vai trò của ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường - Pdf 10

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, lĩnh vực tiền tệ , hoạt động NH trở thành
một trong những lĩnh vực kích thích nhất của toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động
của tiền trong nền kinh tế luôn gắn liền với các hiện tợng kinh tế nh: lạm phát,
chu kì kinh doanh, thâm hụt ngân sách Tiền tệ liên quan đến các quyết định
của các cá nhân và ảnh hỏng đến tình trạng chung của nền kinh tế quốc gia.
Liên quan đến sự hoạt đông của tièn trong nền kinh tế là sự hoạt
động của các tổ chức tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ
tuơng trợ ) và thị trờng tài chính ( TTCK, TTCP và Hối Đoái). Các thị trờng
tài chính và các tổ chức tài chính không chỉ tác động đến đời sống hàng ngày
của mỗi cá nhân mà còn liên quan đến sự luân chuyển của những dòng vốn
lớn trong nền kinh tế, tác động đến hiệu qủa của các hoạt động doanh nghiệp
và đến cả tình trạng kinh tế của một nớc.
Nh chúng ta đã biết, nếu vốn dợc coi là một trong những nguồn lực
quan trọng và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, nó có một
tính chất khan hiếm. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng một cách
triệt để và có hiệu quả nhất nguồn vốn trong nớc và nớc ngoài ? Để đạt đợc
điều này trớc hết phải có một hệ thống ngân hàng phát triển đồng bộ, có sự
phối hợp nhịp nhàng giữa ngân hàng Nhà nớc (NHNN) hay ngân hàng Trung
Ương (NHTW) với các ngân hàng thơng mại (NHTM ) trong việc thực hiện
chính sách tiền tệ. ở đó vai trò đặc biệt của NHTW là không thể thay thế đợc .
Vì vậy em đã đi đến quyết định chọn đề tài:
"Vai trò của Ngân hàng Trung ơng trong nền kinh tế thị trờng"
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên bài viết còn có nhiều sai sót.
Em rất mong sự góp ý của các thầy cô. sinh viên
Nguyễn Mạnh Hởng
Chơng I
Vai trò của ngân hàng trung ơng trong nền kinh

ấn định vào các ngân hàng phát hành, sau đó đợc ấn định vào một ngân hàng.
Khi NHTW ra đời, NHTW đã đóng vai trò độc quyền phát hành tiền, có
nhiệm vụ đảm bảo thống nhất an toàn cho hệ thống lu thông tiền tệ. Đây là
chức năng cơ bản và vốn có của ngân hàng Trung Ương. Tiền do NHTW phát
hành là phơng tiện hợp pháp duy nhất.
Với chức năng phát hành, Độc quyền phát hành tiền của NHTW
không chỉ thể hiện quyền lực của NHTW mà còn nhấn mạnh trách nhiệm của
NHTW trong việc phát hành tiền để đảm bảo phát triển kinh tế và lu thông
tiền tệ ổn định .
2
ở đây, một vấn đề có tính nguyên tắc là đòi hỏi có tính nghiêm
ngặt đối với việc vận hành chính sách tiền tệ là không đợc hát hành tiền để bù
đắp thiếu hụt nhân sách.
Hoạt động tín dụng không tách riêng mà nằm trong hoạt động tiền
tệ. Phát hành tiền không còn là nguồn vốn tín dụng, mà chỉ là hình thức cung
ứng tiền trung ơng , đáp ứng nhu cầu phơng tiện thanh toán của các ngân hàng
và nền kinh tế. Tiền mặt không phải là tất cả , mà nằm trong lợng tiền cung
ứng. Trớc đây quản lý tiền mặt đã từng là công cụ quản lý duy nhất , là nhiệm
vụ thờng xuyên hàng đầu của Ngân hàng Nhà nớc. Giờ đây , tiền mặt chỉ là
phơng tiện thanh toán xã hội cần bao nhiêu đều đợc đáp ứng đủ . Quản lý tiền
mặt đợc thay bằng khái niệm quản lý lợng tiền cung ứng.
2.2 Là ngân hàng của Chính phủ.
Ngân hàng TW không chỉ thay mặt điều hành kiểm soát hoạt động
tiền tệ và toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, mà NHTW còn thực hiện cung
cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ :
- Làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nớc thông qua việc quản lý tài khoản
của kho bạc, các khoản thu của kho bạc dới dạng thuế, phí, thu khác đợc gửi
vào tài khoản tại ngân hàng trung ơng. Ngân hàng TW có trách nhiệm theo
dõi, thực hiện chi trả theo yêu cầu của kho bạc, trong thời gian kho bạc cha sử
dụng NHTW tạm thời đợc sử dụng số d nhàn rỗi này.

cũng dễ bị ảnh hởng bởi những cơn hoảng loạn tài chính. Hoảng loạn ngân
hàng xảy ra khi các ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu rút ra của
ngời gửi, khi đó ngân hàng buộc phải chấp nhận phá sản. Để tránh dợc những
cơn hoảng loạn tài chính, cần phải có sự đảm bảo rằng các ngân hàng có thể
nhận đợc tiền mặt khi có nhu cầu thực sự. Nguy cơ của những cơn hoảng loạn
tài chính có thể tránh đợc hoặc ít nhất giảm bớt đợc đáng kể khi biết rằng
NHTW sẵn sàng đóng vai trò cứu cánh à ngời cho vay cuối cùng khi không
còn phơng cách cứu vãn nào khác. NHNN luôn có đợc khả năng này vì nó là
ngân hàng duy nhất có quyền phát hành tiền. Vai trò của NHTW là cứu cánh
cho vay cuối cùng không chỉ đơn thuần duy trì đợc hệ thống tài chính hiện
đạo tinh vi và gắn bó chạt chẽ với nhau, trong đó sự thất bại của một ngân
hàng sẽ káo theo sự sụp đổ của nhiều ngân hàng khác.
b. NHNN thực hiện có hiệu quả hơn nữa chức năng thanh tra kiểm
soát thông qua hai kênh :
Kiểm soát hệ tiền tệ , đảm bảo tơng quan giữa tổng cung và tổng
cầu tiền tệ, vừa tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, vừa kiềm
chế lạm phát, giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển.
Kiểm soát các NHTM nhằm giữ gìn và đảm bảo an toàn cho hệ
thống các tổ chức tín du ngj , giúp cho hoạt động các ngân hàng thơng mại
lành mạnh, ổn định và có hiệu quả.
Việc kiểm soát các ngân hàng thơng mại chủ yếu thông qua hệ
thống các công cụ kinh tế, không can thiệp trực tiếp, quá sâu vào hoạt động
kinh doanh của họ.
c. NHNN tìm kiếm các hình thức và phơng tiện thanh toán tiền mặt,
tổ chức hệ thống thanh toán trong nền kinh tế quốc dân bao gồm hệ thống
thanh toán trong cùng một ngân hàng, thanh toán giữa cá ngan hàng, thanh
toán bù trừ trên cùng một địa bàn từ trung ơng đến địa phơng.
d. NHTW có trách nhiệm và quan tâm trong việc thành lập và phát
triển thị trờng tièn tệ và thị troừng vốn dài hạn để từng bớc chuyển các quan
hệ vay mợn truyền thống, trực tiếp với các ngân hàng thơng mại qua quan hệ

qua tác động sâu sắc tới các yếu tố : Tín dụng, lãi suất, tỉ giá các yếu tố này
đã ảnh hởng lớn tới mọi hoạt động trong nền kinh tế. Chính vì vậy, sự ổn định
tiền tệ là nhiệm vụ thờng trực của NHTW, là định hớng chỉ đạo toàn bộ hoạt
động của NHTW. 5
ChơngII
Ngân hàng nhà nớc việt nam trong sự chuyển đổi từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng có
sự quản lý của nhà nớc
1. Sự cần thiết phải xây dựng các thể chế tài chính trong nền kinh
tế chuyển tiếp
Qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế thị trờng là hết sức khó khăn và phức tạp. Kinh tế trong giai đoạn
chuyển tiếp có khu vực kinh tế t nhân nhỏ nhng phát triển rất nhanh chóng và
khu vực kinh tế NN ngày càng co lại. Tuy nhiên, phần lớn các trờng hợp kinh
tế t nhân không xuất hiện ngay lập tức mà dần theo thời gian và khu vực kinh

6
chính của mỗi nớc.Mỗi nớc đều có những đặc điểm kinh tế riêng biệt, những
thuận lợi và khó khăn khác nhau trong quá trình phát triển do đó vấn đề đặt ra
là mỗi nớc phải xác định đợc rõ ràng điểm mạnh của mình và điểm yếu của
mình trong hệ thống tài chính.
Trong nền kinh tế thị trờng, chúng ta đều thấy rằng con đòng dẫn đến
sự thành công chính là xây dựng hệ thống tài chính hữu hiệu và vững chắc.
Việc cung cấp tài chính có hiệu quả sẽ trực tiếp tác động vào việc nâng cao
các hiệu quả trong sản xuất nói riêng và trong xã hội nói chung.
2.Vai trò của khu vực ngân hàng
Ngân hàng có một vai trò rất trọng yếu trong sinh hoạt kinh tế một
quốc gia, khi ngân hàng đợc kiểm soát và điều động hợp lý, chiụ ảnh hởng của
một chính sách kinh tế lành mạnh, thì ngân hàng sẽ góp phần đắc lực trong
việc làm cho đất nớc thêm phú cờng và thịnh vợng.
Một trong những lý do hàng đầu trong động cơ kinh tế nhằm
chuyển đổi sang cơ chế thị trờng là sự nhận thức đợc rằng kế hoạch hoá tập
trung không đa lại sự phân phối vốn có hiệu quả và vì thế các nguồn tài
nguyên không đợc sử dụng nen năng suất thấp. Do đó cần giảm mức tối thiểu
ảnh hởng của các nhân tố phi kinh tế tác động lên sự phân phối các nguồn tài
nguyên và cũng chính nhờ đó mà cải thiện dợc hiệu suất đầu t.
Sự chú trọng đến nguồn vốn thực thể của nền kinh tế là điều cần
thiết của các ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế,
mà ngân hàng là một thành viên chính yếu tạo nến sự phát triển đó.Vì vậy
trong quá trình thực hiện điều các ngân hàng đòi các nguồn tin có giá trị về cả
ngời cho vay và ngời vay tiền. Trên cơ sở đánh giá các nguồn thông tin đó
ngân hàng sẽ quyết định lựa chọn những khoản đầu t có lợi nhất. Ngay cả
những nớc công nghiệp phát triển, mặc dù có sự phát triển và đa dạng của
nhiều tổ chức tài chính song vai trò chủ đạo của các khu vực ngân hàng đối
với sự phát triển của nền kinh tế là không thể phủ nhận đợc.
ở nớc ta trớc đây, do hậu quả của lạm phát kéo dài, bắt nguồn từ

3. Việt Nam trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống ngân
hàng.
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6, cả nớc bớc vào thời kì đổi mới,từng
bớc hoà nhập với nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Trong đó đổi mới cơ
bản về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của ngân hàng là khâu quan trọng.
Nhận thức đợc tầm quan trọng đó, công cuộc đổi mới và hoàn thiện
hệ thống ngân hàng đã bắt đầu đợc thực sự tiến hành với mốc đánh dấu là
Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của hội đồng bộ trởng về tổ chức bộ
máy ngân hàng nhà nớc mang nội dung đổi mới .Hệ thống NHVN đợc phân
định thành hai cấp là NHNNVN với chức năng quản lý nhà nớc đối với toàn
bộ hệ thống ngân hàng, ngân hàng chuyên doanh hoạt động nh những ngân
hàng thơng mại theo chế độ hạch toán kinh tế.
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế, để tiếp tục đổi mới
hệ thống ngân hàng, pháp lệnh NHNN, pháp lệnh ngân hàng thơng mại,
hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 24/5/1990 có hiệu lực thi hành
từ ngày 1/10/1990 và Nghị định 138 HĐBT về chức năng nhiệm vụ và tổ chức
bộ máy Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam. Việc ban hành pháp luật nói trên đã
tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục đổi mới cơ bản và toàn diện hoạt động ngân
hàng theo kỷ cơng pháp luật , đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng trong việc
đổi mới hệ thống ngân hàng Việt nam. Đặc biệt , gần đây vào tháng 12/1997
Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 10 đã họp thông qua
bộ luật ngân hàng:Luật ngân Hàng nhà nớc và luật cá tổ chức tín dụng, có
hiệu lực thi hành vào ngày 1.10.98. Việc ban hành luật ngân hàng nhà nớc và
Luật các tổ chức tín dụng là yêu cầu cấp bách hiện nay, nhằm tạo khuôn khổ
pháp lý cho cho việc tiếp tục đổi mới hoạt động ngan hàng trong giai đoạn
mới, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Điều này đảm
bảo cho tính đồng bộ của cơ chế tài chính tiền tệ quốc gia, phục vụ đắc lực
cho sự phát triển kinh tế.
8
Bên cạnh đó, hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín d

Sự tăng trỏng tín dụng và các định hớng của nền kinh tế quốc dân đã
tạo nên cơ cấu tín dụng ngày càng hợp lý, thúc đẩy từng bớc sự thay đổi cơ
cấu kinh tế.
Có thể nói, những thành quả bớc đầu đạt đợc trong công cuộc đổi
mới và hoàn thiện hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã góp phần đáng kể vào
sự phát triển chung của nền kinh tế trong đó không thể thiếu vai trò đặc biệt
quan trọng của NHTW, Thống đốc ngân hàng giờ đây có quyền kiểm soát
tăng trởng tiền tệ để thực hiện đợc các chỉ tiêu về lạm phát và tăng trởng kinh
tế lành mạnh . NHNN đã chủ động hơn trong việc lựa chọn các biện pháp
9
Quốc doanh Ngoài quốc Ngắn hạn Trung &dài
doanh hạn
1993 90,0 10,0 85,0 15,0
1994 88,0 12.0 84,0 16,0
1995 65,0 35,0 67,0 33,0
1996 58,0 41,0 75,0 25,0
chính sách can thiệp vào nền kinh tế để nhằm đạt đợc các mục tiêu của chính
sách tiền tệ.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng , từ 1//7/1997 NHNN đã điều chỉnh
việc giảm mức trần lãi suất cho vay các loại phù hợp với chỉ số lạm phát
cũng nhằm để khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng sử dụng
đồng vốn có hiệu quả hơn. Nh vậy, các mức lãi suất cho vay đôí với các khu
vực nông thôn và các đối tợng đợc u đãi nh vùng núi, hải đảo, ngời nghèo
cũng đợc giảm tơng ứng. Lãi suất điêù chỉnh giảm áp dụng thống nhất theo
mặt bằng mới để giảm lãi suất cho các doanh nghiệp.
Hiện nay nguồn vốn trung và dài hạn chiếm 8% trong tổng số vốn
huy động đầu t trong nớc và từ nay đến năm 2001 chiến lợc của ta là nguồn
vốn trung và dài hạn cần chiếm khoảng từ 13-15%. Vì thế ngân hàng muốn
thực hiện tốt thì cần phải thông qua việc hoạch định và thực thi chính sách tiền
tệ. Tiếp tục kiềm chế lạm phát, đa tỷ lệ lạm phát về mức thấp hơn và cũng cần

thấy nổi lên vấn đề không hợp lý về sự chênh lệch giã hai loại lãi suất chủ yếu
ở Việt Nam hiện nay đó là lãi suất Ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác và lãi
suất huy động của kho bạc Nhà nớc. Trớc ngày 1/7/1997 NHNN quy định lãi
suất cho vay ngắn hạn của các ngân hàng tối đa là 15%năm, lãi suất cho vay
trung và dài hạn là 16,1% năm. Theo đó, lãi suất huy đông tối đa là không quá
12%, nghĩa là với sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay đảm
bảo lãi suất thực dơng cho hoạt động tín dụng của các NHTM. Trong khi đó
huy động vốn để đáp ứng nhu cầu chi ngân sách hoặc cho những dự án lớn dới
hình thức huy động bằng bán trái phiếu kho bạc cao hơn lãi suất cùng loại của
ngân hàng thơng mại tại cùng thời điểm đó.Sự chênh lệch giữa hai loại lãi suất
trên ở cùng một thời điểm đã tạo ra một hình thức cạnh tranh không đáng có,
đồng thời nó thể hiện tính không nhất quán trong việc thực hiện chính sách
tiền tệ của nhà nớc.
- Việc quy định lãi suất theo thời hạn tín dụng có nội dung khác biệt với
thông lệ Quốc tế. Vốn cho vay trung và dài hạn có lãi suất thấp hơn vốn cho
vay ngắn hạn , lãi suất huy động vốn trung và dài hạn lớn hơn lãi suất huy
động vốn ngắn hạn, trong khi đó lãi suất cho vay thì ngợc lại. Vốn cho vay
thời hạn ngày càng dài , tỷ lệ rủi ro càng lớn nên lãi suất càng cao dần lên. Lãi
suất huy động và lãi suất cho vay giữa ngoại tệ và bản tệ có sự chênh lệch lớn
cha khuyến khích các doanh nghiệp thu hút ngoại tệ gửi vào ngân hàng nhng
lại khuyến khích doanh nghiệp thích vay ngoại tệ làm nảy sinh tiêu cực, thu
lợii cha xác đáng cha hạn chế đợc ngọi tệ trong thanh toán, lu thông .
11
- Khối lợng giao dịch bằng tiền mặt vẫn còn là chủ yếu, sự phối hợp hoạt
động giữa các ngân hàng còn rất ít và thiếu chặt chẽ. Sự luân chuyển vốn trong
và ngoài nớc từ nơi thừa đến nơi thiếu cha đáp ứng kịp thời và hiệu quả.
- Quy mô cung ứng tiền đã tăng đáng kể trong những năm gần đây nhng
ngành ngân hàng vẫn cha thể quản lý đánh giá và kiểm soát đợc lợng tiền trôi
nổi trong dân nhất là lợng vàng.
- Việc quản lý ngoại hối còn nhiều tồn tại. Nhiều hoạt động thơng mại n-

để xây dựng và thiết lập mặt bằng lãi suất chung theo lãi suất qua đêm hoặc
lãi suất chiết khấu, làm cơ sở cho các mức lãi suất thị trờng tự do sau này.
- Đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá làm cơ sở cho việc ra đời các hàng hoá
trao đổi trên thị trờng chứng khoán , thiết lập sự tồn tại song hành của thị tr-
12
ờng vốn đầu t, tạo môi trờng cạnh tranh hoàn hảo giữa các chủ thể liên quan
đến chu chuyển vốn trong nền kinh tế.
- NHTW cần điều chỉnh chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hớng mạnh
vào tăng hiệu quả sử dụng mọi nguồn vốn trong và ngoài nớc, hạn chế tiêu
dùng xã hội để khuyến khích tiết kiệm và đầu t. Tập trung vốn cho khu vực,
ngành sản suất kinh doanh có lợi thế cậnh tranh cao và đi đàu trong cải cách
thơng mại và thuế khoá đồng thời hỗ trợ tích cực cho việc sắp xếp các doanh
nghiệp Nhà nớc có nhiều triển vọng tốt. Khôi phục niềm tin của dân chúng,
các nhà đầu t và mọi doanh nghiệp vào hệ thống tài chính ngân hàng.
- Bằng chính sách tiền tệ NHNN phải ổn định cho đợc giá trị đồng tiền,
kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất để mọi tài sản dù là thể hiện ở bất cứ hình
thức nào cũng đợc sung dụng vào các mục tiêu kinh tế, đồng thời đảm bảo khả
năng sinh lời hợp lý trong mọi khoản đầu t. Hơn nữa không một ai gửi tiền
trung và dài hạn vào ngân hàng trong nền kinh tế có chỉ số lạm phát lớn hơn
lãi suất ngân hàng.
- Chính phủ, các ngành hữu quan và Ngân hàng Nhà nớc cần phải thực sự
tiến hành có hiệu quả việc cải cách hành chính trong lĩnh vực lu thông tiền tệ,
phải thực sự coi ngân hàng là một ngành kinh doanh đầy cạnh tranh và rủi ro,
song vẫn phải chấp nhận thách thức đó để tiến nhanh, tiến vững chắc vào cơ
chế thị trờng, phải làm thay đổi mọi t duy còn tỏ ra lo ngại hoặc còn hiểu lệch
lạc về hoạt động của ngân hàng trong dân chúng.
- Chấn chỉnh, kiện toàn các thị trờng nội ngoại tệ liên ngân hàng. NHNN
chủ động can thiệp không để biến động tỷ giá ngoại tệ, giá vàng cao bất th-
ờng, kiên quyết ngăn chặn và dập tắt mọi hành vi đầu cơ ngoại tệ, gây mất ổn
định tiền tệ. Sớm đa các điểm mua bán ngoại tệ phi tập trung vào quy trình

14
Kết luận
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trờng đang diễn ra ở hàng loạt các nớc trên thế giới. Khi một nền kinh tế
đã hoạt động và phát triển theo cơ chế thị trờng thì bên cạnh các thị trờng
hàng hoá và thị trờng sức lao động, thị trờng vốn cũng cần phát triển theo
cùng nhịp độ. Chính sự phát triển của thị trờng vốn vừa là đòi hỏi khách quan,
vừa là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của thị trờng hàng hoá và thị trờng sức lao
động. Đến lợt mình thì thị trờng hàng hoá phạt triển lại đòi hỏi và thúc đẩy cả
thị trờng vốn cũng phát triển theo.
Chúng ta biết rằng bất kỳ hoạt động kinh tế nào cũng liên quan đến ngân
hàng dù là gián tiếp hay trực tiếp. Nh vậy khu vực ngân hàng phải đợc đặt ở vị
trí hàng đầu đặc biệt là ngân hàng trung ơng giúp cho các ngân hàng không đi
chệch khỏi mục tiêu đã định. Một khu vực ngân hàng sẽ tạo một thị trờng vốn
hoàn hảo trong nền kinh tế thị trờng.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN là một công
việc còn nhiều mới mẻ đối với Việt Nam. Đảng và chính phủ đã xác định
đúng đắn nhiệm vụ của đất nớc là phải đổi mới căn bản hệ thống tài chính,
tiền tệ ngân hàng thực sự trở thành trung tâm tiền tệ tín dụng của cả nớc.
Trong thời gian qua, bộ máy hoạt đông các loại hình kinh doanh của khu vực
này đã đợc đổi mới và đang từng bớc đợc hiện đại hoá để theo kịp trình độ các
nớc trong khu vực và trên toàn thế giới. Các hoạt động tài chính tín dụng đã b-
ớc đầu dựa trên nguyên tắc thị trờng, ngoài lỗ lực của bản thân khu vực ngân
hàng, Đảng và Chính phủ cũng cần quan tâm hơn nữa bằng cách nhanh chóng
hoàn thành hệ thống pháp luật, bổ xung các điều luật cần thiết phục vụ cho
hoạt động trong lĩnh vực này.
Hoàn thiện hệ thống là cơ sở vững chắc, tiền đề quan trọng cho sự ra đời
của thị trờng chứng khoán Việt Nam.
2.1. NHNNlà Ngân hàng phát hành

2
2.2. Ngân hàng của Chính Phủ

3
2.3. Ngân hàng của các ngân hàng

3
2.4. NHTW và việc thực hiện chính sách tiền tệ

4
Chơng II: NHNN việt nam trong sự chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc.

6
1. Sự cần thiết phải xây dựng các thể chế tài chính hữu hiệu trong nền
kinh tế chuyển tiếp.

6
17
2. Vai trò của khu vực Ngân hàng.

7
3. Việt Nam trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống ngân
hàng.

8
Chơng III: Một số giải pháp củng cố và hỗ trợ vai trò của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status