VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2006-2010 - Pdf 26

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

CHỦ ĐỀ 2
VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM 2006-2010
Giáo viên: PGS.TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
Nhóm 4 thực hiện: Nguyễn Thị Phương Liên
Phạm Thị Thanh Huyền
Nguyễn Thị Diệu Linh
Vũ Thị Ngọc Yến
Đặng Thu Thủy
Lê Thanh Hằng
Vũ Trung Kiên
Trần Danh Hải
Nguyễn Thị Hà
Phan Thị Hà
Lê Thị Thủy
GIỚI THIỆU CHUNG

Trong nền kinh tế sôi động hiện nay, các ngành kinh tế ngày càng
phát triển thì hoạt động kinh tế không chỉ bao gồm mối quan hệ cung
cầu về hàng hoá, mà còn có mối quan hệ cung cầu về tiền tệ. Quan
hệ này xuất hiện dẫn đến tất yếu sự luân chuyển nguồn vốn từ nơi
thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ các chủ thể thừa vốn đến các chủ thể
thiếu vốn. Hoạt động này diễn ra trên thị trường tài chính, mà chủ thể
chính là các trung gian tài chính. Nhờ có sự hoạt động tích cực của
các trung gian tài chính, nhu cầu vay vốn của các khách hàng đã
được đáp ứng kịp thời về cả số lượng cũng như thời gian sử dụng;
đồng thời cũng giúp giảm bớt rủi ro trong quá trình chuyển giao vốn.
Điều này có được đó là nhờ vào khả năng thu thập và xử lý thông tin
một cách chính xác, cách quản lý và kiểm soát các nguồn vốn một

( Lãi suất cơ bản của VND lên 8,25 %)
- Tốc độ tăng vốn huy động cao hơn tốc dộ tăng dư nợ cho vay
Do tỷ lệ tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi ngân
hàng tại các ngân hàng tăng nhanh. Trong khi nhu cầu vay vốn
tập trung vào trung và dài hạn nên dư thừa vồn huy động ngắn
hạn. Hơn nữa, các ngân hàng muốn cơ cấu lại nguồn vốn và tăng
hoạt động vốn trung và dài hạn.
- Hoạt động vốn của hệ thống NH từ dân ngày càng tăng
- Nhóm NHTMNN chiếm gần 76% tổng nguồn vốn huy động và
80% thị phần tín dụng
3. Bắt đầu mở cửa cho các NH nước ngoài
* Vài nét về ảnh hưởng của WTO đối với NHTM Việt Nam
Một “cuộc chơi” hoàn toàn mới
Ngày 1/4/2007: NH nước ngoài chỉ được mở 1 chi nhánh với
100% vốn nước ngoài, được hưởng quy chế đối xử quốc gia
+ Được nhận tiền gửi bằng tiền đồng 1 cách không hạn chế từ
các pháp nhân,được phát hành thẻ tín dụng
+ Khi VN gia nhập WTO, các cty CK nước ngoài sẽ được sở hữu
49% trong các liên doanh. Sau 5 năm sẽ được sở hữu 100% và
được thực hiện các nghiệp vụ quản lý tài sản, tư vấn…
a, Cơ hội:
- Có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ và đào tạo đội ngũ cán
bộ, phát huy lợi thế so sánh của mình để theo kịp yêu cầu cạnh
tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra nước ngoài. Từ đó, nâng
cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi
mới và cải cách hệ thống ngân hàng VN, nâng cao năng lực quản
lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả năng tổng
hợp, hệ thống tư duy xây dựng các văn bản pháp luật trong hệ
thống ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết

- Áp lực cải tiến công nghệ và kỹ thuật cho phù hợp để có thể
cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài
- Hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường chưa đầy đủ,
chưa đồng bộ và nhất quán, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội
nhập quốc tế về ngân hàng.
- Khả năng sinh lời của hầu hết các NHTM VN còn thấp hơn các
ngân hàng trong khu vực, do đó hạn chế khả năng thiết lập các
quỹ dự phòng rủi ro và quỹ tăng vốn tự có.
- Trong quá trình hội nhập, hệ thống ngân hàng VN cũng chịu tác
động mạnh của thị trường tài chính thế giới, nhất là về tỷ giá, lãi
suất, dự trữ ngoại tệ, trong khi phải thực hiện đồng thời nhiều
nghĩa vụ và cam kết quốc tế.
- Các ngân hàng thương mại VN đầu tư quá nhiều vào doanh
nghiệp nhà nước, trong khi phần lớn các doanh nghiệp này đều có
thứ bậc xếp hạng tài chính thấp, và thuộc các ngành có khả năng
cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các
NHTM.
- Hội nkinh hập tế, quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro
của hệ thống ngân hàng, trong khi cơ chế quản lý và hệ thống
thông tin giám sát ngân hàng còn rất sơ khai, chưa phù hợp với
thông lệ quốc tế.
- Cấu trúc hệ thống Ngân hàng tuy phát triển mạnh mẽ về chiều
rộng (cả ở khu vực quản lý lẫn khu vực kinh doanh) nhưng còn
quá cồng kềnh, dàn trải, chưa dựa trên một mô hình tổ chức khoa
học làm cho hiệu quả và chất lượng hoạt động còn ở mức kém xa
so với khu vực.
- Việc đào tạo và sử dụng cán bộ, nhân viên còn bất cập so với
nhu cầu của nghiệp vụ mới, đặc biệt còn coi nhẹ hoạt động
nghiên cứu chiến lược và khoa học ứng dụng làm cho khoảng
cách tụt hậu về công nghệ ngân hàng của VN còn khá xa so với

cao hơn mức 19% năm 2005. Tuy nhiên, trong năm 2006, 2007,
do tốc độ tăng trưởng “nóng” của nền kinh tế đã dẫn đến lượng
cung tiền tăng nhanh, kéo theo tăng trưởng nóng tín dụng, trong
khi tiết kiệm sụt giảm. Sở dĩ điều này xảy ra là do các NHTMCP
đã tận dụng quá mức nguồn vốn vay lien ngân hàng với chi phí
huy động thấp để cho vay bất động sản và chứng khoán. Việc này
đã góp phần thúc đẩy tốc độ tín dụng lên cao trong năm 2007,
đồng thời tạo sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn và tiềm ẩn
rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
4. Cái giá của tăng trưởng “nóng” tín dụng:
( Cho vay hết cỡ năm 2007 tăng gần 130%)
* Trả giá cho sự phiêu lưu:
- Các ngân hàng khan hiếm VND để cho vay ( nhất là các
NHTMCP ở trong tình trạng căng thẳng VND)
- Những ngân hàng đang căng thẳng về vốn phải vay với lãi suất
cao trên thi trường lien ngân hàng phần lớn là các ngân hàng đã
tăng trưởng tín dụng VND cao quá mức năm 2007
VD: ngân hàng ACB
- Nhiều ngân hàng đã sử dụng tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn để
cho vay dài hạn khá lớn
( Tháng 8/ 2007, nhiều ngân hàng đã đua nhau đưa ra các
chương trình cho vay bất động sản từ 1 đến 20 năm)
Khi NHNN sử dụng công cụ tiền tệ thắt chặt, nhu cầu vốn của nền
kinh tế tăng, nguồn vốn tiền đồng thị trường liên ngân hàng trở
nên khan hiếm. Vì thế các ngân hàng ( mà NHTMCP là tổ chức
vay mượn nhiều nhất trên thị trường lien ngân hàng có tỷ lệ cho
vay trung và dài hạn căng thẳng tiền đồng)
5. Với sự trưởng thành vượt bậc của hệ thống ngân hàng thì nó
có đóng góp quan trọng đối với việc phát triển TTCK Việt Nam
ntn???

- Điều đáng nói nữa là trong cơn hưng phấn của xã hội, thì các
ngân hàng thương mại mạnh tay cấp phát tín dụng với khối lượng
lớn... Ở đây có phần mang những đặc điểm quán tính của kinh tế
thị trường, giống như sản xuất hàng loạt để dẫn đến sản xuất thừa
của các nền kinh tế thị trường tự do. Cứ thế,vay ngân hàng mua
cổ phiếu, lấy cổ phiếu thế chấp để rồi lại tiếp tục vay ngân hàng
đầu tư cổ phiếu để chờ giá lên là bán lấy lãi. Quy trình đó đã làm
cho giá trị cổ phiếu tăng vọt nhanh chóng, vượt lên khỏi giá trị
thực của nó nhiều lần tạo thành “bong bóng đầu cơ”.
- Nếu cứ thế tiếp diễn, thì bong bóng có thể tiếp tục phình to, độ
phình của bong bóng có thể lên nữa và lên nữa cho đến khi hết
khả năng chịu đựng của nền kinh tế thì xì hoặc nổ - tạo ra nguy
cơ khủng hoảng.
- Trước những động thái đó, thì Ngân hàng nhà nước đã đưa ra
biện pháp đầu tiên là siết chặt tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán
của các ngân hàng thương mại bằng Chỉ thị 03/NHNN. Ngoài ra,
Ngân hàng nhà nước thi hành chính sách mạnh trong thắt chặt
tiền tệ bằng cách nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, huy động 20.300 tỷ
đồng tín phiếu bắt buộc. Trước thực tế đó các ngân hàng thương
mại đã rơi vào thế bí, lấy đâu ra tiền mặt để đáp ứng yếu cầu của
Chính phủ và Ngân hàng nhà nước? Có nhận định cho rằng
nó như cái van xiết lại dòng vốn cung ứng vào thị trường chứng
khoán, bất động sản. Nhưng trên thực tế, nếu không có Chỉ thị đó,
thì thị trường chứng khoán như đang ăn phải thức ăn độc mà
không biết lại cứ tiếp tục ăn nữa để đến chỗ nguy hiểm hơn. Bởi
vậy, Chỉ thị 03 chính là “liều thuốc đắng”, ngăn lại quá trình nguy
hiểm của ngân hàng, cứu cánh cho thị trường chứng khoán, chỉ
tiếc rằng nó ra hơi muộn, để các ngân hàng thương mại đã cho
vay kinh doanh chứng khoán nhiều, có thời điểm đã lên khoảng
20.000 tỷ đồng. Theo Ngân hàng nhà nước, con số này chiếm

chứng khoán để cố giữ lấy phần giá trị còn lại bằng tiền (có lúc chỉ
còn 50 - 40% so với giá mua ban đầu).
Kết luận:
- Muốn thị trường ổn định, trước mắt và trong một thời gian nữa
đừng để tiếp diễn cảnh chứng khoán và ngân hàng “dẫm chân” lên
nhau. Bởi vì, theo kinh nghiệm của các thị trường phát triển, chứng
khoán là một kênh huy động vốn và chia sẻ rủi ro rất hiệu quả. Khác
với hệ thống ngân hàng, nơi hàng triệu người dân gửi tiền và niềm
tin của mình cho một hoặc một nhóm người, trao họ quyền quyết
định tài sản của mình, thì trên sàn chứng khoán - mỗi nhà đầu tư là
một chủ thể riêng. Còn nếu chúng dẫm chân lên nhau thì hậu quả sẽ
khó lường, không những gây thiệt hại cho cả chứng khoán và ngân
hàng, mà còn làm hỏng môi trường thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ
bên ngoài.
- Muốn thị trường ổn định, trước mắt và trong một thời gian nữa
đừng để tiếp diễn cảnh chứng khoán và ngân hàng “dẫm chân” lên
nhau. Bởi vì, theo kinh nghiệm của các thị trường phát triển, chứng
khoán là một kênh huy động vốn và chia sẻ rủi ro rất hiệu quả. Khác
với hệ thống ngân hàng, nơi hàng triệu người dân gửi tiền và niềm
tin của mình cho một hoặc một nhóm người, trao họ quyền quyết
định tài sản của mình, thì trên sàn chứng khoán - mỗi nhà đầu tư là
một chủ thể riêng. Còn nếu chúng dẫm chân lên nhau thì hậu quả sẽ
khó lường, không những gây thiệt hại cho cả chứng khoán và ngân
hàng, mà còn làm hỏng môi trường thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ
bên ngoài.
- Với sự trưởng thành vượt bậc của hệ thống ngân hàng, thì nó có
vai trò quan trọng đối với việc phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam. Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển sẽ cùng với
thị trường tiền tệ tạo ra một thị trường tài chính vận hành có hiệu quả
cao hơn, góp phần đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

dịch vụ ngân hàng để thanh toán chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp,
lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có
thu nhập cao và ổn định. Tuy chính phủ và Ngân hàng NN đã có
nhiều giải pháp và khá tích cực trong xây dựng hệ thống thanh toán
không dùng tiền mặt tại VN nhưng hiện tại quá trình này vẫn đang
còn diễn ra chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu.
c, Vai trò của các Ngân hàng thương mại trong việc phát triển hệ
thống thanh toán không dùng tiền mặt:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status