Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay - Pdf 12


A.Lời mở đầu
Sự vận động và diễn biến của sức mua tiền tệ trên thị trường luôn
luôn là tấm gương phản ánh một cách đầy đủ nhất thực trạng kinh tế xã hội
của đất nước trong từng thời kỳ phát triển. Vì thế, sức mua của tiền tệ và sự
ổn định của nó luôn là một nhiệm vụ kinh tế quan trọng bậc nhất và cũng là
nhiệm vụ chính trị mà các nhà chức trách của bất kỳ đất nước nào cũng phảI
đặc biệt quan tâm. Cũng bởI vì thế mà vấn đề lạm phát, chống lạm phát, kiềm
chế và kiểm soát lạm phát là một trong những vấn đề đầu tiên trong việc
hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Và cũng là vấn đề mà các
nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý dày công nghiên cứu và có
nhiều tranh cãi. Lạm phát, nó luôn là con dao hai lưỡi. Một mặt, nó kích thích
tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, khi lạm phát cao và không kiểm soát được thì
nó để lạI hậu quả nghiêm trọng đốI vớI nền kinh tế, cũng như xã hội. Vấn đề
đặt ra là phảI giữ lạm phát ở mức nào là phù hợp để đạt mục tiêu tăng
trưởng kinh tế cao. Và khi lạm phát bùng nổ thì những biện pháp nào là hữu
hiệu để khống chế và kiểm soát nó.
Bởi vai trò quan trọng của lạm phát đối với nền kinh tế, nên em đã
chọn đề tài: “Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
hiện nay” để nghiên cứu. Đây là một vấn đề kinh tế phức tạp và có nhiều
quan điểm khác nhau. VớI thời gian và khả năng hạn chế, em mong nhận
được sự góp ý chân thành của thầy và các bạn để bài nghiên cứu của em
được hoàn thiện hơn.
1
B. NộI dung
I. Cơ sở lý luận
1. Lý luận chung về lạm phát
1.1. Thế nào là lạm phát:
Lạm phát đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu
của các nhà kinh tế. Trong mỗi công trình, các nhà kinh tế đưa ra các khái
niệm về lạm phát.

Và họ cũng cho rằng: Lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khi muốn tăng
trưởng kinh tế cao nhưng lạI tồn tạI nhiều khiếm khuyết, hạn chế và yếu kém.
Lạm phát cơ cấu có thể viết dướI dạng phương trình sau:
l = α.d/GDP +β. Log (GDP)+δ.log(e)+γ.
Trong đó: d là mức thâm hụt ngân sách nhà nước
e là tỷ giá hốI đoái.
l là tỷ lệ lạm phát.
Có thể giảI thích cụ thể như sau:
- Mất cân đốI giữa cung và cầu lương thực, thực phẩm do quá trình đô
thị hoá, những ngườI sống ở đô thị có thu nhập cao và ngày càng đông nên
nhu cầu lớn. Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lạI chưa được quan tâm
phát triển đúng, nên cung lạI bị hạn chế. Kết quả đẩy giá lên cao.
- Mất cân đốI cung- cầu ngoạI tệ do nhà nước nhập nhiều hơn xuất
dẫn đến cán cân thanh toán quốc tế của những nước này lâm vào tình trạng
khó khăn và buộc họ phá giá đồng tiền. Dẫn đến, lạm phát tăng lên.
- Kinh tế tăng trưởng nhanh lạI đòi hỏI nguồn vốn lớn. Nhưng nguồn
vốn trong nước lạI hạn chế, thu ngân sách có hạn, chi nhiều. Nên nhiều nước
3
đã phát hành tiền cho ngân sách đảm bảo chi và đây cũng là nguyên nhân
dẫn đến lạm phát.
Đây là quan điểm xuất phát từ các nước đang phát triển nghiên cứu.
Nên, nó chủ yếu dựa trên đặc điểm các nước đang phát triển để đưa ra kết
luận của mình. Chẳng hạn như các đặc điểm: Cơ cấu thị trường chưa hoàn
chỉnh, các nguồn vật liệu có giới hạn, năng lực sản xuất không khai thác
hết…Và đã đưa ra những nguyên nhân của lạm phát, nhưng lạm phát không
đơn thuần như vậy. Nó xuất phát từ nhiều yếu tố và nó cũng cộng hưởng của
nhiều yếu tố mà thành. Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh phát triển của mỗI
nước mà có nguyên nhân, đặc điểm riêng hình thành nên lạm phát, cũng có
những biện pháp kiểm soát riêng. Chẳng hạn như: Tăng xuất khẩu, hạn chế
chi tiêu chính phủ khai thác hết mọI tiềm lực.

nghiên cứu chính xác sao cho sự sai lệch là ít nhất.
Cho đến nay việc tính tỷ lệ lạm phát còn có nhiều vấn đề phảI bàn
nhưng có thể tính theo công thức sau
L
t
= Trong đó: L
t
: tỷ lệ lạm phát giai đoạn t
t : giai đoạn tính lạm phát
p
t
:tổng giá cả giai đoạn t
p
t-1
: tổng giá cả giai đoạn t-1
Có 1 số phương pháp tính tổng mức giá:
1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
2. Chỉ số giảm phát GDP
3. Chri số giá sản xuất: PPI
Trong đó, chỉ số tiêu dùng CPI là chỉ số quan trọng mà một số nước
thường lấy để đo tỷ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan
đến rổ hàng hoá và dịch vụ cụ thể được ngườI lao động mua. Công thức
5
n
CPI =
Cách tính chỉ số CPI không phảI cộng tất cả các giá cả lạI và chia cho
tổng khốI lượng hàng hoá mà cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng
của nó trong nền kinh tế. Còn chỉ số giảm phát GDP được coi là chỉ số phản
ánh bình quân giá của tất cả hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước. Nên,
chỉ số này được coi là toàn diện hơn chi số giá tiêu dùng CPI và bao quát hết

P
it
q
it
n
I=1

P
i0
q
it

n
I=1
P
it
q
it
n
I=1

P
i0
q
it

I=1
P
it
q

xuất đình đốn làm cho nguồn thu ngân sách giảm cả qui mô và chất lượng.
Mặt khác, lạm phát cao đồng nghĩa vớI đồng tiền bị mất giá. Do vậy, cùng
một khốI lượng tiền thu từ thuế dẫn đến giá trị thực giảm.
Tóm lạI, hậu quả của lạm phát là to lớn, có sức tàn phá ghê gớm, tác
động xấu đốI vớI nền kinh tế, xói mòn vấn đề xã hộI và có thể công phá cả
vào sự ổn định của chính trị. Do vậy: Mục tiêu hàng đầu trong chính sách kinh
tế vĩ mô của các quốc gia là: Ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát.
7
2. Lạm phát vớI các biến số vĩ mô trong nền kinh tế:
2.1. Lạm phát và tăng trưởng:
Theo các nhà kinh tế,sau khi đã thí nghiệm nhiều nền kinh tế trên thế
giớI cho thấy lạm phát và tăng trưởng có quan hệ tỷ lệ thuận khi tỷ lệ lạm
phát ở mức thấp có thể chấp nhận được và ổn định. Còn khi tỷ lệ lạm phát
cao và không ổn định thì mốI quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trở thành
mốI quan hệ tỷ lệ nghịch. Đây là biểu hiện rõ nhất tính hai lưỡI của lạm phát.
Khi lạm phát ở mức thấp và ổn định thì nó được coi là yếu tố tích cực
để thúc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Vì lạm phát sẽ làm tăng tiết kiệm và
đầu tư do chuyển thu nhập từ những ngườI làm công ăn lương sang thu
nhập của các nhà kinh doanh lấy lãi. Và nếu giá tăng nhanh sẽ có xu hướng
làm tăng khoản tiết kiệm từ lợI nhuận cao hơn, tăng khoản tiết kiệm từ tiền
lương. Mức đầu tư và tiết kiệm sẽ tăng lên. Kết quả là đẩy nhanh tăng trưởng
kinh tế.
Còn khi lạm phát ở mức cao và luôn biến đổI thì đầu tư khu vực ngoài
quốc doanh sẽ dồn sang đầu tư thu lợI nhuận nhanh và giảm đầu tư dài hạn.
Do đó, chất lượng đầu tư giảm sút. Hơn nữa, khi lạm phát cao một mặt, vốn
trong nước dư thừa nhưng ít có đầu tư dài hạn vì rủI ro lớn. Mặt khác, vốn
ngoài nước sẽ khan hiếm do không có đầu tư nước ngoài lạI mạo hiểm đầu
tư vào. Đồng thờI, sự mất giá tiền tệ sẽ làm cho tỷ gia hốI đoái tăng, trong khi
nhập khẩu tăng và xuất khẩu giảm dẫn đến làm cán cân thương mạI bị thâm
hụt trầm trọng. Kết quả làm cho nền kinh tế bị rốI loạn làm cho tăng trưởng

sách nhà nước tránh thâm hụt thì có thể dẫn đến thiểu phát và không giảI
quyết được các vấn đề xã hộI cần thiết. Còn nếu tăng chi ngân sách nhà
nước để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, sẽ kích thích đầu tư tăng
và tăng đầu tư phát triển dẫn đến tăng trưởng cao. Nếu chi quá mức dẫn đến
thâm hụt trở lạI vòng luẩn quẩn trên. Do vậy, cần chi tiêu ngân sách nhà
9
nước một cách hiệu quả và phù hợp để đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và
lạm phát thấp.
2.3. Lạm phát vớI việc làm:
Một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trong mà đa số chính phủ
các nước theo đuổI cũng thường gây nên lạm phát, đó là mục tiêu công ăn
việc làm cao. Như chúng ta đã biết: Sức lao động là hàng hoá thì thất nghiệp
là một căn bệnh kinh niên. Và để đạt được mục tiêu trên thì chính sách tiền tệ
hướng vào tác động đến đầu tư sản xuất, mở rộng hoạt động kinh tế, chống
suy thoái để đạt được mức tăng trưởng ổn định. Khi xem xét tổng quát thì
giữa lạm phát, tăng trưởng kinh tế, và việc làm có mốI quan hệ tỷ lệ nghịch.
Đó là:
- Khi khống chế được lạm phát thì có nguy cơ tăng trưởng kinh tế
giảm, dễ dẫn đến suy thoái và thất nghiệp
- Ngược lạI, khi mở rộng đầu tư, khắc phục suy thoái, tạo việc làm và
tăng trưởng kinh tế thì lạI khó khống chế lạm phát.
Các nhà kinh tế đã thừa nhận rằng nền kinh tế thị trường luôn có
những thăng trầm, biến động mang tính chu kỳ của nó: Từ tăng trưởng kinh
tế quá mức đến lạm phát, rồI từ lạm phát nền kinh tế dễ rơi vào ngưng trệ, rồI
suy thoái, rồI lạI phục hưng và phục hưng lạI trở nên tăng trưởng mạnh.
Vì thế, vấn đề đặt ra đốI vớI từng giai đoạn cụ thể, chính sách tiền tệ
phảI tìm giảI pháp để vừa có thể đạt được mục tiêu trọng tâm, vừa dung hoà
được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nước.
2.4. Lạm phát vớI sản xuất và thương mạI:
Như đã phân tích ở mục trên, một trong những nguyên nhân chung gây

ra thì kéo theo lạm phát.
Còn khi lãi suất tăng lên thì đồng nghĩa vớI việc đồng tiền được coi
trọng hơn hay tổng cung tiền tệ thấp hơn tổng cầu tiền tệ. Nhưng nếu lãi suất
11
tăng quá cao thì hiệu quả hay lợI nhuận do đồng tiền tạo ra sẽ thấp đi và nhu
cầu sử dụng đồng tiền sẽ giảm. Và ít ngườI muốn đầu tư. Nó được sử dụng
là công cụ chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm mục tiêu chống lạm phát và khắc
phục tình trạng ”quá nóng” của nền kinh tế.
2.6. Lạm phát vớI tín dụng:
Trong mốI quan hệ này, cái mà chúng ta quan tâm là vấn đề tăng cung
tiền là tác nhân quan trọng gây nên lạm phát. Khi cung ứng tiền tệ tăng, tức là
tổng phương diện thanh toán tăng lên do nhà nước phát hành thêm tiền và
do hệ số tạo tiền tăng lên. Thực tế, tiền cung ứng tăng lên sẽ dẫn đến tăng
tín dụng cho nền kinh tế, tăng cho vay chính phủ nên làm tổng phương diện
thanh toán tăng lên. Mà khi tổng phương diện thanh toán tăng mà không có
hàng hoá và dịch vụ tăng lên tương thích thì đưa đến cung tiền tệ lớn hơn
cầu tiền tệ, kết quả của vấn đề này là giá cả tăng lên và dẫn đến lạm phát.
Đồng thờI, hạn mức tín dụng là mức dư nợ tốI đa mà ngân hàng nhà
nước buộc các ngân hàng thương mạI phảI tôn trọng khi cấp tín dụng cho
nền kinh tế. Nó được sử dụng là một công cụ điều tiết trực tiếp lượng tiền
cung ứng. Và nó thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao nhằm
khống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng.
2.7. Lạm phát vớI tỷ giá hốI đoái:
Khi nghiên cứu các chính sách kinh tế mà nhà nước đã điều hành và
sử dụng trong hơn 20 năm đổI mớI của đất nước, thì có thể nói việc điều
hành, cảI cách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là một thành công lớn, vì nó phù
hợp với quá trình cảI cách nền kinh tế nói chung và quá trình cảI cách nền tài
chính tiền tệ nói riêng. Chính sách tỷ giá hối đoái đã góp phần kiềm chế lạm
phát , thực hiện mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu, cảI thiện cán cân thanh toán quốc
tế, góp phần loạI trừ tách động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status