Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lạm phát ở Việt Nam hiện nay- nguyên nhân và giải pháp
khắc phục
TS. Hoàng Xuân Quế - Khoa NH- TC
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có vị trí quan trọng hàng đầu trong điều
hành chính sách của mỗi một quốc gia. Đây cũng là một trong hai mục tiêu mà Ngân
hàng Trung ơng các nớc đều hớng tới. Khái niệm chung về lạm phát đợc khoa học
kinh tế đa ra là sự tăng giá chung theo thời gian, khi đó mặt bằng chung về giá cả
hàng tiêu dùng trên thị trờng tăng lên. Còn lạm phát tiền tệ hoặc lạm phát giá cả đợc
gọi theo cách nhìn nhận ở góc độ nguyên nhân của lạm phát. Theo lý thuyết kinh tế
học hiện đại, lạm phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy và quá thừa mức tiền
cung ứng trong lu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia tăng còn do một số
nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong cơ cấu đầu t
Lạm phát tiền tệ đợc hiểu là mức tiền cung ứng cho lu thông vợt quá mức cần
thiết, biểu hiện là sự mất giá của đồng bản tệ.
Lạm phát giá cả đợc hiểu là giá cả hàng hoá và dịch vụ nói chung tăng lên do
cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hoá và dịch vụ tăng lên
(chi phí đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xẩy ra cùng một lúc, mà thờng
hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ.
Với Việt Nam hiện nay, tình hình lạm phát đang là mối quan tâm lớn của công
luận, khi mà CPI năm 2003 là 3%, thì năm 2004 là 9,5%. Tỷ lệ này đã vợt xa con số
5% năm theo kế hoạch mà Việt Nam đề ra. Nếu chúng ta không có những giải pháp
tơng thích để ngăn chặn thì tỷ lệ lạm phát trong thời gian tới có thể sẽ tăng lên rất
nhanh và hệ luỵ của nó là khôn lờng. Bài viết này xin đợc lạm bàn về các nguyên
nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp cơ bản để nhằm khắc
phục.
A. Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam
1. Xét trên góc độ phơng pháp tính
Nghiên cứu lạm phát cần đợc hiểu và phân biệt rõ giữa lạm phát cơ bản và lạm
1993, 1994, 1998,... giá lơng thực và thực phẩm tăng rất cao, kèm theo đó là chỉ số
giá chung cũng tăng cao. Ngợc lại, trong các năm 1997, 1999, 2000,...các mặt hàng
lơng thực, thực phẩm có giá bán giảm thấp, khó tiêu thụ, nên đã làm cho CPI ở mức
rất thấp, thậm chí là âm. Nhng năm 2004 nhóm mặt hàng này đã tăng tới 15%; trong
đó giá lơng thực tăng 12,5% và giá thực phẩm tăng 16,8%, đã tác động mạnh làm gia
tăng cao chỉ số CPI nói chung. Do đó nếu loại bớt đợc sự tăng giá đột biến gây những
cú sốc trong tính toán, thì rõ ràng chỉ số lạm phát không cao nh đã công bố.
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Xét trên góc độ tiền tệ
Tổng phơng tiện thanh toán bao gồm tiền mặt trong lu thông, tiền gửi tại ngân
hàng thơng mại và tổ chức tín dụng (nội và ngoại tệ). Nhân tố này về nguyên lý là th-
ờng tác động có độ trễ, tức là tổng phơng tiện thanh toán tăng lên trong kỳ này, thì
ảnh hởng của nó phát sinh ở kỳ sau, trong ngắn hạn là 6 tháng, trung và dài hạn th-
ờng là từ 1 năm trở lên. Trong 14 năm qua, mức tăng tổng phơng tiện thanh toán
thanh toán bình quân 23% - 26%/năm, phù hợp với tốc độ tăng trởng kinh tế và
không thấy tác động rõ rệt về lạm phát, cũng nh giảm phát. Năm 1999 tổng phơng
tiện thanh toán tăng cao nhất, tới 39,25%, nhng các năm 1999 , 2000 và 2001 tốc độ
tăng chỉ số CPI ở mức thấp, thậm chí năm 2000 còn giảm 0,6%. Các năm 1994,
1995, 1998, chỉ số CPI tăng cao, nhng các năm đó và năm trớc đó tốc độ tăng tổng
phơng tiện thanh toán vẫn ở mức trung bình nhiều năm. Năm 1998, tổng phơng tiện
thanh toán tăng thấp nhất, chỉ có 20,33%, nhng CPI lại tăng tới 9,2%. Trong năm
1998, có một thực tế dễ hiểu đó là do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của
khu vực.
Trong 6 tháng đầu năm nay tổng phơng tiện thanh toán tăng 7,26%, thấp hơn
mức tăng cùng kỳ năm 2003 là 8,28%. Song chỉ số tăng giá trong 6 tháng đầu năm
2004 đã là 7,2%. Còn trong năm 2004, tổng phơng tiện thanh toán, tốc độ tăng trởng
vốn huy động và tăng d nợ cho vay,.. đều thấp hơn mức cùng kỳ năm ngoái, nhng
CPI đã là 9,5%. Tất nhiên nh đã nói ở trên là có độ trễ về mặt thời gian, thờng từ 6
tháng đến 1 năm.
sách hoà đồng giá vé giữa ngời Việt Nam và ngời nớc ngoài,...Bên cạnh đó chi phí
xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu,... của ngời nông dân cũng tăng cao. Giá sắt thép
tăng làm cho ngành xây dựng và cơ khí chế tạo tăng chi phí. Nguyên liệu nhựa và bột
giấy tăng,... cũng làm cho chi phí của một loạt ngành sản xuất và một loạt sản phẩm
phải tăng giá bán lên...
Đặc biệt là sự biến động lớn của thị trờng bất động sản từ năm 1999 đến nay,
hệ luỵ của nó là vô cùng lớn. Đáng nhẽ các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế đặc
biệt là trong dân c phải đợc tập trung để đầu t phát triển sản xuất thì nay mọi ngời lại
dồn hết tiền để kinh doanh bất động sản gây rối loạn thị trờng này, đẩy giá bất động
sản tăng hàng chục lần. Do vậy giá thuê mặt bằng để sản xuất, thuê cửa hàng để kinh
doanh cũng tăng lên t ơng ứng, đẩy chi phí sản xuất lên cao.
5. Xét trên góc độ tâm lý dân chúng
Dẫu rằng đây là nguyên nhân không cơ bản nhng cũng cần phải kể đến. Khi
thị trờng bất động sản ở Việt Nam đang rối loạn, giá cả một số mặt hàng đang leo
thang hàng ngày, gây tâm lý bất ổn trong dân chúng thì tiếp đó (đầu năm 2004) Bộ
Nội Vụ công bố dự kiến tăng lơng mới (thực tế tăng từ 1/10/2004) đã kích thích tâm
lý tăng tiêu dùng của dân chúng, làm cho giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng nhanh
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
từ đầu năm (thông thờng là tăng vào cuối năm). Mặt khác khi dân chúng đang lo sợ
sự sụt giá của đồng tiền Việt Nam thì NHNN Việt Nam lại phát hành thêm loại tiền
mệnh giá 100.000đồng mới vào lu thông (gấp đôi mệnh giá lớn nhất trớc đó). Vào
cuối năm 2003, NHNN Việt Nam lại đa tiếp loại tiền polyme mới với các mệnh giá
50.000, 500.000, 100.000 vào lu thông. Đặc biệt là đồng tiền với mệnh giá 500.000
(lớn gấp mời lần so với đồng tiền có mệnh giá lớn nhất trớc đó), đã tiếp tục tác động
xấu đến tâm lý của dân chúng. Dân chúng cho rằng NHNN Việt Nam đang đa thêm
vào lu thông một khối lợng tiền rất lớn và vì vậy giá trị đồng tiền Việt Nam sẽ giảm
mạnh. Do đó dân chúng càng có xu hớng chuyển từ tài sản tiền tệ VNĐ sang các tài
sản tài chính khác và càng khuyến khích tâm lý tiêu dùng. Kết quả là giá cả các mặt
hàng trong nền kinh tế tiếp tục gia tăng.