Thực trạng về quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo cân đối quỹ BHXH được lâu dài - Pdf 12


Lời nói đầu
Từ hàng chục năm nay, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần quan
trọng trong việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tợng hởng bảo
hiểm xã hội và gia đình họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống nh ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm
hoặc mất nguồn thu nhập. Chính sách BHXH cũng có tác dụng động viên công
nhân viên chức, lực lợng vũ trang yên tâm công tác sản xuất, chiến đấu góp
phần thắng lợi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng XHCN. Bớc sang cơ chế kinh tế mới với quan hệ lao động phong
phú, đa dạng, chính sách BHXH trong cơ chế cũ không còn phù hợp nữa. Do đó
việc nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận nhằm đổi mới hoàn thiện
chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình mới là một yêu cầu cấp thiết.
Quỹ BHXH là một nội dung rất quan trọng trong chính sách BHXH. Quỹ
BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng nó vừa mang tính
kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan
trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. Chính vì vậy,
việc đảm bảo hệ thống tài chính cho quỹ BHXH là hết sức cần thiết và mang ý
nghĩa sống còn đối với hoạt động của BHXH. Thông qua việc xem xét đánh giá
cơ chế quản lý BHXH ở Việt Nam từ đó đa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
và đổi mới cơ chế quản lý quỹ BHXH cho phù hợp với giai đoạn mới. Từ những
lý do trên và quá trình thực tập tôi đã chọn đề tài "Thực trạng về quỹ BHXH ở
Việt Nam hiện nay, kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo cân đối quỹ
BHXH đợc lâu dài".
Kết cấu đề tài gồm 3 chơng:
CHƯƠNG I:Lý luận chung về BHXH và quỹ BHXH.
1
CHƯƠNG II:Thực trạng về quỹ BHXH ở Việt Nam.
CHƯƠNG III:Một số kiến nghị nhằm đảm bảo cân đối quỹ BHXH

đau, tai nạn, sinh đẻ ... thì phải nghỉ việc và không có lơng, cuộc sống bị đe doạ.
3
Ngời lao động đã ý thức đợc sự cần thiết phải có thu nhập đề phòng khi họ gặp
rủi ro, tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm bảo một
số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, thai
sản ... Lúc đầu giới chủ cam kết đảm bảo cho ngời lao động những khoản thu
nhập nhất định đó. Song nhiều khi rủi ro xảy ra liên tục buộc ngời chủ phải chi
ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn. Do vậy, giới chủ đã chi ít hơn nên
xuất hiện mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn này ngày càng
gay gắt.
Để giải quyết mâu thuẫn này đã xuất hiện một bên thứ ba, đóng vai trò
trung gian nhằm giải quyết mâu thuẫn và điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ. Điều
đó thay cho việc giới chủ và giới thợ phải trả trực tiếp một khoản tiền khi ngời
lao động bị ốm đau, tai nạn ... Giới chủ có thể trích ra hàng tháng một số tiền
nhỏ đợc tính toán chặt chẽ dựa trên những biến cố của tập hợp những ngời lao
động. Số tiền này giao cho bên thứ ba dồn tích thành một quỹ tiền tệ. Khi ngời
lao động gặp rủi ro, bên trung gian sẽ chi trả theo cam kết không phụ thuộc vào
giới chủ có muốn hay không, làm nh thế một mặt giới chủ đỡ khó khăn về mặt
kinh tế do không phải chi trả một lúc những khoản tiền lớn, mặt khác ngời lao
động làm thuê cũng đợc đảm bảo một phần thu nhập khi họ gặp rủi ro. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện thì cơ chế này bộc lộ nhiều bất cập, tính pháp lý
không cao. Do vậy, nhiều chủ sử dụng lao động đã không tự giác tham gia, tính
chất rủi ro còn quá lớn không có sự đảm bảo về tài chính một cách vững chắc.
Trớc tình hình đó Nhà nớc phải đứng ra can thiệp một mặt làm tăng vai trò của
Nhà nớc,mặt khác nhà nớc hỗ trợ thêm từ ngân sách và buộc giới chủ và thợ
phải góp thêm để đảm bảo chi trả các chế độ cho ngời lao động. Từ đó, cả giới
chủ và thợ đều đợc đảm bảo và họ thấy có lợi. Các nguồn đóng góp của giới
chủ, thợ và sự hỗ trợ của Nhà nớc hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung,đó là
quỹ BHXH.
Mặt khác, khi nền kinh tế ngày càng phát triển,công nghiệp hoá,hiện đại

động bị rơi vào các trờng hợp làm giảm hoặc mất thu nhập nói trên và hội đủ
các điều kiện quy định thì họ đợc hởng trợ cấp với mức hởng, thời điểm và thời
gian hởng theo quy định của Nhà nớc. Ngoài ra, BHXH còn làm cho ngời lao
5
động gắn bó hơn với công việc, sống và làm việc có trách nhiệm hơn đối với
chính mình và đối với cộng đồng- điều này đã góp phần đáng kể vào việc nâng
cao năng suất, hiệu quả làm việc của ngời lao động. BHXH góp phần hạn chế
và điều hoà các mâu thuẫn xảy ra giữa những ngời lao động và giới chủ, tạo môi
trờng làm việc ổn định cho tất cả các bên khi tham gia BHXH để từ đó tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thực hiện tăng trởng
và phát triển kinh tế.
b.Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc:
BHXH không chỉ bảo đảm ổn định cuộc sống cho ngời lao động và gia
đình họ khi ngời lao động gặp rủi ro mà nó còn bảo vệ cho ngời sử dụng lao
động, tạo điều kiện cho họ ổn định tài chính để tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả.
BHXH còn bảo vệ và tăng cờng sức khoẻ cho ngời lao động góp phần tái
sản xuất giản đơn sức lao động cho ngời lao động. Giúp ngời lao động nhanh
chóng trở lại làm việc góp phần tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp và nền kinh
tế quốc dân.
BHXH góp phần ổn định xã hội ,an toàn xã hội ,nhà nớc đỡ gánh nặng
đối với ngời bị tàn tật, ngời già vì họ có thu nhập từ BHXH.
c.Phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia:
Cũng giống nh tất cả các loại hình bảo hiểm khác, BHXH cũng dựa trên
nguyên tắc lấy số đông bù số ít và vì vậy ngời lao động bình đẳng trong nghĩa
vụ đóng góp cũng nh trong quyền lợi nhận đợc từ quỹ BHXH. Tập hợp tất cả
những ngời đóng BHXH thuộc tất cả các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Bao gồm tất cả các loại công việc
từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ nhàng đến nặng nhọc độc hại... Chính vì thế
tính chất xã hội của BHXH là rất cao. BHXH phân phối lại thu nhập giữa các

Trong tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua
ngày 10/12/1948 có nêu: Tất cả mọi ngời với t cách là thành viên của xã hội có
quyền hởng BHXH. Quyền đó đặt trên cơ sở sự thoã mãn các quyền về kinh tế,
xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển của con ngời ...
7
Theo Tổ chức lao động thế giới gọi tắt là ILO, BHXH đợc hiểu là sự bảo
vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp
công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống lại tình trạng
khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm
đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật, chết; thêm vào đó BHXH bảo vệ
việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình.
BHXH đợc định nghĩa nh vậy phản ánh tổng quát về mục tiêu, bản chất
và chức năng của sự nghiệp này. BHXH có mục đích cuối cùng là hớng tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội, thể hiện sự gắn kết quyền lợi và trách
nhiệm của các cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội với mỗi ngời.
BHXH là một trong những quyền cơ bản của con ngời trong một xã hội
hiện đại và mục tiêu cao cả nhất của nó là vì sự an toàn, phòng tránh đợc hậu
quả về những tổn thất, gây ra bởi những rủi ro trong cuộc sống hay trong quá
trình lao động. BHXH hớng tới sự phát triển, sự đảm bảo tốt nhất cho con ngời,
góp phần quan trọng vào tạo lập sự ổn định và thịnh vợng của xã hội .
Nh vậy ta có thể nêu khái niệm BHXH nh sau:
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ng-
ời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính độc
lập ,tập trung do sự đóng góp của ngời sử dụng lao động và ngời lao động,nhằm
đảm bảo sự an toàn đời sống cho ngời lao động và gia đình họ,góp phần đảm
bảo an toàn xã hội.
2.2 Bản chất của BHXH:
2.1. Về phơng diện cá nhân, BHXH là một nhu cầu khách quan của con ng-
ời:

Việc sử dụng quỹ BHXH để đầu t sinh lời đợc thấy rõ trong các nớc có nền kinh
tế thị trờng phát triển. Hiện tại BHXH Việt nam bắt đầu thực hiện hoạt động
này nh dùng quỹ để mua trái phiếu. Trong tơng lai, việc sử dụng quỹ BHXH
vào các hoạt động đầu t cũng sẽ đợc mở rộng ra với nhiều hình thức khác nhau.
Kinh tế càng phát triển thì BHXH ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế, có
9
thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh
tế của mỗi nớc.
2.3.Về phơng diện chính trị:
BHXH là sự liên kết giữa những ngời lao động khác nhau trong xã hội
cũng vì lợi ích chung của cộng đồng, trong đó có cá nhân tham gia BHXH.
BHXH cũng phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định. Đối với quốc
gia đây còn là những hoạt động thể hiện thái độ trách nhiệm của Chính phủ đối
với ngời dân trong xã hội. Trong rất nhiều nớc, sự không ổn định hay khủng
hoẳng của hệ thống BHXH có tác động rất mạnh đến hệ thống chính trị của các
nớc đó. Chính vì vậy chính sách BHXH nằm trong hệ thống chung của các
chính sách về kinh tế, xã hội và là một trong những bộ phận hữu cơ trong hệ
thống chính sách quản lý đất nớc của các quốc gia.
2.4.Về mặt xã hội:
BHXH đợc xem nh là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm
đảm bảo đời sống cho ngời dân và làm lành mạnh xã hội. Thông qua đó, bảo vệ
và phát triển nguồn lao động xã hội, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn
định trật tự xã hội nói chung. BHXH mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc vì
lợi ích của con ngời trong những hoàn cảnh gặp khó khăn, vì an toàn xã hội và
có ý nghĩa xã hội lâu dài. Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên
cơ sở quan hệ lao động và diển ra giữa 3 bên: bên tham gia, bên BHXH và bên
đợc BHXH.
Nh vậy, tổ chức và vận hành một hệ thống BHXH phải đứng trên một
quan điểm tổng thể, toàn diện. BHXH không thể tách khỏi một thể chế chính trị
nhất định và phải dựa trên nền tảng kinh tế cụ thể. BHXH không phải là loại

Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài ngời lao
động còn có ngời sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dới sự bảo trợ của Nhà
nớc. Ngời sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để
bảo hiểm cho ngời lao động mà họ sử dụng. Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng
góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động, phải có trách nhiệm quản lý và
sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với ngời lao động. Nó
quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững.
11
b. Các loại chế độ BHXH:
Theo công ớc số 102 Công ớc về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
quy định gồm có 9 chế độ BHXH nh sau:
1) Chăm sóc y tế.
2) Trợ cấp ốm đau.
3) Trợ cấp thất nghiệp.
4) Trợ cấp tuổi già.
5) Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
6) Trợ cấp gia đình.
7) Trợ cấp thai sản.
8) Trợ cấp tàn tật.
9) Trợ cấp mất ngời nuôi dỡng.
c.Mức đóng và hởng:
Tuỳ thuộc vào sự phát triển chung của nền kinh tế và của lĩnh vực BHXH
mà có thể xác định một số mức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đa dạng về
BHXH của ngời lao động. Mức đóng BHXH có liên quan đến thu nhập dùng để
tính tỷ lệ đóng BHXH. Mức đóng và hởng có tác động, ảnh hởng trực tiếp đến
quy mô và số lợng tham gia vào BHXH. Điều này đòi hỏi phải có những nghiên
cứu, thiết kế các chính sách và nội dung của từng chế độ cụ thể thích hợp trong
BHXH.
II. Khái niệm chung về quỹ BHXH:
1.Sự cần thiết của quỹ BHXH:

Qũy BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết hậu
quả của rủi ro cho ngời tham gia, đảm bảo an toàn kinh tế cho ngời lao động và
gia đình họ, giảm thiểu tối đa thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết
kiệm cho ngân sách Nhà nớc. Quỹ sử dụng để trợ cấp cho ngời lao động và gia
đình họ khi họ gặp phải rủi ro và một phần chi phí cho sự nghiệp quản lý
BHXH.
2. Khái niệm quỹ BHXH:
Trong đời sống kinh tế- xã hội ngời ta thờng nói đến rất nhiều loại quỹ
khác nhau nh quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ dự
13
trữ quốc gia. Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các ph-
ơng tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo những
mục tiêu và định hớng trớc. Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng và điều kiện vật
chất để thực hiện các hoạt động BHXH.
Tất cả các loại quỹ không chỉ tồn tại với một khối lợng tính tại tại một
thời điểm mà luôn luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm
đi ở đầu ra với một khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho đầu
ra ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều hành đợc
một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một thời điểm
mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một khoảng thời gian
nhất định.
Theo những quan điểm nói trên về quỹ nói chung thì quỹ BHXH là tập
hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời tham gia BHXH hình thành một
quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những ngời đợc BHXH khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm.
Nh vậy, quỹ BHXH vừa là một quỹ tiêu dùng vừa là một quỹ dự phòng.
Quỹ tiêu dùng đợc thể hiện ở mục đích chi của quỹ BHXH là cho những ngời h-
ởng BHXH, là một quỹ dự phòng thể hiện quỹ chi trả trợ cấp khi có rủi ro xảy
ra và ngời lao động có thể đợc hởng trợ cấp ở một thời điểm rất xa so với thời
điểm đóng góp. Đồng thời quỹ BHXH còn mang tính chất kinh tế và mang tính

3.4. Các nguồn thu khác:
Bao gồm các nguồn thu chủ yếu sau:
- Tiền lãi, tiền lời từ các hoạt động đầu t nhằm bảo toàn và phát triển quỹ
BHXH. Nhng phải chú ý là phần vốn nhàn rỗi mới đợc mang đi đầu t. Bởi vì khi
thực hiện các hoạt động này nếu bị rủi ro thì không ảnh hởng đến phần quỹ
BHXH chi trả cho các đối tợng đợc hởng.
- Các nguồn tài trợ và viện trợ khác ở trong nớc, ngoài nớc và cộng đồng
quốc tế, kể cả các tổ chức phi Chính phủ và các cá nhân hảo tâm ... Tuy nhiên
nguồn này không ổn định và không nhiều.
15
- Giá trị các tài sản cố định của BHXH đợc đánh giá lại theo các quy định
của Nhà nớc.
- Các nguồn thu khác: Tiền phạt do nộp chậm BHXH so với thời gian quy
định, tiền truy thu khi các đơn vị sử dụng lao động và ngời lao động đóng thiếu
tiền BHXH hoặc nhận thừa so với chế độ đợc hởng thụ.
Thông thờng sự đóng góp của ba bên: Ngời lao động, ngời sử dụng lao
động và Nhà nớc tạo ra nguồn quỹ cơ bản nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tùy
theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nớc mà tỷ lệ đóng góp của mỗi
bên đợc quy định khác nhau.
Ví dụ: ở Việt Nam, theo Nghị Định 12/CP (26/1/1995) đã quy định: Quỹ
BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung ngoài ngân sách Nhà nớc đợc hình
thành từ ba nguồn:
+ Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ lơng của những
ngời tham gia trong đơn vị.
+ Ngời lao động đóng bằng 5% lơng hàng tháng.
+ Ngân sách Nhà nớc (NSNN) đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện
chế độ BHXH đối với ngời lao động.
Nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH là cân đối thu- chi.
4. Phân loại quỹ BHXH:
Để quản lý và sử dụng quỹ BHXH một cách có hiệu quả cần phải phân

quỹ BHXH ngày càng nhiều hơn thì ta phải đem một phần đi đầu t nhng phải
đảm bảo an toàn và hiệu quả.
Mục tiêu hoạt động của quỹ BHXH là tự cân đối thu, chi do đó quỹ
BHXH luôn luôn phải có một lợng tiền tích luỹ để chi cho các chế độ trợ cấp
dài hạn nh: hu trí, tử tuất, thơng tật. Lợng tiền tồn tích này đợc Chính phủ cho
phép đầu t tăng trởng quỹ BHXH. Tuy nhiên việc sử dụng quỹ BHXH để đầu t
phải theo đúng quy định của Nhà nớc, đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro đến mức
thấp nhất, bảo toàn giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội. Để việc quản lý công tác
đầu t BHXH đạt hiệu quả, chúng ta đi tìm hiểu các nguyên tắc trung đầu t quỹ
BHXH.
17
- An toàn: thực sự có tầm quan trọng đặc biệt đối với dự trữ kỹ thuật của
hệ thống trợ cấp, thậm chí rủi ro mất giá trị có thể xảy ra đối với đầu t của dự
trữ sự cố trong hệ thống trợ cấp ngắn hạn.
- Lợi nhuận: Bất cứ một khoản đầu t nào đợc mang đi đầu t đều cũng
muốn đạt đợc một khoản lợi nhuận nhất định. Tính toán tài chính đợc dựa trên
lãi suất tính toán, nếu không hệ thống sẽ bị thâm hụt tài chính, mà phải bù đắp
bằng cách này hay cách khác.
- Khả năng thanh toán:
- Lợi ích kinh tế - xã hội:
Hiểu biết đợc tầm quan trọng của công tác đầu t tăng trởng quỹ BHXH
mà Chính phủ cho phép đợc sử dụng lơng tiền nhãn rỗi của quỹ BHXH để đầu
t. Mục 2 Điều 17 Quyết định số 20/1998/QĐ - TTg ngày 26/1/1998 của Thủ t-
ớng Chính phủ có quy định.
BHXH Việt Nam đợc thực hiện các biện pháp đầu t để bảo tồn và tăng tr-
ởng quỹ BHXH nh:
+ Mua trái phiếu, tín phiếu của kho bạc Nhà nớc và các ngân hàng thơng
mại của Nhà nớc.
+ Đầu t vốn vào một số dự án và doanh nghiệp lớn của Nhà nớc có nhu
cầu về vốn đợc Thủ tớng Chính phủ cho phép và hỗ trợ.

2. Pháp.
a. Đối t ợng tham gia.
BHXH ở Pháp có mầm mống từ thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của cứu
trợ công cộng và tơng hỗ. Hiện nay, đối tợng tham gia BHXH là những ngời lao
động có thu nhập trong tất cả các thành phần kinh tế (Chính phủ quy định mức
gọi là có thu nhập).
b. Quỹ BHXH.
Nguồn tài trợ quỹ BHXH đợc xác định theo một cơ chế hết sức phức
tạp. Cụ thể nh sau:
19
- Quỹ BH y tế, thai sản, thơng tật, chết: Sự đóng góp vào quỹ này đợc
tách biệt ra hai khoản: Đóng cho rủi ro nghề nghiệp và rủi ro phi nghề nghiệp.
Đối với rủi ro nghề nghiệp, nguồn tài trợ chính là các khoản đóng góp trên
lơng: Giới chủ đóng 12,8%, ngời lao động đóng 6,8%.
Đối với rủi ro phi nghề nghiệp khoản này đợc thu trên lơng do giới chủ đóng
toàn bộ. Tỷ lệ đóng góp đợc xác định tuỳ theo số lợng lao động trong mỗi
doanh nghiệp.
- Quỹ trợ cấp hu trí, goá bụa, trợ cấp gia đình: Nguồn tài trợ này cũng
chủ yếu từ các khoảm đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
Đối với trợ cấp hu trí, ngời sử dụng lao động phải đóng bằng 9,8%, ngời lao
động đóng 6,55% tiền lơng, tổng cộng 16,35%. Để đợc hởng trợ cấp goá bụa
ngời lao động còn phải đóng góp 0,1%.
Đối với trợ cấp gia đình ngời lao động, ngời sử dụng lao động phải đóng
góp toàn bộ với tỷ lệ 5,4% lơng của ngời lao động.
c. Các chế độ BHXH.
ở Pháp phạm vi BHXH bao gồm hầu hết các chế độ BHXH theo quy định
của ILO (9 chế độ).
3. ở một số nớc Đông á.
ở Đông á, đối với những nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển sớm trong
khu vực, để tạo lập quỹ BHXH cũng dựa vào ba nguồn cơ bản: Ngời lao động,

thuộc rất nhiều vào độ chặt chẽ và tính hiệu quả của các cơ chế và chính sách
biện pháp thu BHXH. Có thể dễ dàng nhận ra một thực tế đó là trong bất kỳ một
thể chế kinh tế, xã hội nào thì hoạt động BHXH vẫn phụ thuộc vào ngân sách
Nhà nớc ở các mức độ khác nhau, vấn đề là phụ thuộc ít hay nhiều, điều này
còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế ở mỗi giai đoạn phát triển của mỗi quốc
gia.
Kinh nghiệm của một số nớc phát triển cho thấy việc đề ra các chính
sách BHXH phải dựa trên nguyên tắc bắt buộc, để có thể thu hút đợc ngày càng
21
nhiều đối tợng tham gia; vấn đề này ngày càng trở nên quan trọng bởi sự an
toàn của quỹ BHXH. Việc chi trả các chế độ BHXH căn cứ vào mức độ đóng
góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động và đặc biệt là phụ thuộc vào
mức lơng của ngời lao động dùng làm căn cứ đóng BHXH trớc khi về hu.
Việc sử dụng các nguồn thu thuế từ lơng của ngời lao động và ngời sử
dụng lao động cho mục đích phúc lợi xã hội, đối với tất cả các công dân làm
việc trên lãnh thổ nớc mình và công dân nớc mình làm việc ở nớc ngoài nhng có
đóng thuế cho Chính phủ. Với cơ chế này, Chính phủ các nớc này cho rằng
không cần thiết có một tổ chức riêng biệt để quản lý quỹ BHXH, việc thực hiện
chi BHXH mang tính bao cấp với mục đích điều tiết thu nhập cá nhân đảm bảo
sự công bằng xã hội, vì vậy những ngời đợc hởng các chế độ BHXH đều nhận
đợc các khoản phúc lợi xã hội vợt quá mức đóng góp của mình. Mô hình xây
dựng hệ thống BHXH theo kiểu này chỉ phù hợp với điều kiện của nền kinh tế
phát triển, những nớc có mức phúc lợi xã hội cao. Trớc đây, chúng ta đã xây
dựng mô hình BHXH gần tơng tự nh mô hình này. Tuy vậy, nó đã không phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế- xã hội Việt nam bởi sự bao cấp quá lớn
của ngân sách Nhà nớc và bởi mức độ phát triển thấp của nền kinh tế.
Nh vậy, việc xây dựng mô hình BHXH phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh
kinh tế - xã hội của Việt nam trong từng thời kỳ, ngoài ra trong điều kiện đất n-
ớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng việc tăng cờng khả năng đóng góp của ng-
ời lao động, ngời sử dụng lao động để có thể giảm nhẹ sự phụ thuộc vào ngân

lại cha hoàn thiện và đồng bộ, ảnh hởng đến việc tổ chức thực hiện. Một số vấn
đề quan trọng, cấp thiết đến đời sống của đông đảo công nhân viên chức nh chế
độ hu trí, trợ cấp mất sức lao động, thôi việc, chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp
cha đợc quy định.
24
Nhìn chung giai đoạn này các chế độ bảo hiểm xã hội cha đợc quy định
một cách toàn diện, quỹ bảo hiểm xã hội cha đợc hình thành. Tuy nhiên, các
chế độ trợ cấp, phụ cấp mang tính chất bảo hiểm xã hội trong giai đoạn đầu
thành lập nớc, trong kháng chiến và những năm đầu hoà bình lập lại đã có tác
dụng rất to lớn, giải quyết một phần những khó khăn trong sinh hoạt của công
nhân viên chức Nhà nớc và gia đình họ, củng cố thêm lòng tin của nhân dân vào
Đảng, Chính phủ và làm cho mọi ngời an tâm, phấn khởi đẩy mạnh công tác,
sản xuất, thu hút lực lợng lao động vào khu vực kinh tế Nhà nớc.
2.Thời kỳ thực hiện BHXH theo điều lệ tạm thời (1961-1995):
2.1 Những quy định về chế độ chính sách bảo hiểm xã hội:
Để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nớc, đáp ứng yêu cầu
không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức Nhà nớc, các chế độ
trợ cấp xã hội cần đợc bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với thời kỳ xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Tại Điều 32 Hiến
pháp năm 1959 quy định rõ: quyền của ngời lao động đợc giúp đỡ về vật chất
khi già yếu, mất sức lao động, bệnh tật. Năm 1960 Hội đồng Chính phủ có Nghị
quyết trong đó đã xác định đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lơng, cần cải tiến
và ban hành các chính sách cụ thể về bảo hiểm xã hội và phúc lợi cho công
nhân viên chức, cán bộ. Thực hiện Nghị quyết trên, các Bộ Lao động, Bộ Nội
vụ, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Tổng Công đoàn Việt Nam đã phối hợp nghiên cứu
xây dựng Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội trình Hội đồng Chính phủ ban
hành. Ngày 14/12/1961 Uỷ ban thờng vụ Quốc hội phê chuẩn, Chính phủ đã ra
Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 ban hành kèm theo Điều lệ tạm thời về
các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nớc. Nội dung của
Điều lệ đợc tóm tắt nh sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status