Lời nói đầu
Hiện nay, khu vực hoá, toàn cầu hoá đã trở thành xu hớng phát triển
của nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh nh vậy, yêu cầu khách quan và cấp
bách đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam là phải tích cực và gấp rút nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình để có thể chủ động cạnh tranh có hiệu
quả trong quá trình hội nhập. Yêu cầu này đã và đang đợc tiếp tục khẳng
định trong đờng lối và chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nớc
ta. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp và chậm đợc nâng cao, cha
có sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của một bộ phận
cán bộ và doanh nghiệp do cha thấy hết sự bức xúc của cạnh tranh quốc tế
đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập vào xu thế khu
vực hoá và toàn cầu hoá.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hệ thống
chính sách phục vụ mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
còn có những hạn chế nh : cha xác định rõ việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế nh là một trong những mục tiêu quan trọng có tính
xuyên suốt. Do vậy, hệ thống biện pháp trong từng chính sách cụ thể cũng
nh sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chính sách phát triển kinh tế cha tạo đ-
ợc môi trờng cần thiết để tạo ra những bớc nhảy vọt đáng kể trong năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi đó, sức ép của canh tranh và những
cam kết quốc tế mà Việt Nam cần phải thực hiện trong quá trình hôị nhập
không cho phép trì hoãn thêm.
Trong khuôn khổ tiểu luận này, em xin mạnh dạn đa ra ý kiến của
mình về thực trạng việc đổi mới các công cụ của chính sách tiền tệ và trên
cơ sở đó đề xuất nhữnh định hớng đổi mới chính sách tiền tệ góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong thời gian tới. Để đạt đợc mục
đích trên, tiểu luận bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
1
Ch ơng I : Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế.
Ch ong II : Thực trạng đổi mới chính sách tiền tệ trong thời gian qua.
năm 1995, 1996 công cụ hạn mức tín dụng đã bộc lộ những hạn chế là mức
tăng d nợ tín dụng thực tế đã vợt quá hạn mức tín dụng cho phép và nó trở
nên không có hiệu quả. Từ năm 1997 khi hạn mức tín dụng thừa so với khả
năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nên cuối năm 1998 đến nay NHNN Việt
Nam đã tạm ngừng sử dụng công cụ này.
3
2.2. Công cụ gián tiếp
2.2.1. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng
trung ơng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nó đợc xác định bằng
một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số d tiền gửi tuỳ theo tính chất và
thời hạn mà các tổ chức tín dụng huy động đợc.
ở Việt Nam hiện nay việc xác định và quản lý dự trữ bắt buộc thực
hiện theo quyết định số 51/1999/QĐ - NHNN1 ngày 10 tháng 2 năm 1999
và quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.
2.2.2. Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu thể hiện qua việc ngân hàng trung ơng cung
ứng vốn tín dụng cho các ngân hàng thơng mại. Chính sách tái chiết chấu đ-
ợc thực hiện thông qua cửa số tái chiết khấu. Ngân hàng trung ơng áp dụng
lãi suất tái chiết khấu và quy định các điều kiện để tái chiết khấu cho các tổ
chức tín dụng.
Đi kèm với lãi suất tái chiết khấu NHTƯ còn quy định hạn mức tái
chiết khấu tức là quy định mức cho vay tối đa trên cơ sở lãi suất đã quy
định để gây ảnh hởng về lợng vốn mà các TCTD của NHTƯ. Đồng thời
ngân hàng trung ơng còn quy định các tiêu chuẩn để thực hiện tái chiết
khấu về thời hạn, về chủng loại giấy tờ có giá, chất lợng giấy tờ có giá và
uy tín của TCTD khi vay vốn của NHTƯ.
2.2.3. Nghiệp vụ thị ttrờng mở
Thị trờng mở là thị trờng tiền tệ mà ở đó ngời ta thực hiện việc mua
bán các công cụ tài chính ngắn hạn.
thờng có các biểu hiện sau: Thực hiện mở cửa tơng đối rộng rãi; môi trờng
kinh tế vĩ mô trong đó có môi trờng pháp lý thông thoáng, tơng đối ổn định,
thuận lợi cho hoạt động cạnh tranh kinh tế lành mạnh ở mọi cấp độ: Doanh
nghiệp, nghành và nền kinh tế để cuối cùng tạo ra nhiều hàng hoá và dịch
vụ có sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Do vậy, một quốc gia có năng
lực cạnh tranh cao thờng có khả năng chiếm lĩnh và chi phối ngày càng
nhiêù đối với những thị trờng quan trọng hàng đầu của thế giới nh thị trờng
ô tô, máy bay, thị trờng công nghệ thông tin viễn thông ; có tỷ lệ cao về
tổng giá trị kim nghạch hàng hoá dich vụ xuất khẩu trên GDP, trong đó giá
trị hàng hoá dịch vụ dựa trên tri thức và công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn.
5
Giữa năng lực cạnh tranh và hiệu quả có quan hệ chặt chẽ và luôn tác
động qua lại với nhau. Với khả năng cạnh tranh cao, một quốc gia có thể
tranh thủ đợc nhiều cơ hội tốt và có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thực
hiện cạnh tranh với các quốc gia khác và kết quả cuối cùng là có thể thu đ-
ợc nhiều lợi ích và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngợc lại, trong cuộc cạnh
tranh quốc tế hiện nay, việc đạt hiệu quả cao luôn ngắn liền với một năng
lực canh tranh cao trên cơ sở một nền công nghệ tiên tiến và sự quản lý tổ
chức hợp lý quá trình sản xuất - dịch vụ cho phép giảm nhiều hơn mức chi
phí tổng hợp trên một đơn vị sản phẩm tơng tự cùng phẩm cấp của các quốc
gia khác.
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chịu sự tác động của nhiều yếu tố,
nhiều nghành ở tất cả các cấp độ: vĩ mô và vi mô, trong đó đổi mới chính
sách tiền tệ là một yếu tố rất quan trọng.
6
Chơng 2: Thực trạng đổi mới chính sách
tiền tệ trong thời gian qua
Từ đầu năm 1999 đến nay NHNN đã thực thi chính sách tiền tệ nới
lỏng để thực hiện chủ trơng kích cầu của chính phủ. Một số biện pháp và
chính sau đây đợc áp dụng:
Trong điều kiện nền kinh tế và doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, việc
giảm tỷ lệ dự trữ bặt buộc đã có tác dụng thúc đẩy tổ chức tín dụng mở rộng
d nợ tín dụng (năm 1999 d nợ tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế đã
tăng lên và đạt 22,9% so với 16,4% vào năm 1998); giảm chi phí và tăng
khả năng sinh lời của các tổ chức tín dụng, giúp các tổ chức này khắc phục
một phần khó khăn trong hoạt động cho vay.
II- Công cụ tái cấp vốn
Trong giai đoạn trớc tháng 3 năm 1997, NHNN quy định lãi suất tái
cấp vốn theo lãi suất cho vay trên từng khế ớc trên tái cấp vốn, chính vì vậy
mà lãi suất tái cấp vốn mang tính bị động, lãi suất tái cấp vốn còn có sự
phân biệt giữa các ngân hàng.
Trong 2 năm gần đây 1999, 2000 và đầu năm 2001 NHNN đã nhiều
lần điều chỉnh theo hớng giảm lãi suất cho vay tái cấp vốn phù hợp với chủ
trơng kích cầu đầu t và nới lỏng chính sách tiền tệ. Ví dụ: trong năm 1999
đã 4 lần giảm lãi suất này từ mức 1,1% vào đầu năm xuống còn 0,5% vào
cuối năm trong năm 2000 NHNN tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất này. Bên
cạnh đó trong năm 1999 NHNN đã ban quy chế để tái chiết khấu của
NHNN đối với các giấy tờ có giá ngắn hạn nh tín phiếu kho bạc nhà nớc
thông qua đấu thầu tại NHNN. Tín phiếu NHNN,các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác do thống đốc NHNN quy định cho từng thời kỳ. Lãi suất chiết
khấu của NHNN đối với các tổ chức tín dụng đợc công bố trong năm 1999
và 2000 là 0,45%/tháng.
III- Công cụ lãi suất
Trong năm 1999 và đầu năm 2000NHNN vẫn điều hành lãi suất theo
cơ chế trần lãi suất theo đó, NHNN quy định trần lãi suất, các mức lãi suất
tiền gửi và cho vay cụ thể do các tổ chức tín dụng quy định. Trong năm
1999, để phù hợp với các chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu vốn trên thị tr-
8
ờng và chủ trơng kích cầu, NHNN đã 5 lần điều chỉnh trần lãi suất cho vay
bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng từ 1,2%/tháng đối với cho vay ngắn
cũng giống nh cơ chế trần lãi suất, bởi vì lãi suất cho vay bị khống chế bởi
lãi suất cơ bản, chỉ khác là nó mang tính hớng dẫn chỉ đạo cho các TCTD
9
hình thành lãi suất hoạt động cho mình một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên
trong điều kiện hiện nay khi mà nhà nớc cha thể thả nổi lãi suất thì việc quy
định biên độ dao động là nhằm đảm bảo quản lý của nhà nớc trớc khi
chuyển hẳn sang lãi suất thị trờng lúc đó việc điều hành chính sách tiền tệ
chủ yêú bằng công cụ lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trờng mở, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc. Chính vì vậy mà tính hình lãi suất ngân hàng đến nay hầu
nh không biến động so với thời điểm tróc khi điều chỉnh.
Ngày 29 tháng 5 năm 2001, Thống đốc NHNN đã ra quyết định số
781 về việc cho vay bằng đôla Mỹ. Theo đó, các TCTD đợc quyền chủ
động ấn định lãi suất cho vay bằng đôla Mỹ trên cơ sở lãi suất thị trờng
quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ trong nớc. Đây là một bớc
đi tự tin táo bạo và sáng suốt đặt tiền đề hết sức quan trọng cho quá trình tự
do hoá lãi suất ở Việt Nam.
IV- Công cụ thị trờng mở
Thị trờng mở ở nớc ta chính thức hoạt động từ ngày 12 tháng 7 năm
2000 tham gia thị trờng này là NHNN, các TCTD. Tuy nhiên, đến nay
NHNN chỉ cấp phép hoạt động cho 12 thành viên, hàng hoá cho nghiệp vụ
này còn rất hạn chế, chủ yếu là tín phiếu kho bạc và tín phiếu NHNN, tổng
khối lợng của 2 loại tín phiếu này đang đợc các NHTM nắm giữ khoảng
3000 tỷ đồng trong đó 1000 tỷ đồng là tín phiếu của NHNN, trong phiên
đấu thầu đầu tiên đã có 300 tỷ đồng tín phiếu đợc mua bán. Việc chuấn bị
cho thị trờng mở đã hơn 1 năm nay và cho đến nay, về phơng diện pháp lý
đã hoàn tất, từ việc ban hành quy chế, quy trình nghiệp vụ thị trờng mở, quy
định về đăng ký giấy tờ có giá ngắn hạn đến việc thành lập ban điều hành.
V- Công cụ tỷ giá hối đoái
Về bản chất thì chính sách tỷ giá hối đoái giai đoạn hiện nay cũng
hoàn toàn giống nh giai đoạn trớc ngày 25 tháng 2 năm 1999 từ tháng 2
với việc đổi mới chính sách tiền tệ ngân hàng.
Theo kết quả đánh giá của nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu thì trừ một
số hàng hoá nông - lâm - thuỷ sản đặc thù nh gạo, cà phê, chè, tôm sú và
một số sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động nh dệt may còn
phần lớn hàng hoá và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam hiện nay có năng lực
cạnh tranh thấp so với các nớc trong khu vực và các nớc phát triển trên thế
giới. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và của nền kinh tế
Việt Nam trở thành nhiệm vụ vừa có tính cấp bách nhng cũng mang ý nghĩa
chiến lợc lâu dài đối với Việt Nam trong việc hội nhập và cạnh tranh với
các nền kinh tế khác.
Việc thực hiện hiện vụ chiến lợc nói trên cần đợc quán triệt sâu sắc
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế đặc biệt là đối với hoạt
động tiền tệ là lĩnh vực có tác động chi phối mạnh mẽ năng lực cạnh tranh
và hiệu quả của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Để góp phần thực
hiện tốt nhiệm vụ chiến lợc này chính sách tiền tệ cần phải xuất phát từ
nhiệm vụ chiến lợc của cả chặng đờng dài là công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nớc theo hớng mở rộng và duy trì nhịp độ tăng trởng kinh tế cao bền
vững. Trên cơ sở đó đáp ứng kịp thời đầy đủ và thuận tiện nhất đối với nhu
cầu về vốn tín dụng ngân hàng của toàn bộ nền kinh tế để tăng cờng đầu t
phát triển, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để giảm chi phí
nâng cao chất lợng tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên
thị trờng khu vực và quốc tế.
Trong quá trình đổi mới chính sách tiền tệ cần quán triệt các quan
điểm chủ đạo chủ yếu sau:
12
- Bám sát yêu cầu thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc
gia, đồng thời phải hớng tới phục vụ đắc lực nhất cho quá trình nâng cao
năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
- Đảm bảo sự kết hợp có hiệu quả 2 nhiệm vụ cơ bản là tăng cờng
hiệu lực quản lý nhà nớc với sử dụng tối đa những mặt tích cực của cơ chế
kịp thời đối với tỷ giá nhằm duy trì khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam trên thị trờng thế giới.
Tuy nhiên trong thời gian tới khi mà lãi suất cha đợc tự do hoá vẫn còn
sự can thiệp của Nhà nớc, dự trữ ngoại tệ còn quá ít, kinh tế tăng trởng cha
thật vững chắc, thị trờng tiền tệ cha phát triển thì việc duy trì cơ chế tỷ giá
công bố và biên độ giao dịch nh hiện nay vẫn là cần thiết. Hiện nay nhu cầu
về ngoại tệ còn rất cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khi đó cung
ngoại tệ thì rất hạn chế. Nhiều ngời thừa nhận đồng VN đang bị đánh giá
cao, nếu cứ để tỷ giá hối đoái theo quan hệ cung cầu thị trờng sẽ tất yếu dẫn
đến một sự tăng vọt không lờng, nguy cơ lạm phát và khủng hởng sẽ xảy ra.
Mặt khác VN đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhập
khẩu đang chiếm tỷ trọng lớn hơn so với xuẩt khẩu, cơ cấu xuất khẩu nớc ta
chủ yếu là hàng nông sản, may mặc, giầy da những mặt hàng có hàm l-
ợng chất xám thấp trong khi đó cơ cấu nhập khẩu thờng là các loại máy
móc, thiết bị hiện đại, các nguyên liệu đầu vào
Do dó lợi ích của việc nhập khẩu hiện nay là lớn hơn xuất khẩu, ngoài
ra nếu tỷ giá hối đoái tăng vọt sẽ làm cho các khoản nợ nớc ngoài tăng.
Chính vì vậy mà việc duy trì một tỷ giá hối đoái linh hoạt sẽ làm cho Nhà
nớc chủ động hơn trong việc phân tích những lợi ích của các mức tỷ giá hối
đoái mang lại.
3. Nghiệp vụ thị trờng mở
- Giá của các giấy tờ có giá hay lãi suất giao dịch trên thị trờng mở là
yếu tố quan trọng ảnh hởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trờng nói chung;
vì vậy lãi suất là mục tiêu NHNN cần quan tâm khi quyết định phơng thức
đấu thầu nghiệp vụ thị trờng mở. Đấu thầu lãi suất hay đấu thầu khối lợng
là tuỳ thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ: muốn can thiệp trực tiếp
vào lãi suất thì thực hiện đấu thầu khối lợng, khi đó lãi suất cố định do
NHNN chỉ đạo, còn khi mục tiêu của chính sách tiền tệ nghiêng về giác độ
14
bơm hoặc rút tiền ra theo 1 lợng mong muốn thì thực hiện đấu thầu lãi suất,
có hiệu quả cần trang bị hệ thống thanh toán và quản lý hiện đại, có phần
mềm hiện đại kết nối giữ nội bộ trong NHNN và giữa NHNN với các TCTD
15
thành viên nhằm bảo đảm thực hiện các công đoạn giao dịch từ khi công
nhận thành viên, đăng ký chữ ký điện tử, thông báo mời thầu, đăng ký giấy
tờ có giá, xét thầu tạo lập và ký hợp đồng mua lại đến khâu thanh toán
chuyển khoản và thông báo báo cáo
4. Tái cấp vốn.
Công cụ tái cấp vốn chỉ có thể phát huy hiệu quả khi nó đợc phối hợp
với lãi suất. Nếu NHNN muốn các tổ chức tín dụng ra sức khai thác nguồn
vốn trong nhân dân thì qui định mức tái cấp vốn càng cao, ngợc lại việc qui
định một mức lãi suất tái cấp vốn chỉ khuyến khích các TCTD vay của ngân
hàng. Trong thời gian tới, khi mà thị trờng mở đã đi vào hoạt động ổn định
thì đòi hỏi phải thận trọng hơn nữa trong việc việc qui định mức lãi suất tái
cấp vốn nh thế nào là hợp lý. Bởi vì một mức tái cấp vốn thấp sẽ khuyến
khích các TCTD vay của NHNN sau đó mua lại các giấy tờ có giá. Trờng
hợp nà chẳng khác nào NHNN dùng chính tiền của mình để mua các giấy
tờ có giá, kết quả là nghiệp vụ thị trờng mở không có tác dụng. Nh vậy mức
lái suất tái cấp vốn hợp lý phải là mức cấp xấp xỉ với lãi suất các giấy tờ có
giá ngắn hạn hay lãi suất tiền gửi ngắn hạn.
5. Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc hiện nay đợc áp dụng có tính chất cào bằng cho tất cả
các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dới 12 tháng, trong khi đó rủi
ro về khả năng thờng chỉ rơi tiền gửi không kỳ hạn. Chính vì vậy NHNN
cần linh hoạt hơn trong việc qui định loại tiền gửu cần phải dự trữ bắt buộc,
chẳng hạn nếu muốn mở rộng M1 thì có thể qui định chỉ có tiền gửi không
kỳ hạn mới dự trữ bắt buộc hoặc dự trữ bắt buộc đối với các khoản tiền gửi
dới 3 tháng, 6 tháng chứ không nhất thiết muốn mở rộng tiền gửi là giảm
dự trữ bắt buộc.
Ngoài ra, việc thực hiện công cụ dự trữ bắt buộc có hiệu quả theo mục
2. Các công cụ của chính sách tiền tệ 3
II- Quan niệm về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 5
Chơng 2: Thực trạng đổi mới chính sách tiền tệ trong thời gian qua 7
I- Công cụ dự trữ bắt buộc 7
II- Công cụ tái cấp vốn 8
III- Công cụ lãi suất 8
IV- Công cụ thị trờng mở 10
V- Công cụ tỷ giá hối đoái 10
Chơng 3: định hớng đổi mới chính sách tiền tệ ngân hàng nhằm góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong
quá trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế 12
I- Nhiệm vụ nâng cao năng lực cạnh tranh đặt ra đối với việc đổi mới chính
sách tiền tệ ngân hàng 12
II- Các định hớng và giải pháp chủ yếu trong việc hoàn thiện các công cụ
chính sách tiền tệ 13
1. Về lãi suất 13
2. Về tỷ giá hối đoái 14
3. Nghiệp vụ thị trờng mở 14
4. Tái cấp vốn 16
5. Dự trữ bắt buộc: 16
Kết luận 16
18