giải pháp phát triển kttt định hướng xhcn ở việt nam - Pdf 10

Lời mở đầu
Hiện nay, nớc ta đang phát triển đi theo con đờng định hớng xã hội chủ
nghĩa. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra con đờng đúng đắn cùng các biện
pháp tránh sai lệch, chệch bớc. Trong diễn văn khai mạc đại hội IX Chủ tịch
nớc Trần Đức Lơng có nói: "Bớc vào thời kỳ mới, cách mạng nớc ta vừa đứng
trớc thời cơ vận hội lớn, vừa phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức lớn
không thể xem thờng. Nắm bắt cơ hội vận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vợt
qua thách thức với tinh thần cách mạng tiến công đa cách mạng Việt Nam tiến
lên mạnh mẽ. Đó là vấn đề sống còn đối với chúng ta trong thời kỳ mới". Quả
đúng nh vậy, kết quả đạt đợc hôm nay là không nhỏ, phải biết coi trọng giữ
gìn. Nhất là xung quanh ta vẫn còn nhiều kẻ rình mò luôn tìm cách phá hoại,
gây rối. Xác định đúng đờng lối luôn là công việc thờng xuyên, liên tục và có
tầm quan trọng cao. Hiện nay nớc ta đang trong kinh tế thị trờng theo định h-
ớng XHCN. Việc đa ra các định hớng, đờng lối để phát triển KTTT theo
XHCN nh thế nào? trớc tiên ta đi nghiên cứu sự ra đời của nó, sự phát triển
của nó. Hiện trạng thế nào để đa ra các giải pháp giải quyết một cách phù hợp.
Vì vậy tôi làm tiểu luận này một mặt phân tích tính tất yếu khách quan, đặc
điểm kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mặt khác đa ra
các giải pháp giải quyết các vấn đề hiện nay, cho dù vậy tôi không cho rằng
các giải pháp tôi đa ra là hoàn chỉnh nhng mong rằng nó cũng có chút ý nghĩa.
1
Nội dung
I- Một số vấn đề về kinh tế thị trờng.
1. Sự hình thành và phát triển của KTTT.
Về phơng diện kinh tế có thể khái quát rằng lịch sử phát triển của sản
xuất và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua 2 kiểu tổ chức kinh
tế thích ứng với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao
động xã hội, hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là: Thời đại kinh tế
tự nhiên, tự cung - tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá, mà giai đoạn cao của
nó đợc gọi là kinh tế thị trờng.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó

suất chiết khấu của ngân hàng, điều tiết xuất nhập khẩu ). Trên thế giới ngày
nay không có Nhà nớc nào không can thiệp vào kinh tế chỉ khác nhau ở biện
pháp, mục tiêu và kết quả đạt đợc. Kinh tế thị trờng hiện đại ở các nớc đều có
sự kết hợp giữa cơ chế thị trờng (bàn tay vô hình) và bàn tay hữu hình của Nhà
nớc.
Khi lực lợng sản xuất còn ở mức thấp, ứng với nó là sự tồn tại nhiều hình
thức sở hữu và phân tán, lực lợng sản xuất từng bớc phát triển sẽ là tỉ lệ thuận
với tiến trình tập trung hoá và xã hội hoá quan hệ sở hữu mà đinhr cao của nó
là sở hữu toàn dân. Sự hình thành các tập đoàn kinh tế, các công ty cổ phần,
các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia hoặc các đại nông trại ở nông thôn đ-
ợc coi là những biểu hiện của quá trình xã hội hoá quan hệ sở hữu ở một mức
độ nhất định do kết quả tác động biện chứng của lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất. Với cách nhìn đó thì chế độ công hữu XHCN đợc xác lập nh một tất
yếu khách quan bởi sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
cao của lực lợng sản xuất. Nhìn trên góc độ khác, trong mối quan hệ giữa
KTTT và định hớng XHCN cũng có thể nhận thấy rằng, KTTT biểu thị nổi bật
nh phơng thức vận động của lực lợng sản xuất, còn định hớng XHCN thể hiện
quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối và quan hệ quản lý) cần
đạt tới của phơng thức vận động đó CNXH ở đây cũng có thể hiểu đó là một
nền tảng kinh tế - xã hội đợc dựa trên chế độ sở hữu công cộng và chỉ có dựa
trên chế độ đó mới thực hiện đợc ý tởng cao đẹp do lịch sử giao phó là xây
dựng một xã hội công bằng, văn minh với ý nghĩa đích thực của nó. Cũng cần
nhấn mạnh thêm rằng, ở đây chỉ nói đến phát triển KTTT theo định hớng
XHCN cha phải là KTTT XHCN. Điều đó cũng có thể hiểu KTTT chỉ là một
phơng tiện để đạt tới mục tiêu XHCN. Nh vậy CNXH sẽ đạt tới trong tơng lai
nh một sự kiện lịch sử tất yếu.
2. Quan điểm của Lênin về KTTT trong CNXH (chính sách kinh tế
mới).
V.I Lênin, trớc cách mạng tháng 10, cho rằng. Trong CNXH, nền kinh tế
hàng hoá sẽ bị xoá bỏ "để tổ chức nền sản xuất không có những nhà kinh

thời gian thử nghiệm NEP ở nớc Nga trớc đây quá ngắn và thành tựu của nó
cũng cha nhiều, lại cha đợc tổng kết từ thực tiễn, để hoàn chỉnh về mặt lí luận,
đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho kinh tế thị trờng, trong
nhiều năm bị nhìn nhận bằng thái độ kì thị tại các nớc thuộc hệ thống XHCN.
Kinh tế thị trờng tuy có nhiều điểm mạnh nhng bản thân nó vốn có
những giới hạn, những khuyến tật mang tính tự phát hết sức bớng bỉnh. Hơn
thế nữa, quan hệ thị trờng còn là môi trờng thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu
cực và tệ nạn xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy đồng tiền chi phối
nhiều quan hệ giữa ngời với ngời, sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội
có chiều hớng tăng lên; lối sống ích kỷ, thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng.
KTTT có nhiều mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của CNXH. Đó là xu thế
phân hoá giàu nghèo quá mức, là tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà
chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm Đi vào kinh tế thị trờng, phải kiên quyết
đấu tranh khắc phục hạn chế tối đa những khuynh hớng tiêu cực. Trên đây là
những vấn đề khái quát nhất về KTTT. Để tìm hiểu rõ hơn vấn đề KTTT và áp
dụng ở Việt Nam nh thế nào, chúng ta tiếp tục nghiên cứu.
II- Sự phát triển kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
1. Quá trình chuyển sang kinh tế thị trờng ở nớc ta.
Nh đã nói ở trên lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế
khác nhau. Mỗi mô hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định
4
trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Song nghiên cứu một cách nghiêm tục
các mô hình đó, cùng với thời gian và kinh nghiệm thực tế, chúng ta đã rút ra
cho mình một cách nhìn đúng đắn hơn và một sự lựa chọn thực tế hơn.
Trớc đây mô hình kinh tế hiện vật đợc coi là lý tởng thì đã bộc lộ những
hạn chế và kết quả là, vô tình nó đã phủ định những mục tiêu ban đầu của
CNXH. Đặc trng cơ bản của mô hình kinh tế hiện vật là nền kinh tế bị hiện vật
hoá, t duy hiện vật, chỉ có sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là phổ biến, nền
kinh tế khép kín với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ. Trên thực
tế, yếu tố kế hoạch hoá tập trung đã loại bỏ yếu tố thị trờng, quan hệ hàng hoá

hiệu quả và một số mặt về xã hội. Mặc dù còn nhiều khuyết tật, song CNTB
đã đạt đợc trình độ cao về kinh tế kế hoạch và công nghệ cũng từ đó có thể rút
5
ra một luận đề "Không phải chế độ XHCN thua chế độ TBCN, không phải KT
XHCN thua KT TBCN mà kinh tế hiện vật thua KTTT". Bi kịch Liên Xô và
Đông Âu làm cho những ngời cộng sản chân chính đau đớn nhng cũng từ đó
mà cách nhìn thực tế hơn về kinh tế XHCN, quyết tâm đổi mới. Chính vì vậy,
đổi mới, cải cách chính là trở về những cái đã từng có trong đời sống đơng đại
mà chúng ta bỏ quan. Cần nhận thức rõ rằng, KTTT là một trong những yếu tố
của quá trình phát triển xã hội, chứ không phải là cái gì đó riêng có của
CNTB. CNXH với những mục tiêu tốt đẹp, nhng không sử dụng KTTT thì
không thể thành công không thể biến những ý tởng tốt đẹp đó thành hiện thực
của cuộc sống.
Trong lịch sử kinh tế thế giới, KTTT nh một tất yếu gắn liền với sự tồn tại
của mọi quốc gia, là con đờng dẫn đến giàu có, văn minh. Tất nhiên không
phải nớc nào chuyển sang KTTT cũng giàu có cả. Điều đó còn tuỳ thuộc vào
nỗ lực chủ quan, bản lĩnh vai trò và trí tuệ của nhà nớc ấy. ở nớc ta sự lựa
chọn mô hình KTTT là một tất yếu. Do những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt,
trong một thời kỳ dài chúng ta đã duy trì nên kinh tế hiện vật theo mô hình
của các nớc XHCN. Chế độ kinh tế xã hội đó đã tỏ rõ sức mạnh trong chiến
tranh, nhng những khuyến tật nghiêm trọng của nó lại đợc chính hoàn cảnh
chiến tranh ché lập. Mặt khác, nớc ta đi lên CNXH từ điểm xuất phát rất thấp,
cơ cấu kinh tế mang nặng đặc trng của một nớc nông nghiệp lạc hậu. Nhận rõ
điểm xuất phát đó, trong chính sách kinh tế Đảng đã có những tìm tòi với
mong muốn thoát khỏi sản xuất nhỏ, nhng những giải pháp đó đợc đặt trong
môi trờng kinh tế hiện vật, nên không mang lại kết quả.
Sau chiến tranh do nguồn việc trợ lớn từ bên ngoài bị cắt giảm đột ngột
nên khủng hoảng kinh tế xã hội ở nớc ta vốn đã gay gắt, nay càng gay gắt
thêm. Đồng thời hàng loạt thử thách làm bộc lộ đầy đủ những khuyết tật của
mô hình cũ và hệ quả của những bớc đi nóng vội, chủ quan. Trong thực tiễn

Đại hội lần thứ VI của Đảng đợc đánh dấu nh một cái mốc quan trọng
trong việc chuyển đổi cơ chế. Trên cơ sở phê phán một cách nghiêm khắc cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp mà nguồn gốc từ kinh tế hiện vật và những
hậu quả của nó, nhất quán chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, cũng từ đó tạo ra tiền đề cần thiết để chuyển sang KTT. Tổng kế 2 năm
thực hiện đại hội VI nền kinh tế phát triển, khắc phục đợc suy thoái, nền kinh
tế xã hội đã có những thay đổi căn bản đó là những căn cứ để đẩy tới một bớc
cao hơn. Đại hội lần thứ VII của Đảng nhất quán chuyển sang KTTT với
những quan điểm khá triệt để: chấp nhận thị trờng một cách cơ bản, tổng thể
lâu dài, một thị trờng thống nhất trong suốt, hoà nhập với thị trờng thế giới, thị
trờng là đối tợng quản lý của Nhà nớc. Đại hội toàn quốc lần thứ VII đã đề ra
đờng lối: "Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Điều đó đã
chỉ rõ mục tiêu và phơng thức quản lý nền KTTT theo định hớng XHCN của
nớc ta.
Đại hội VIII Đảng ta lại khẳng định "Xây dựng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, đi đôi với tăng cờng vai trò
quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN", " phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng XHCN". Năm năm qua, bên cạnh một số thuận lợi, nớc ta gặp
nhiều khó khăn: những yếu tố kém vốn có của nền kinh tế, những thiên tai lớn
liên tiếp, cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế ở một số nớc Châu á, tình hình
khu vực và thế giới diễn biến phức tạp. Trong toàn cảnh đó. Toàn Đảng và toàn
dân ta ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII đạt đợc những thành tựu quan
trọng.
7
Kinh tế tăng trởng khá, văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân
dân tiếp tục đợc cải thiện, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định; quốc
phòng và an ninh đợc tăng cờng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đợc chú
trọng, hệ thống chính trị đợc củng cố. Quan hệ đối ngoại không ngừng đợc mở

điều kiện hoạt động của thị trờng là quyền chiếm hữu tài sản khác nhau và lợi
ích của ngời sản xuất kinh doanh khác nhau, tạo động lực cạnh tranh trên thị
trờng.
Sự giống nhau giữa nền KTTT TBCN và nền KTTT định hớng XHCN
xuất phát từ tính khác quan của nó. Cả hai kiểu KTTT này đều chịu sự tác
8
động của cơ chế thị trờng với hệ thống các qui luật: qui luật giá trị, qui luật
cung cầu, qui luật cạnh tranh, qui luật lu thông tiền tệ Đồng thời cả nền
KTTT ở các nớc TBCN và nền KTTT định hớng XHCN đều là các nền kinh tế
hỗn hợp, tức là nền KTTT có sự điều tiết (quản lý) của Nhà nớc. Tuy nhiên, sự
can thiệp của Nhà nớc ở các nền kinh tế khác nhau là khác nhau. Không có
nền KTTT thuần tuý (hoàn hảo) chỉ vận hành theo cơ chế thị trờng.
Sự khác nhau giữa nền kinh tế thị trờng TBCN và nền KTTT định hớng
XHCN là ở mục tiêu, phơng thức, và mức độ can thiệp của Nhà nớc và sự can
thiệp này do bản chất của Nhà nớc quyết định. Nhà nớc trong một nền KTTT
định hớng XHCN là Nhà nớc của dân, do dân và vì dân; Nhà nớc trong nền
KTTT TBCN là Nhà nớc của giai cấp t sản. Một xu hớng rất đáng chú ý là tuy
Nhà nớc TBCN đã có ý thức tự điều chỉnh, dung hoà lợi ích của các tầng lớp
xã hội, các giai cấp khác nhau, để giảm bởi mâu thuẫn, ổn định chính trị, ổn
định xã hội, vì mục tiêu phát triển kinh tế. Song do sự chi phối và điều tiết của
các qui luật kinh tế của CNTB, của lợi ích giai cấp, nên dù họ có ý thức tự
điều chỉnh cũng khó thực hiện. Sự can thiệp của Nhà nớc đảm bảo mục tiêu
phát triển và công bằng chỉ có thể thực hiện đợc với một Nhà nớc của dân, do
dân và vì dân, Nhà nớc XHCN. Rất tiếc là không nhận thức rõ điều này nên
vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong nhân dân kể cả một bộ phận, trí thức th-
ờng nghĩ rằng cơ chế thị trờng sẽ dẫn tới CNTB, khó giữ đợc định hớng
XHCN.
2.2. Bản chất và đặc điểm của nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta.
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung hành
chính - quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận

khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nớc.
Đảng ta đã xác định, chính sách và kinh tế nhiều thành phần theo định h-
ớng XHCN có ý nghĩa chiến lợc lâu dài, có tính qui luật từ sản xuất nhỏ đi lên
CNXH, có tác dụng to lớn trong việc động viên nhân dân xây dựng kinh tế
phát triển lực lợng sản xuất. Hiện nay, trong các thành phần kinh tế thì kinh tế
Nhà nớc đóng góp vào GDP vẫn luôn chiếm tỉ trọng chủ yếu. Kinh tế Nhà nớc
đã hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế đất nớc nói chung và của
thành phố nói riêng. Tuy nhiên, trong thực tế vận hành của cơ chế thị trờng,
khu vực kinh tế Nhà nớc cha chỉ sức dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát
triển theo mục tiêu của Đảng và Nhà nớc. Với hình thức tổ chức đa dạng và
phạm vi hoạt động rộng khắp các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế đất nớc
tính chất chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nớc thể hiện qua bốn nội dung chủ
yếu sau đây: Thứ nhất, nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh tế và do đó, tạo
ra giá trị hàng hoá và dịch vụ công cộng, khả dĩ chi phối đợc giá cả thị trờng,
dẫn dắt giá cả thị trờng bằng chính chất lợng và giá cả của sản phẩm và dịch
vụ do mình cung cấp; thứ hai, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có tác dụng thúc
đẩy các ngành và các thành phần kinh tế khác phát triển; thứ ba, điều chỉnh
các "lỗ hổng" trong quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ do cơ chế thị trờng
tạo ra các lĩnh vực kinh doanh cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nhng
khả năng sinh lời thấp, không hấp dẫn khu vực t nhân đầu t nh đầu t vào cơ sở
hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trờng ; thứ t, kiểm soát
các hoạt động của thị trờng vốn và thị trờng tiền tệ để đảm bảo khả năng ổn
định kinh tế vĩ mô của Nhà nớc (các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng là các
công cụ chín yếu của Nhà nớc trong quản lý kinh tế vĩ mô). Xác định nội
dung chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nớc theo các tổ chức nêu trên sẽ giúp
chúng ta định hớng đúng việc sắp xếp lại các tổ chức kinh tế Nhà nớc hiện có,
định hớng cho hoạt động đầu t của ngân hàng Nhà nớc và thiết lập các định
chế yểm trợ phát triển chung. Nền kinh tế hàng hoá, nền KTTT phải là một
10

sản xuất kinh doanh khác nhau khác nhau, đồng thời đặt các chủ thể kinh tế
trong một cuộc cạnh tranh quyết liệt. Thông qua các công cụ chính sách kinh
tế vĩ mô xùng với việc sử dụng các lợc lợng kinh tế của mình (kinh tế Nhà n-
ớc), Nhà nớc tác động quan hệ tổng cung - tổng cầu thực hiện sự điều tiết
nền kinh tế thị trờng. Nh vậy cơ chế hoạt động của nền kinh tế là: thị trờng
diều tiết nền kinh tế, Nhà nớc điều tiết thị trờng và mối quan hệ Nhà nớc - thị
trờng - các chủ thể kinh tế là mối quan hệ hữu cơ, thống nhất.
Thứ năm, mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nớc với nền kinh tế thế
giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và toàn ven lãnh thổ của quốc gia là
nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta. Quá trình phát triển
của kinh tế thị trờng đi liền với xã hội hoá nền sản xuất xã hội. Tiến trình xã
11
hội hoá trên cơ sở của phát triển của kinh tế thị trờng là không có biên giới
quốc gia về phơng diện kinh tế. Một trong những đặc trng quan trọng của kinh
tế thị trờng hiện đại là việc mở rộng giao lu kinh tế với nớc ngoài, xung hớng
quốc tế hoá đời sống kinh tế với những khu vực hoá và toàn cầu hoá đang
ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay. Tất cả các nớc trên thế giới, dù
muốn hay không muốn, ít nhiều đều bị lôi cuốn, thu hút vào các quan hệ kinh
tế quốc tế. Tranh thủ thuận lợi lại có cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và
vợt qua thách thức là yêu cầu nhất thiết phải đợc thực hiện. Để phát hiện
trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện đại,Việt Nam không thể đóng cửa, khép
kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung, tự cấp, mà phải mở cửa, hội nhập với
nền kinh tế thế giới. Sự mở cửa, hội nhập đợc thực hiện trên ba nội dung chính
là: thơng mại; đầu t và chuyển giao khoa học công nghệ. Tuy nhiên, sự mở của
hội nhập không có ý nghĩa là sự hoà tan, đánh mất mình mà phải trên cơ sở
phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức mạnh cạnh tranh của
nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
Thứ sáu, thúc đẩy tăng trởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công
bằng xã hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị trờng ở

trong phân phối thu nhập và thành quả lao động của xã hội, chủ nghĩa xã hội
nhấn mạnh đến nhân tố lao động (lao động sống) và yếu tố tiền lơng - thu
nhập của ngời lao động. Tuy nhiên, trong khi nhấn mạnh đến vai trò của yếu
tố lao động, đến nâng cao thu nhập và tiêu dùng của ngời lao động, chúng ta
không thể không coi trọng đến vai trò của yếu tố vốn, đến tăng cờng tích luỹ
và đầu t (cả Nhà nớc và t nhân) và đến mối quan hệ biện chứng giữa t bản
cuốn và lao động. Vì vậy, thu nhập theo vốn và tài sản kinh doanh đây đã trở
thành điều bình thờng. Chỉ có trên cơ sở đó mới gia tăng số ngời giàu có
trong xã hội. Tăng số ngời có thu nhập cao đồng thời giảm số ngời có thu
nhập thấp trong xã hội và thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giàu nghèo
vừa là mục tiêu, vừa là nội dung quan trọng của chính sách thu nhập và chính
sách điều tiết thu nhập của Nhà nớc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Tóm lại, quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng ảnh hởng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta phải là "quá trình thực hiện dân giàu, nớc mạnh, tiến lên hiện
đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cơng, xoá
bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi ngời có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc". Để đạt đợc điều đó ta phải có các biện pháp, giải pháp thực hiện
thích hợp.
3. Giải pháp phát triển KTTT định hớng XHCN ở Việt Nam.
3.1. Trớc hết cần đẩy mạnh quá trình da dạng hoá sở hữu tạo điều kiện
phát triển mạnh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta.
Nh đã biết, cơ sở tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng
là sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất quy
định, vì vậy để phát triển kinh tế thị trờng, trớc hết phải đa dạng hoá các hình
thức sở hữu trong nền kinh tế. Đối với nớc ta quá trình đa dạng hoá đợc thể
hiện bằng việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nh ghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, VII, VIII, đã chỉ ra. Đó là phát triển kinh tế
Nhà nớc, kinh tế hợp tác xã, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế t nhân và
kinh tế t bản Nhà nớc. Đến đại hội IX cso thêm thành phần kinh tế đầu t.

triển kinh tế thị trờng vì vậy quá trình phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta
đòi hỏi phải đẩy mạnh, phân công lại lao động xã hội.
Trong nớc phân công lao động xã hội trên tạm vì cả nớc ngay trong từng
vùng dựa vào các quy luật, tỉ lệ lao động Nông nghiệp giảm, lao động công
nghiệp tăng, tỉ lệ lao động có tăng và chiếm phần lớn trong lao động xã hội
tốc độ tăng trong ngành sản xuất trong vật chất nhanh hạn trong các sản xuất
vật chất.
Để nâng cao vai trò vị trí của Việt Nam trong hệ thống phân công lao
động khu vực và quốc tế đòi hỏi phát huy tinh thần tự lực, tự cờng và nhng lại
thế: vị trí địa lí; Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa đa dạng,
nguồn tài nguyên nhân văn phong phú.
Đồng thời đẩy mạnh CNH - HĐH trang bị kỹ thuật mới cho nền kinh tế
hàng hoá thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển. KTT và CNH - HĐH
có mối quan hệ với nhau. Nền KTTT hiện đại của nớc ta phải dựa trên kỹ
14
thuật tiến tới. Khi phân công lao động xã hội tác động kinh tế hàng hoá phát
triển thị trờng phát triển lại gián tiếp thúc đẩy phân công lao động xã hội phát
triển. Đại hội Đảng IX nhấn mạnh "đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn. tiếp tục phát triển và đa nông nghiệp, lâm nghiệp
và ng nghiệp liên một trình độ mới bằng việc ứng dụng tiến bộ khoa học va
công nghệ , nhất là cơ cấu sinh học, đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng
giá trị thu đợc trên đơn vị diện tích "công nghiệp vừa phát triển các ngành sử
dụng nhiều lao động vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ
hiện đại, công nghệ cao. về dịch vụ, phát triển mạnh và nâng cao chất lợng các
ngành dịch vụ; thơng mại, hàng không, hàng hải, bu chính viễn thông, du lịch,
tài chính ngân hàng, kiểm toán , bảo hiểm.
3.3. Phát triển đồng bộ các loại thị trờng.
Tiếp tục phát triển thị trờng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, tăng quy mô
hàng tiêu dùng và dịch vụ với chũng loại ngày càng phong phú và chất lợng
ngày càng nâng cao từng bớc giảm giá cả hàng tiêu dùng và dịch vụ bằng cách

Việt Nam ta hiện nay và đa ra các giải pháp để phát triển kinh tế thị trờng ở
Việt Nam. Các biện pháp đa ra rất cơ bản, nhng việc áp dụng vào thực tế cũng
là một khâu quan trọng, hy vọng rằng đây là một đóng góp nhỏ của một cá
nhân vào trong cộng đồng của mình.
17
Tài liệu tham khảo
- Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX - NXB
Chính trị quốc gia.
- Tạp chí cộng sản
- Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin tập 2 - NXB Giáo dục

18
Lời mở đầu 1
Nội dung 2
I- Một số vấn đề về kinh tế thị trờng 2
1. Sự hình thành và phát triển của KTTT 2
2. Quan điểm của Lênin về KTTT trong CNXH (chính sách kinh tế mới).
3
II- Sự phát triển kinh tế thị trờng ở Việt Nam 4
1. Quá trình chuyển sang kinh tế thị trờng ở nớc ta 4
2. Đặc điểm kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta 8
2.1. Cái chung và cái riêng giữa nền KTTT TBCN và KTTT XHCN 8
2.2. Bản chất và đặc điểm của nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta 9
3. Giải pháp phát triển KTTT định hớng XHCN ở Việt Nam 13
3.1. Trớc hết cần đẩy mạnh quá trình da dạng hoá sở hữu tạo điều kiện
phát triển mạnh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta 13
3.2. Đẩy mạnh quá trình phân công lao động xã hội ở nớc ta 14
3.3. Phát triển đồng bộ các loại thị trờng 15
3.4. Các công cụ điều tiết vĩ mô 15
Kết luận 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status