Ảnh hưởng của tình trạng Dollar hóa đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay- Nguyên nhân và giải pháp khắc phục - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
ảnh hởng của tình trạng dollar hoá đối với nền kinh tế việt nam hiện nay
nguyên nhân và giải pháp khắc phục
Trong những năm gần đây, vấn đề dollar hoá ngày càng thu hút sự quan
tâm của các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia trong lĩnh vực tài
chính tiền tệ ngân hàng. Dollar hoá là tình trạng phổ biến của các nớc đang
phát triển và các nớc đang trong quá trình chuyển đổi. ở những nớc này, tình
trạng lạm phát cao thờng là trên 2 con số, đồng tiền trong nớc mất ổn định,
mất giá... tức là đồng tiền bị mất lòng tin, nên các chức năng thuộc tính của
tiền tệ bị thu hẹp, nhờng chỗ cho ngoại tệ mạnh, chủ yếu là dollar Mỹ, lấn l-
ớt.
Tại Việt nam, tình trạng dollar hoá trong nền kinh tế đã diễn ra trong
nhiều năm nay sau một thời gian dollar hoá có xu hớng chững lại do lạm phát
ổn định, kiểm soát ngoại tệ chặt chẽ, lãi suất huy động USD ở mức thấp.
Nhằm ngăn chặn hiện tợng dollar hoá, Ngân hàng Nhà nớc đã có chỉ đạo tìm
kiếm giải pháp hạn chế dollar hoá,mà tập trung nhất là đợc thể hiện tại hội
nghị triển khai nhiệm vụ của ngành Ngân hàng năm 2001.
Trong quá trình đổi mới hoạt động nền kinh tế đất nớc, Đảng và Nhà n-
ớc ta chủ trơng thực hiện đờng lối kinh tế mở cửa và hội nhập với khu vực và
thế giới. Thực hiện đờng lối đó, chúng ta đã gia nhập khối ASEAN, ký kết
Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ, cam kết tham gia AFTA và trong tơng lai sẽ
tham gia vào tổ chức Thơng mại thế giới (WTO). Việc hội nhập quốc tế về
kinh tế nh trên, tạo ra cho nền kinh tế nớc nhà nhiều cơ hội và đồng thời nó
cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các ngành kinh tế nớc ta. Xét trên bình
diện toàn bộ nền kinh tế, Chính phủ ta kêu gọi nguồn vốn đầu t nớc ngoài vào
trong nớc. Nhờ đó làm cho nền kinh tế trong nớc phát triển, thu nhập ngời
dân tăng lên và tạo công ăn việc làm cho một bộ phân dân c, nhng bên cạnh
đó nó cũng gây ra tình trạng dollar hoá. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên
nhân duy nhất gây nên tình trạng này mà nó còn do nhiều nguyên nhân khác
gây ra.

Đồng ngoại tệ đợc coi là phơng tiện thanh toán, cất trữ tồn tại song song với
đồng nội tệ... Tình trạng buôn lậu cha đợc kiểm soát chặt chẽ, nhất là buôn
lậu qua biên giới, buôn bán tiểu ngạch.
Trình độ tâm lý và dân trí của ng ời dân : tại các nớc có trình độ dân trí
cha cao ngời dân vẫn còn thói quen giữ vàng và dollar để tránh rủi ro. Do
vậy thờng xảy ta tình trạng dollar hoá trong nền kinh tế.
Trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng : Khi hệ thống ngân hàng
còn non trẻ thì hoạt động thanh toán cha phát triển, khoa học công nghệ hỗ
trợ cho việc hiện đại hoá máy móc, trang thiết bị còn lạc hậu cha theo kịp với
các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới. Điều này cũng là một trong
Trịnh Thị Thu Hà - 3022 2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
những nhân tố không nhỏ gây ảnh hởng trực tiếp đến tình trạng dollar hoá
nền kinh tế hiện nay.
Chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối cùng với mức độ đảm
bảo tính nghiêm minh của cơ chế quản lý : Mục tiêu hàng đầu của chính sách
tiền tệ là ổn định giá trị của tiền tệ, tức là ổn định sức mua của tiền tệ. Nếu
mục tiêu này đạt đợc cùng với cơ chế quản lý ngoại hối chặt chẽ thì tình
trạng dollar hoá nền kinh tế rất khó xảy ra.
Khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ(đồng tiền của quốc gia đó) : Khi
đồng tiền của một quốc gia lâm vào tình trạng lạm phát hoặc nền kinh tế có
mức tăng trởng và GDP thấp, khoa học kỹ thuật cũng nh cơ sở hạ tầng không
phát triển hoặc phát triển chậm... so với các nớc trong khu vực sẽ dẫn đến
việc đồng tiền nội tệ của nớc đó sẽ không đợc a chuộng cho việc thanh toán
xuất nhập khẩu cũng nh việc cất trữ vì giá trị không ổn định. Vì vậy nớc đó
phải sử dụng đồng tiền khác để thay thế.
3. Các loại dollar hoá :
Về cơ bản, dollar hóa gồm ba loại chính, đó là : Dollar hóa không chính
thức(unoficial dollarization) ; Dollar hoá bán chính thức(semiofcial
dolarization) và Dollar hoá chính thức(official dollarization).

đợc tính bằng nội tệ nhng mọi ngời đều liên tởng đến ngoại tệ theo tỷ giá hối
đoái.
Dollar hoá không chính thức rất phổ biến ở các nớc đang phát triển.Tại
thời điểm tháng 01 / 2002 có các nớc :
- Dollar hoá không chính thức(USD) : hầu hết các nớc Mỹ - Latinh và
Caribê nh Argentina, Bôlivia, Mexicô, Pêru, Trung Mỹ ; hầu hết các nớc
thuộc Liên xô cũ nh Armenia, Turkey và Việt Nam.
- Dollar hoá không chính thức(các ngoại tệ khác) : Đồng France
Pháp : một số nớc trớc đây là thuộc địa của Pháp ; Đồng Mark của Đức :
Balkans ; Đollar Hồng Kông : Macao và phía nam Trung Quốc ; Đồng Rúp
của Nga : Belarus.
b. Dollar hoá bán chính thức (semioficial dollarization) :
Trên thế giới có khoảng 12 nớc đợc IMF xếp là các nớc " dollar hoá bán
chính thức " hay có hệ thống lu hành hai đồng tiền. Tại các nớc này, đồng
ngoại tệ là đồng tiền đợc lu hành hợp pháp và thậm chí có thể chiếm u thế
trong các tài khoản tiền gửi ngân hàng, nhng đóng vai trò thứ cấp trong việc
trả lơng, thuế và nhng chi tiêu hàng ngày. Không giống các nớc có dollar hoá
chính thức, các nớc dollar hoá bán chính thức duy trì Ngân hàng trung ơng
hay một cơ quan tiền tệ có quyền hạn tơng tự để thực hiện chính sách tiền tệ
của họ.
Theo thời điểm tháng 01 / 2000, có các nớc :
Trịnh Thị Thu Hà - 3022 4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Dollar hoá bán chính thức (USD) : Bahamas, Cambodia,
Laos,Thailand, Liberia
- Dollar hoá bán chính thức (ngoại tệ khác) : Bhutan(Rupi của ấn Độ)n;
Bosnia (Mark của Đức, Kuna của Croatia, Dinar của Yugoslav) ;
Brunei(dollar Singapo); Channel Islands(Pound của Anh) ; Lesotho(Rand của
Nam Phi) ; Luxembourg(France của Belgian) ; Montegro(Mark của Đức,
Dinar của Yugoslav) ; Namibia (Rand của Nam Phi) ; Tajikistan(Rup của

trạng này có thể đợc chính phủ quốc gia đó chính thức tuyên bố thừa nhận, đ-
ợc dụng trong chi trả lơng, thanh toán mua bán hàng hoá và dịch vụ cho phép
sử dụng đô la Mĩ trong các giao dịch thanh toán nội địa khác nh Enxanvado,
Ecuador, Panama... hoặc không tuyên bố chính thức.
Theo IMF đánh giá năm 1998, có 18 nớc đợc xếp là nớc có mức độ
dollar hoá cao, tức là tiền gửi ngoại tệ trên M2 trong nền kinh tế lớn hơn
30%. Đó là các nớc : Argetina, Azerbaijian, Belaus, Bolivia, Cambodia,
Costarica, Croatia, Georgia, Guinea bissau, Laos, Latvia, Mozambique,
Nicagua, Peru, Saotome, Principe, Tajikistan, Turkey, Uruguay và 34 nớc
khác đợc IMF xếp là nớc có mức độ dollar hoá vừa phải với tỉ lệ tiền gửi
ngoại tệ trên M2 khoảng 16,4%. Theo thống kê năm 2001 của IMF thì
Enxanvado chính thức thực hiện dollar hoá nền kinh tế từ 01/01/2001 Đây là
nớc Mĩ- La tinh thứ ba sau Panama và Ecuado dollar hoá nền kinh tế.
Tình trạng dollar hoá tại các thị trờng đang lên đợc lựa chọn bởi IMF. Trịnh Thị Thu Hà - 3022 6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

TrÞnh ThÞ Thu Hµ - 3022 7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Các tác động của dollar hoá
a. Tác động tích cực :
Quá trình dollar hoá có thể có một số tác động đợc coi là tích cực :
Việc sử dụng đồng dollar sẽ tạo cho nền kinh tế " một cái van giảm
nhẹ sức ép " của những mất cân đối, kết quả của tính không hiệu quả dới cơ
chế kế hoạch tập trung, đồng thời cung cấp cho các tác nhân kinh tế tự bảo vệ
chống lại lạm phát và phơng tiện đẻ mua hàng hoá ở thị trờng phi chính thức.
Hạ thấp chi phí giao dịch : ở những nớc dollar hoá chính thức, các chi
phí nh chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang

hoá chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát
mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thơng mại và đầu t quốc tế. Đấc biệt là khi
một nền kinh tế bị dollar hoá hoàn toàn thì Ngân hành trung ơng sẽ không
còn khả năng phát hành tiền và gay ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nớc
sẽ không trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt, kỷ luật
về tiền tệ và ngân sách đợc thắt chặt. Do vậy, các chơng trình ngân sách sẽ
mang tính tích cực hơn.
b. Tác động tiêu cực :
Với những tác động tích cực nêu trên dollar hoá cũng bao hàm nhiều tác
động tiêu cực. Đó là các tác động :
Xét về góc độ tài chính :
- Dollar hoá làm yếu kém hoạt động và hiệu quả chính sách tài chính :
Nó hạ thấp doanh thu từ phát hành tiền(seigniorage- is revenue from issuing
money) và làm trầm trọng hơn tác động lạm phát từ việc tài trợ thâm hụt
ngân sách thông qua hệ thống ngân hàng(ở Achentina, những năm sâu khi
tiến hành dollar hoá, doanh thu từ việc phát hành tiền giảm 0,3% GDP).
Dollar hoá cũng cho phép một bộ phận nhất định các hoạt động kinh tế trốn
thuế. Dollar hoá cũng làm yếu kém hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc
xét về khả năng tạo lợi nhuận cũng nh đóng góp cho ngân sách, đặc biệt là
các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp vì nó đã góp phần làm chệch hớng
sản xuất sang thị trờng không chính thức.
- Cần chi phí lớn trong việc thu hồi nội tệ và đa nhoại tệ vào lu thông
: Các nớc áp dụng dollar hoá chính thức cần phải có lợng ngoại tệ đủ để thay
thế số nội tệ đang lu thông. Nghiên cứu của Stanley Fihser năm 1982 cho
thấy chi phí trung bình đối với các nớc tiến hành dollar hoá chính thức vào
những năm 70 tơng đong 4%- 5% GDP.
Xét về góc độ tiền tệ :
- Dollar hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ : Dollar hoá không
chính thức có thể khiến cho cầu về nội tệ không ổnn định. Nếu mọi ngời bất
ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một

của phá giá tiền tệ sẽ trở nên yếu kém do phá giá tiền tệ cỉ tác động đến một
bộ phận nhỏ hơn các tài sản có tính thanh khoản . Sự yếu kém của chính sách
tỷ giá xuất hiện bất kể có hay không trên thị trờng phi chính thức so với thị
trờng chính thức.
Bên cạnh đó, nếu mặt bằng giá cả trong nớc tăng nhanh hơn ở Mỹ thì
hậu quả là đồng dollar sẽ tăng giá trị thực, khả năng cạnh tranh so với Mỹ(và
các nớc còn lại trên thế giới) sẽ giảm sút. Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị
trờng thế giới thực hiịen phá giá đồng tiền thì quốc gia bị dollar hoá sẽ không
còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua viêc
Trịnh Thị Thu Hà - 3022 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status