nước đã áp dụng đồng bộ các chính sách tài - 25 -
khoá và tiền tệ thắt chặt, cùng với các biện pháp để đẩy mạnh phát triển
xuống còn 0,1% vào năm 1999. Rõ ràng với sự biến động thất thường như
vậy, rất khó nhận diện được xu hướng biến động của lạm phát ở Việt Nam
giai đoạn này.