Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, đất nớc ta đang chuyển mình quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, Đảng ta luôn xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ
Chí Minh làm kim nam chỉ mọi hành động của mình. Hệ thống t tởng Mác
- Lênin là nền tảng của sự phát triển t tởng, chúng ta đã nghiên cứu và vận
dụng một cách khéo léo, một cách khoa học và từng điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của đất nớc, khi đi vào thực tế, đất nớc ta không phải là khong mắc
phải những sai lầm, nhng chính những sai lầm đó là những bài học quí giá
nhất để chúng ta đánh giá đợc chính mình và tìm cách đứng dậ với khí thế
mới. Từ đó càng làm sáng rõ hơn con đờng toàn Đảng, toàn dân ta đang đi
và sẽ tiếp tục đi là đúng đắn, là khách quan, vừa phù hợp với tình hình, điều
kiện trong nớc, vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Đó là con đờng tiến lên
xã hội chủ nghĩa.
Xét về phơng diện vật chất, kinh tế, nớc ta hiện nay ở một mức độ nhất
định cũng nh nớc Nga thời kỳ NEP, cha có đủ điều kiện để trực tiếp xây
dựng xã hội chủ nghĩa. T tởng của Lênin về chủ nghĩa t bản Nhà nớc trng
hệ thống chính sách kinh tế mới - NEP là một trong những di sản quí báu
nhất mà Ngời để lại cho chúng ta. Việc nghiên cứu một cách khoa học, biện
chứng t tởng đó của Lênin có ý nghĩa thiết thực đối với chúng ta, giúp
chúng ta xác định rõ phơng tiện, xác định rõ con đờng thực hiện định hớng
xã hội chủ nghĩa và tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đất nớc ta trong
một thời kỳ dài áp dụng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dẫn đến tình
hình kinh tế khủng hoảng trầm trọng, cộng thêm vào đó là tình hình thế giới
có nhiều bất lợi cho cách mạng Việt Nam, quá trình đổi mới đất nớc đợc
đánh dấu từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần ths VI - 1986 đã mở ra cho đất
nớc một thời kỳ mới - thời kỳ đổi mới toàn diện. Và chính tại đây t tởng của
Lênin và chủ nghĩa t bản Nhà nớc đợc chính thức đi vào thực tiễn, trong xã
hội tồn tại thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế có vai trò, chức năng,
nhiệm vụ khác nhau trong hoạt động kinh tế, song chúng có điểm giống
nhau là đều làm phong phú nền kinh tế nớc ta, sự hoạt động của mỗi thành
phần đều nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế nớc nhà phát triển, nâng
tan vỡ. Do yêu cầu đó, tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản Bôn sêvich Nga
đã chủ trơng thay thế chính sách "cộng sản thời chiến" bằng chính sách
"kinh tế mới - NEP" nội dung cơ bản là:
Bãi bỏ chế độ trng thu lơng thực bằng thuế lơng thực; những xí nghiệp
vừa và nhỏ trớc đây bị quốc hữu hoá, nay cho t nhân thuê hay mua lại để
kinh doanh tự do; cho phép mở rộng trao đổi hàng hoá, cho thơng nhân đợc
tự do hoạt động buôn bán, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong các xí
nghiệp quốc doanh.
3
CNTBNN là một trong những yếu tố cấu thành của "NEP". Sau đây
chúng ta sẽ bàn về lý luận của Lênin về CNTBNN:
Khi chuyển sang NEP, Lênin đã thẳng thắn thừa nhận rằng: "toàn bộ
quan điểm của chúng ta về CNXH đã thay đổi về căn bản". Trớc đây, Đảng
và Nhà nớc Xô Viết đã tính là có thể dựa vào nhiệt tình cách mạng mà trực
tiếp thực hiện những nhiệm vụ về kinh tế nh nhiệm vụ quân sự, có thể dùng
những biện pháp trực tiếp của Nhà nớc về sản xuất để tổ chức sản xuất và phân
phối sản phẩm theo kiểu cộng sản chủ nghĩa ở một số nớc tiểu nông. Nhng chỉ
một thời gian ngắn sau khi đi vào thực hiện, Lênin đã thấy rằng không thể xây
dựng trực tiếp CNXH ở một nớc tiểu nông nh nớc Nga lúc đó. Ngời nói: "Trong
một nớc tiểu nông, trớc hết các đồng chí phải bắc những cầu nhỏ vững chắc, đi
xuyên qua CNTBNN tiến kên CNXH". Đây là một bớc lùi chiến lợc, đúng hơn
là trở lại con đờng phát triển hợp qui luật của kinh tế.
Tình hình hiện tại của nớc Nga đặt ra yêu cầu: phát triển kinh tế, cải
thiện đời sống nhân dân. Lênin nói: Biện pháp của nó là: thuế lơng thực,
phát triển sự trao đổi hàng hoá giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành
thị và nông thôn, phát triển tiểu thủ công nghiệp. Theo quan điểm của
Lênin thời đó: tự do trao đổi là tự do buôn bán, tức là lùi lại chủ nghĩa t bản.
Tự do buôn bán và tự do trao đổi là việc trao đổi giữa những ngời sở hữu
nhỏ. Thứ trao đổi hàng hoá ấy không thể không dẫn đến chỗ phân hoá ngời
sản xuất hàng hoá ra thành kẻ sở hữu t bản và ngời sử hữu sức lao động,
cấp t sản mà đại diện cho giai cấp vô sản".
II- Vai trò của chủ nghĩa t bản Nhà nớc trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội .
Lý luận của Lênin về CNTBNN còn đề cập đến vai trò của CNTBNN
trong thời kỳ quá đoọ. Ngời đã lấy tình hình thực tiễn của Nhà nớc Xô Viết
lúc bấy giờ để khẳng định vai trò của CNTBNN, để giải thích, để chứng
minh cho sự cần thiết của việc áp dụng CNTBNN vào điều kiện đất nớc.
Khái quát lại vai trò của CNTBNN đợc Lênin để cập ở mấy điểm sau:
1. Bản thân CNTBNN chính là sự kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nớc
Xô Viết, nền chuyên chính vô sản với chủ nghĩa t bản "một khối chủ nghĩa
t bản bên trên". Sự phát triển của chủ nghĩa t bản do Nhà nớc vô sản kiểm
soát và điều tiết có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông
5
nghiệp, nền đại công nghiệp, lực lợng sản xuất và cải theịen đời sống nhân
dân.
2. Chủ nghĩa t bản là công cụ để đấu tranh chống tính tự phát t bản chủ
nghĩa, tính tự phát tiểu t sản, chống tệ đầu cơ, đợc coi là kẻ thù của CNXH
ở nớc tiểu nông tiến lên CNXH - CNTBNN còn là công cụ để chống lại các
biện pháp kinh tế của chính quyền khi mà biện pháp kinh tế đó đã lỗi thời,
để chống tệ quan liêu, sự lệch lạc hiểu biết trong t tởng.
3. Theo Lênin vai trò to lớn nhất của CNTBNN đó là: thông qua chủ
nghĩa t bả, giai cấp công nhân có thể học tập đợc cách tổ chức và quản lý
một nền sản xuất lớn, học cách làm giàu của các nhà t bản để từ đó phát
triển nền kinh tế quốc doanh, phát triển kinh tế đất nớc. Và chỉ có thể bằng
con đờng phát triển kinh tế, CNXH mới csó thể tiêu diệt hoàn toàn chủ
nghĩa t bản.
Ngoài ra, vai trò của CNTBNN còn thể hiện: phát triển cơ cấu kinh tế
trong nớc hợp lý, tiếp thu và vận dụng tốt khoa học - kỹ thuật, tổ chức và
quản lý của nền sản xuất lớn, làm cho trình độ công nhân tăng lên, khôi
phục giai cấp vô sản theo đúng nghĩa của nó.
thuê hầm mỏ, nhà cửa, hoặc lập các công ty hợp doanh
IV- Kết quả thực hiện CNTBNN.
Lý luận về CNTBNN của Lênin đã đi vào thực tiễn và đã thu đợc
những thành quả tốt đẹp: CNTBNN đã có những tác dụng tích cực nhất định
góp phần làm sống động nền kinh tế nớc Nga đang bị suy sụp sau chiến
tranh. Nhờ tô nhợng với nớc ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng đã
phát triển, nhiều kinh nghiệm tiên tiến với trang thiết bị hiện đại của nền
sản xuất lớn đã đi vào sản xuất mang lại hiêụ quả cao. Thông qua hoạt động
của các xí nghiệp cho thuê hay các xí nghiệp liên hợp đã góp phần giúp
Nhà nớc Xô Viết duy trì hoạt động sản xuất bình thờng ở các cơ sở kinh tế,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tăng thêm việc làm cho ngời lao động. Với
việc áp dụng CNTBNN, và những thành quả mà nó đem lại, đã góp phần
vào việc ổn định tình hình chính trị. Thực tiễn đã bác bỏ những kẻ thù của
Nhà nớc Xô viết và những bọn hoài nghi khác coi chính sách kinh tế mới -
trong đó có vấn đề CNTBNN - nh một chính sách quay về chủ nghĩa t bản.
7
Tuy nhiªn so víi sù mong muèn vµ môc tiªu ban ®Çu ®Æt ra cña Lªnin th×
kÕt qu¶ thùc hµnh chÕ ®é nµy vÉn cßn rÊt thÊp.
8
Chơng II
Sự vận dụng lý luận của Lênin về chủ nghĩa
t bản Nhà nớc ở Việt Nam
I- Sự cần thiết và khả năng sử dụng kinh tế Nhà nớc
ở Việt Nam.
Trớc hết, chúng ta phải khẳng định rằng: Đảng và Nhà nớc ta đã và
đang áp dụng những t tởng, lý luận của Lênin về CNTBNN. Sự cần thiết của
việc áp dụng CNTBNN vào tình hình nớc ta là rất cần thiết, nó đợc thể hiện
ở một vài khía cạnh lớn sau:
- Sau khi trải qua một thời kỳ đầu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
nền kinh tế của nớc ta gặp nhiều khó khăn: sản xuất chậm chạp, dờng nh
sản, thiên nhiên, mở, nguồn lao động dồi dào, có cơ chế quản lý của Nhà n-
ớc đối với chính sách kinh tế đối ngoại đợc nớc ngoài đánh giá là "rộng
mở" và tức thời.
Tất cả các vấn đề nêu trên khẳng định sự cần thiết và khả năng sử
dụng CNTBNN ở Việt Nam.
II- Những hình thức cụ thể của kinh tế t bản Nhà nớc
đang đợc vận dụng ở Việt Nam.
1. Hình thức liên doanh, liên kết giữa Nhà nớc với chủ sở hữu
ngoài quốc doanh ở trong nớc hoặc nớc ngoài.
Về thực chất, đây là hình thức Tô nhợng mà Lênin đã vạch ra. Hình
thức này hiện nay ở nớc ta đang phát triển mạnh mẽ và đi vào thực tiễn đã
thu đợc những thành công lớn. Nhà nớc ta chủ động thu hút các hình thức
liên doanh cả liên doanh trong nớc và liên doanh nớc ngoaì. Liên doanh
trong nớc nhằm mục đích thu hút nguồn vốn trong nớc, đảy mạnh nỗ lực, h-
ớng sự phát triển của t bản t nhân trong nớc vào t bản Nhà nớc để từ đó Nhà
nớc làm chủ trong quản lý và trong hớng sự phát triển. Liên doanh với nớc
ngoài để thu hút nguồn vốn, nguồn đầu t nớc ngoài, tạo sự hợp tác để phát
triển kinh tế trong nớc, du nhập khoa học, kỹ thuật, công nghệ từ bên ngoài
vào trong nớc, nâng cao tay nghề, nâng cao kỹ thuật cho công nhân và nâng
cao công nghệ, máy móc dây chuyên kỹ thuật cho các xí nghiệp, nhà máy
10
trong nớc. Hình thức liên doanh, liên kết giữa Nhà nớc với các chủ sở hữu
trong nớc hay nớc ngoaoì đều nhằm mục đích chung: thu hút nguồn vốn,
đẩy mạnh sản xuất trong nớc phát triển, nâng cao cơ sở hạ tầng, tạo ngày
càng nhiều công ăn việc làm giải quyết vấn đề thất nghiệp, tiếp cận khoa
học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại từ đó đa đất nớc phát triển, rút
ngắn khoảng cách, giàu nghèo, khoảng cách tiên tiến hiện đại giữa nớc ta
với các nớc đã phát triển. Việc phát triển hình thức này đáp ứng đợc hai yêu
cầu lớn của tình hình đất nớc hiện nay.
Một là, phát triển lực lợng sản xuất, hai là giải quyết đợc những vấn đề về
quản lý, chúng ta cũng cần khắc phục tình trạng biến công nhân của ta phải
làm việc, sinh hoạt giống nh ở dới chế độ t bản chủ nghĩa tức là bị bóc lột,
tức là bị đàn áp.
Thực tiễn, trong nhiều năm vừa qua, tình hình liên doanh liên kết của
Nhà nớc với các chủ sở hữu nớc ngoài có nhiều bất cập. Đó là khi liên
doanh liên kết các đối tác khi mới vào thì hết sức thuận lợi do vậy họ nhảy
vào thị trờng đầu t nớc ta là rất lớn. Nhng khi đã tham gia, tức là lúc đã bắt
đầu đi vào tiến hành sản xuất, bắt đầu hoạt động kinh doanh thì các đối tác
phải mất quá nhiều thời gian và tiền của vào các khâu xin giấy tờ, xin
chứng nhận, các khâu về hành chính Nguyên nhân chính của vấn đề này
là do bộ máy Nhà nớc của ta quá cồng kềnh, hệ thống giấy phép, văn bản
quá lớn, quan hệ chồng chất lên nhau, đội ngũ quản lý thấp kém về năng
lực hễ thấy một chút bất lợi nhỏ nào cho ta lập tức ban hành một số quyết
định, một số văn bản nhằm thu hẹp phạm vi hoạt động của đối tác. Do vậy,
có thời kỳ lúc đầu các nhà đầu t nớc ngoài cũng nh trong nớc đầu t góp vốn
liên doanh, liên kết là rất lớn, sau một thời gian hoạt động, quá nửa đối tác
rút vốn ngng hoạt động gây ra mất uy tín trong quan hệ hợp tác và đầu t vào
Việt Nam. Song, về vấnđề thu hút vốn đầu t nớc ngoài tạo điều kiện cho
các đối tác ngoài nớc vào Việt Nam hoạt động của ta cũng đợc các nhà
nghiên cứu thế giới đánh giá là có cơ chế "thoáng" và rất tích cực.
2. Công ty cổ phần với t cách là hình thức kinh tế t bản Nhà nớc và
cổ phần hoá xí nghiệp để thành lập xí nghiệp t bản Nhà nớc.
Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều thành
phần, sự hình thành và phát triển của các công ty cổ phần đợc xem là một
tất yếu kinh tế. Sự tồn tại của nó không chỉ là kết quả của quá trình tích tụ
vốn mà còn là nhu cầu khách quan của việc củng cố tính hiệu quả của nền
kinh tế nhiều thành phần nói chung, của thành phần kinh tế quốc doanh nói
riêng. Thực chất cổ phần hoá các xí nghiệp hiện nay là chuyển từ sở hữu Nhà
12
nớc thành sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp, tức là làm gọn nhẹ và tối u thành
KCN Văn Điển, Thanh Trì, Thanh Xuân Tại thành phố Hồ Chí Minh có
13
các khu công nghiệp vành đai nh: Biên Hoà, Vũng Tàu, Đồng Nai Từ đó
hình thành nền tảng cho sự xuất hiện các khu chế xuất.
Về việc cho nông dân, cho các nhà t bản trong và ngoài nớc thuê các
cơ sở kinh doanh và các t liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân: Đây là hình
thức chuyển từ sở hữu Nhà nớc sang sở hữu cá nhân, t nhân tiểu chủ; tạo
cho t nhân hoạt động kinh doanh đồng thời giảm các khâu quản lý chồng
chất, giảm những công vịêc cho hình thức quốc doanh. Từ đó tạo sự năng
động trong hoạt động trong nền kinh tế. Các xí nghiệp quốc daonh từ trớc
đến nay hoạt động luôn thua lỗ, nếu cổ phần hoá không khả thi thì tiến
hành cho t nhân thuê và Nhà nớc quản lý ở tầng vĩ mô soa cho các xí
nghiệp đó hoạt động có hiệu quả không vi phạm pháp luật nộp thuế đầy đủ
cho Nhà nớc góp phần tích cực vào việc tăng sản phẩm xã hội, giải quyết
nạn thất nghiệp.
Về việc hình thành các hợp tác xã kiểu mới: Mô hình hợp tác xã trớc
đây trong giai đoạn nớc ta còn áp dụng cơ chế bao cấp đến nay không conf
hoạt động có hiệu quả, phần lớn giải thể, tan rã hoặc tồn tại nhỏ bé kém
năng động. Hiện nay, đất nớc đang hoạt động theo cơ chế thị trờng, một số
HTX đã nhanh chóng vận hành đúng luật kinh tế do vậy đã từng bớc khôi
phục. Mô hình HTX mới đợc hình thành mô hình nay nói là mới là cha
đúng vì nó hoạt động về cơ bản tuân theo những nguyên tắc mà Lênin đã
chỉ ra đó là: Tự nguyện, dân chủ, phân phối theo lao động. Nhìn nhận về
hình thức HTX hiện nay, Nhà nớc đã chỉ ra sự hoạt động, sự hình thành các
HTX là quan trọng là cần thiết vì chính nó là nền tảng của nền kinh tế thấp,
để từ đó xây dựng nền kinh tế bậc cao hơn. Nhà nớc ta khuyến khích loại
hình hợp tác bằng nhiều hình thức nh trực tiếp quản lý, hỗ trợ về nguồn vốn,
hỗ trợ về đào tạo cán bộ, về khâu tiêu thụ sản phẩm, về tính chất pháp nhân,
việc Nhà nớc bảo vệ bằng hiến pháp và pháp luật.
III- Phơng hớng và những điều kiện để vận dụng
kiện cần để phát triển các hình thức liên doanh liên kết giữa Nhà nớc với
các chủ sở hữu t bản trong nớc hay nớc ngoài.
15
Kết luận
Chủ nghĩa t bản Nhà nớc mà Lênin nên, là một thứ chủ nghĩa t bản đặc
biệt. Nó khác hẳn với khái niệm thông thờng về chủ nghĩa t bản Nhà nớc.
Vì ở đây, Nhà nớc nằm trong giai cấp vô sản và những đỉnh cao của nền
kinh tế thị trờng trong tay Nhà nớc xã hội chủ nghĩa. Lênin viết: "Chủ nghĩa
t bản Nhà nớc của chúng tôi khác hẳn về căn bản so với chủ nghĩa t bản
Nhà nớc ở những nớc có Chính phủ t sản, sự khác biệt chính ở chỗ Nhà nớc
của chúng tôi không phải đại diện cho giai cấp t sản mà đại diện cho giai
cấp vô sản". Chủ nghĩa t bản Nhà nớc trong xã hội chủ nghĩa là một hình
thức mới của đấu tranh giai cấp chứ không phải là hoà bình giai cấp. Và chỉ
có đấu tranh giai cấp thì giai cấp vô sản mới có thể hoàn thiện đợc mình và
đi tới làm chủ xã hội. áp dụng chủ nghĩa t bản Nhà nớc vào một nớc tiểu
nông đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội không có một mục đích nào khác
ngoài mục đích phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, trởng thành
giai cấp vô sản, phát triển khoa học công nghệ tức là tạo tiền đề về cơ sở
vật chất để đa đất nớc tiến lên con đờng xã hội chủ nghĩa. Sau quá trình
nghiên cứu một cách khoa học, biện chứng về chủ nghĩa t bản Nhà nớc
trong chính sách kinh tế mới của Lênin, chúng ta nhận đợc trớc hết là về
tầm nhìn chính trị, nâng cao cho bản thân về t tởng cộng sản. Từ đó, chúng
ta mới có thể đánh giá đợc những quyết định của Đảng, của Nhà nớc trong
thời kỳ đổi mới là đúng đắn, là khoa học, vừa phù hợp với lý luận vừa phù
hợp với thực tiễn. Sau 15 năm đổi mới, đất nớc ta đủ sang một trang mới,
chúng ta đã thu đợc những thành công lớn. T tởng thành công đó, chúng ta
không thể không nói đến những vai trò và thành công từ việc áp dụng chủ
nghĩa t bản Nhà nớc.
Chúng ta đã thấy đợc vai trò, thấy đợc những mặt tích cực, thấy đợc
tính khách quan cần và phải áp dụng chủ nghĩa t bản Nhà nớc vào giai