Lời mở đầu
C.M ác và Ph.Ănghen cùng với việc phân tích phương thức sản xuất TBCN, ngoài
việc rút ra sự tiến bộ của CNTB trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hoá sức lao
động, hai ông cũng đã phân tích rõ những mâu thuẫn ngay trong lòng XH t ư bản, t ừđó
dẫn đến khẳng định sự ra đời củ a CNCS. Song con đường tiến lên CXCS không thể
diễn ra ngay được, mà phải trải qua qua một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ
sang xã hội kia , đó chính là thời kỳ quá độ. V ì vậy trong thời kỳ này ngoài những yếu
tố mới của xã hội mới, n ó còn tồn tại những yếu tố của xã hội cũ, đó chính là s ự tồn tại
của thành phần kinh t ế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH . Và Việt Nam đang
trong thời kỳ quá độ cũng không năm ngoài quy luật chung đó, nhưng sự tồn tại của th
ành phần kinh tế tư nhân ở VN cũng có đặc điểm riêngnh ất là trong thời kỳ đổi mới h
ướng đi riêng, và có những đóng góp nhất định cho nền kinh tê VN. Việt Nam chính
thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có
nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa
các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới
đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền
kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công
bằng tương đối trong xã hội. Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển
dịch theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triển không
hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không
cấm. Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi
cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền
kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có
hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nền kinh tế mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa Theo đó, nếu không có kinh tế nhà nước sẽ không có định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhưng nếu không có kinh tế tư nhân, cũng sẽ không có kinh tế thị trường. Chính
vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất , xã hội hoá sản xuất
cũng như phương diện giải quyết các vấn đề xã hội . Hiện nay thành phần kinh tế tư bản
tư nhân đang phát triển mạnh mẽ, và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
II/Tính tất yếu tồn tại kinh tế tư nhân ở nước ta trong TKQĐ lên
CNXH :
Lênin đã khẳng định :trong TKQĐ lên CNXH , nền kinh tế bao gồm nhiều đặc
điểm và đặc tính của kết cấu kinh tế xã hội cũ, đồng thời lại xuất hiện những đặc điểm
và đặc tính của kết cấu kinh tế của xã hội mới , chúng tồn tại xoắn xuýt lẫn nhau . Từ đó
, Lênin rút ra đặc điểm kinh tế mang tính phổ biến trong TKQĐ lên CNXH là nền kinh
tế nhiều thành phần , mặc dù ở mỗi nước , mỗi thời kỳ khác nhau số lượng TPKT có thể
nhiều ít khác nhau
Nền kinh tế mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Theo đó, nếu không có kinh tế nhà nước sẽ không có định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhưng nếu không có kinh tế tư nhân, cũng sẽ không có kinh tế thị trường. Chính
vì thế mà phát triển kinh tế nhiều thành phần nói chung và phát triển kinh tế tư nhân nói
riêng là một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế của Đảng
ta.
Để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật
chất cho CNXH là mục tiêu , nhiệm vụ trọng yếu của TKQĐ ở nước ta. Song , nước ta
xuất phát điểm là nước phong kiến lạc hậu, lại phải trải qua hai cuộc kháng chiến trường
kỳ, thiệt hại sức người, sức của lại bỏ qua CNTB , chính là bỏ qua giai đoạn xây dựng
cơ sở vật chất cho thời kỳ CNXH. Vì vậy TKQĐ ở nước ta gặp phải nhiều khó khăn,
nhất là về vốn. Trong điều kiện thu nhập quôc dân còn thấpvà ngân sách Nhà nước rất
hạn hẹp , nếu chỉ trông chờ vào Nhà nước không thì TKQĐ ở nước ta sẽ không hoặc
chậm thực hiện nhiêm vụ nói trên. Để thực hiện hiệu quả và với tốc độ nhanh các nhiệm
vụ nói trên , phải giải phóng mọi tiềm lực bị kìm hãm trước đây, khai thác và sử dụng
hiệu quả mọi tiềm lực về vốn , công nghệ , kinh nghiệm quản lý , sức lao động và nhất
là nguồn lao động trí tuệ …Mục đích đó chỉ có thể thực hiện được khi sử dụng được sức
mạnh tổng hợp của các TPKT, đặc biệt đó là sức mạnh của kinh tế tư nhân, vì tận dụng
được nguồn vốn ngay trong dân, và chính thành phần kinh tế này đóng góp không nhỏ
tỷ trọng 7,11% của khu vực kinh tế tập thể, cao gấp hơn 2,5 lần tỷ trọng 15,17% của
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đạt xấp xỉ với tỷ trọng 39,22% của khu vực kinh
tế nhà nước. Riêng tỷ trọng trong GDP của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư
nhân nhìn chung đã tăng lên qua các năm: nếu năm 2000 mới chiếm 7,31%, thì năm
2005 là 8,91%. Đáng lưu ý, tốc độ tăng trưởng GDP do các doanh nghiệp thuộc khu vực
kinh tế tư nhân luôn luôn cao hơn gấp rưỡi, gấp đôi tốc độ tăng chung cũng như cao
hơn tốc độ tăng của các khu vực khác.
b- Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội , nộp ngân sách cho Nhà
nước
Trong những năm sau cải cách mở cửa, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng
nhanh và chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội:
Năm Vốn (tỷ đồng) Chiếm(%)
1999 31.542 24,05
2000 35.894 24,31
Năm 2000, vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể đạt 29.267 tỷ đồng chiếm 19,82%
tổng số vốn toàn xã hội . Vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp tư nhân đạt 6.627
tỷ đồng chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội .
Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh, nhất là các
doanh nghiệp tư nhân: năm1999 : 79.493 tỷ đồng
năm 2000 : 110.071 tỷ đồng , tăng 38,5%
Các địa phương tăng mạnh vốn sử dụng thực tế cho doanh nghiệp là:
Hà Nội : 10.164 tỷ đồng (1999) lên 16.573 tỷ đồng (2000), tăng 63,05%
TPHCM: 36.954 tỷ đồng (1999) lên 52.353 tỷ đồng (2000), tăng 41,67%
Chính Phủ thu được những khoản thu ngân sách lớn từ khu vực kinh tế tư nhân do
các do khu vực kinh tế này hoạt động có hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước nhất
là trong các ngành có tính cạnh tranh cao, thâm hụt ngân sách giảm .Đóng góp vào
ngân sách của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển:
Năm 2000, nộp ngân sách nhà nước được 5.900 tỷ đồng ( chiếm 7,3% ngân sách,
tăng 12,5% so với năm 1999)
khoảng 1,6 triệu việc làm mới. Ước tính ban đầu cho thấy các hộ kinh doanh khu vực
kinh tế tư nhân đã đóng góp tới 90% tổng số 7,5 triệu việc làm được tạo ra trong giai
đoạn 5 năm cho tới năm 2005. Phần lớn trong tổng số 1,6 triệu việc làm mới mỗi năm
mà VN cần có trong giai đoạn 2006-2010 hy vọng sẽ có do khu vực kinh tế tư nhân
tạo ra.
Quan hệ phân phối giờ đây trở nên linh hoạt , đa dạng , ngoài phân phối chủ yếu
dựa trên lao động , còn sử dụng hình thức phân phối theo vốn góp , tài sản , cổ phần
và các hình thức khác …. Vì vậy QHSX trở nên mềm dẻo , linh hoạt , dễ được chấp
nhận và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế và tâm lý xã hội của nước ta hiện
nay . Chuyển biến QHSX khơi dạy , phát huy tiềm năng vốn , TLSX , tài nguyên
thiên nhiên , đặc biệt là nguồn lao động dồi dào và tiềm lực của hàng triệu hộ dân,
góp phần xoá đói giảm nghèo( từ 16,5% hộ đói nghèo năm 1995, đến năm 2000 chỉ
còn 11%). Không những vậy còn cải thiện đáng kể đời sống dân cư ỏ cả thành thị và
nông thôn . Theo thực tế khảo sát , thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế
tư nhân thường có mức thu nhập tương đương hoặc cao hơn thu nhập của lao động
trồng lúa ở nông thôn ở cùng địa bàn , góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng ,
và là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhiều năm liền trong khu
vực và trên thế giới
d- Thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo định
hướng thị trường , tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế
Trước đây , hầu hết các lĩnh vực kinh tế , các ngành sản xuất kinh doanh v.v đều do
kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể đảm nhiệm . Hiện nay trừ một số lĩnh vực , ngành
nghề mà Nhà nước độc quyền , kinh tế tư nhân không được kinh doanh , còn lại hàu hết
các ngành nghề , lĩnh vực sản xuất , kinh doanh khác , khu vực kinh tế tư nhân đều tham
gia . Trong đó nhiều lĩnh vực , ngành nghề , kinh tế tư nhân chiếm tỷ lệ cao :sản xuất
lương thực , thực phẩm , nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản , dệt may, da giày…
TPKT tư nhân đã mang về hàng tỷ đôla ngoại tệ cho đất nước .
Chính sự phát triển phong phú , đa dạng các cơ sỏ sản xuất , ngành nghề , loại sản
phẩm dịch vụ , các hình thức kinh doanh v.v của các khu vực kinh tế tư nhân mang lại
đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước , buộc khu vực kinh tế nhà nước phải
các lĩnh vực , ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm , trong đó bao
gồm cả các ngành kỹ thuật cao (điện tử , phần mềm …) và làm chủ nhiều lĩnh vực
( nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, công nghiệp chế biến …) , nhiều ngành
hàng( thương mại , dịch vụ , bán lẻ hàng hoá , ăn uống, gia công giày dép , dệt may , thủ
công mỹ nghệ xuất khẩu…)
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng số lượng các nhà doanh nghiệp tư nhân , chủ trang
trại cùng giám đốc các doanh nghiêp nhà nước là thành quả trọng mà công cuộc đổi mới
đã tạo nên . Nhưng nếu so với yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế( dân) và đặc biệt
trước yêu cầu mở cửa , hội nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và Thế Giới _ đòi hỏi
phải có đội ngũ các nhà doanh nghiệp đủ mạnh , ngang sức ngang tài , là đối tác với các
doanh nghiệp nước ngoài . Với những đòi hỏi đó, thì số lượng chủ doanh nghiệp ở nước
ta nói trên còn quá nhỏ bé . Đa số các doanh nghiệp ở nước ta còn ở dạng vừa và nhỏ .
Phần lớn các chủ doanh nghiệp ở độ tuổi trung niên , có trình độ văn hoá , trưởng thành
trong giai đoạn đổi mới , con đường lập nghiệp của họ cũng khác nhau . Phần đông là
cán bộ , công nhân viên Nhà nước vì nhiều lý do nên thành lập doanh nghiệp . Một số là
cán bộ về hưu , phục viên, xuất ngũ , số khác là học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp có
cơ hội bước vào con đường lập nghiệp v.v Phần lớn họ đều xuất thân từ gia đình lao
động , bản thân họ cũng là người lao động lớn lên trong chế độ mới – trong đó không ít
người là cán bộ , đảng viên được đào tạo ngành nghề , có trình độ , bằng cấp , đã tham
gia cách mạng và sự nghiệp xây dựng CNXH , có hoài bão , ước mơ v.v muốn thử sức
trong thương trường để làm giàu cho mình và cho xã hội và là người làm ăn chân chính
Mặc dù có không ít các chủ doanh nghiêp, trang trại có biểu hiện tiêu cực, chạy
theo đồng tiền bất chấp luật pháp , đạo lý xã hội , làm ăn phi pháp , hàng giả … gây
thiệt hại cho xã hội , cần giáo dục …Nhìn chung cầm có hệ thống luật pháp đồng bộ ,
chặt chẽ , rõ ràng đối với khu vực kinh tế tư nhân , nhưng đồng thời cũng cần có chính
sách biện pháp khuyến khích họ để họ thực sự đứng trong đội ngũ các nhà doanh nghiệp
Việt Nam, thúc đẩy con tàu kinh tế đất nước , thực hiện thành cồn CNH-HĐH đất nước
B/ Thực trạng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta hiện
nay
I/Sự phát triển về số lượng của khu vực kinh tế tư nhân
nhân mới chính thức ra đời và chỉ thực sự tăng lên nhanh chóng từ sau khi có Luật
Doanh nghiệp, sau 5 năm thi hành, số doanh nghiệp đăng ký mới đã đạt gần 110 nghìn,
cao gấp hơn 2,4 lần so với thời kỳ 1991 - 1999.
Số cơ sở kinh doanh tư nhân giai đoạn 1991 – 1998
Loại hình 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
DNTBTN 414 5198 6808 10881 15276 18894 25002 26021
DNTN 270 3676 5812 7794 10916 12464 17500 18750
CTTNHH 122 1444 1607 2968 424 6303 7350 7100
CTCP 22 78 19 119 118 127 152 171
Số cơ sở
kd cá thể
1498600 153310
0
2050200 2215000
+kinh tế cá thể bình quân giai đoạn 1990 - 1996 : mỗi năm tăng 553.775 cơsở (tốc
độ tăng hàng năm lớn hơn 20%).
+Từ năm 1992 đến năm 1994 số đơn vị kinh tế cá thể tăng 34500 đơn vị
+Từ năm 1994 đến năm 1995 số đơn vị kinh tế cá thể tăng 517100 đơn vị , tức là chỉ
trong 1 năm, riêng số đõn vị cá thể đã tăng nhiều hơn hẳn so với năm trc ,vì do có sự
mở cửa thông thoáng, nhiều ngýời nhận thức được vai trò cũng nhý lợi ích của hình
thức kinh doanh này
+Từ năm1995 đến năm1996 số đõn vị kinh tế cá thể tăng 164800đơn vị , có sự giảm
sút này do có nhiều đõn vị cá thể, có nguồn vốn bắt đầu khá, chuyển sang hình thức
khác nhý thành lập doanh nghiêp
Các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những bước phát
triển vượt bậc về số lượng.
Số l ượng TBTN giai đoạn 1991_1998
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Số
lượng
sự nghiệp.Theo điều tra của Tổng cục thống kê (TCTK), số doanh nghiệp đang hoạt
động tính đến thời điểm cuối năm 2002 là 62.908, cuối năm 2003 là 72.012, tức là
khoảng 55% so với số doanh nghiệp đã đăng ký. Trong một nền kinh tế thị trường tự do
cạnh tranh, việc dừng kinh doanh cũng như việc đăng ký kinh doanh mới là hiện tượng
bình thường của quá trình phát triển khi mà các doanh nghiệp phản ứng với những thay
đổi liên tục của môi trường bên ngoài, ví dụ như cơ hội thị trường mới, các khó khăn
mới xuất hiện v.v. Vì vậy, hiện tượng số lượng doanh nghiệp còn hoạt động ít hơn số
lượng doanh nghiệp đã đăng ký thành lập là một điều dễ hiểu và ở một mức độ nào đó
phản ánh sự năng động của khối doanh nghiệp tư nhân. ở các nước phát triển thuộc tổ
chức OECD, tỷ lệ doanh nghiệp còn hoạt động sau 2 năm vào khoảng 60-70% và sau 7
năm thì chỉ còn là 40-50%. Tuy nhiên, hệ thống đăng ký doanh nghiệp hiện nay của
Việt Nam chưa cung cấp được thông tin đầy đủ về những doanh nghiệp đã dừng hoạt
động hay thay đổi và lý do thay đổi. Theo kết quả nghiên cứu gần đây của MPDF,
nguyên nhân giải thích sự chênh lệch giữa số liệu của cơ quan phụ trách đăng ký doanh
nghiệp và TCTK là doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động thì hầu như không được
ghi nhận trong hệ thống đăng ký doanh nghiệp của TTTTDN; nhiều doanh nghiệp đăng
ký thành lập không phải là doanh nghiệp thành lập mới mà là chi nhánh hoặc công ty
con của một doanh nghiệp khác và một số doanh nghiệp có thể đăng ký nhằm phục vụ
những mục đích cá nhân hay mục đích đặc biệt của riêng doanh nghiệp (ví dụ như được
mua quyển "hóa đơn đỏ" VAT). Hiểu rõ hơn những nguyên nhân này sẽ giúp Nhà nước
có được các chính sách quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực hơn.
II/Sự phát triển theo ngành nghề sản xuất kinh doanh
Đứng trên khía cạnh ngành thì khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh. Kinh
tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những
ngành nghề mà pháp luật không cấm Theo điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
TW, số lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực trên cả nước
Các ngành 1996 2000
Sản xuất công nghiệp 27% 20,8%
Lĩnh vực vận tải , kho bãi ,
thông tin liên lạc
+KT Nhà nước 50,3 44,9
+KT ngoài quốc doanh 24,6 21,1
2- Khu vực có vốn FDI 25,1 34
+)Tương tự như đối với ngành sản xuất công nghiệp, lĩnh vực vận tải, kho bãi ,
thông tin liên lạc cũng giảm một lượng nhỏ về cơ cấu ( từ 9% xuống 8,3%) . Ngoài
những lý do trên, cơ cấu ngành này còn giảm do giá dầu thế giới leo thang , khiến cho
tất cả các ngành đều gặp khó khăn, đặc biệt là ngành vận tải chịu ảnh hưởng trực tiếp và
nặng nề nhất. Việt Nam, một nước có nền kinh tế không phải là phát triển nhưng lại là
nơi có giá đất đắt đỏ vào loại nhất TG, mà diện tích đất dành cho doanh nghiệp thuê lại
không nhiều vì vậy việc thuê kho bãi là rất khó khăn . Trong lĩnh vực thông tin liên lạc ,
các doanh nghiệp tiến dần đến phát triển về mặt quy mô, dẫn đến các doanh nghiệp
không có khả năng, không đủ sức cạnh tranh sẽ bị loại .Tuy nhiên về số lượng các
doanh nghiệp này cũng tăng nhanh chóng, và đóng góp vào ngân sách Nhà nước.Chiếm
64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa cả nước
+)Trong số các ngành nghề chỉ có khu vực thương mại dịch vụ là tăng về cơ cấu so
với các ngành khác ( 38,8% năm 1996 lên 51,9% năm 2000), chiếm hơn nửa cơ cấu
ngành của khu vực kinh tế tư nhân và chiếm vị thế chủ yếu. Sự gia tăng về mặt số lượng
của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cũng là điều dễ hiểu vì khu vực thương mại
dịch vụ này không cần lượng vốn quá lớn , với số vốn tuỳ theo khả năng các doanh
nghiệp đều có thể hoạt động , có thể từ vài chục triệu , vài trăm triệu hay vài tỷ đồng ,
doanh nghiệp có thể hoạt động trên những lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra, ngành thương
mại dịch vụ là ngành thu hồi vốn nhanh, khả năng quay vòng vốn cao, khả năng sinh lời
cao so với số vốn bỏ ra, phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam đó là
vừa và nhỏ . Ngoài ra, lĩnh vực này có thể sử dụng lao động địa phương không yêu cầu
cao về mặt trình độ vì vậy ngoài việc tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống cho nhân
dân địa phương, doanh nghiệp còn tiết kiệm được thời gian tìm nhân công, tiết kiệm
được khoản phí thuê chỗ ở cho nhân công…. Đây chính là lý do cơ cấu ngành thương
mại dịch vụ trong khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng lớn. Số
lượng các doanh nghiệp tư nhân tăng lên rõ rệt : Năm 1986 cả nước mới có
568000 doanh nghiệp
Các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực này không chỉ gia tăng về mặt số lượng ,
mà còn có doanh thu cao . Năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân chiếm 80% doanh thu
khu vực thương mại bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong nước , không những làm giàu cho
bản thân doanh nghiệp mà còn đóng góp ngân sách, tạo công ăn việc làm cho người lao
động, nhất là thành phần hộ kinh doanh gia đình tăng mạnh trong lĩnh vực này( từ
10.916 dn năm1995, lên 23.850 dn năm 2000), luôn chiếm số lượng lớn trong khu vực
kinh tế tư nhân ( khoảng 72%)
+) Trong ngành nông lâm ngư nghiệp, thành phần tư nhân hoạt động dưới hình thức
kinh tế trang trại và hộ nông dân , sản xuất trên quy mô lớn , chiếm tỷ lệ khá cao trong
cơ cấu ngành nghề của khu vực kinh tế tư nhân( năm 2000 là 12,4%).
Năm 2002, cả nước có 2525 doanh nghiệp tư nhân
69 công ty TNHH
13 triệu hộ gia đình
Trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp . Trong đó 77% hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp vì đây là ngành chính của nước ta( nước ta có nghề truyền thống là trồng lúa
nước , trải qua nhiều năm có kinh nghiệm). Hiện nay có tới 95% là sản xuất nông
nghiệp trong cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp , trên 80% sản xuất nông nghiệp là do
khu vực kinh tế tư nhân đảm nhiệm . Nền kinh tế trang trại và sản xuất quy mô lớn do
khu vực tư nhân sở hữu mang lại hiệu quả lớn cho nền kinh tế, giúo nước ta khai thác
hiệu quả nguồn lực hiện nay hơn rất nhiều so với cơ chế cũ khi nền kinh tế tập thể, hợp
tác xã đóng vai trò chủ đạo trong lĩnh vực nông nghiệp . Còn trong lâm nghiệp , nhà
nước cũng có chính sach giao đất giao rừng cho tư nhân, nâng cao nhận thức của tư
nhân về quyền lợi và nghĩa vụ bảo vệ rừng, vùa mang lại lợi ích cho bản thân doanh
nghiệp, cá nhân, vừa mang lại lợi ích cho đất nước . Khu vực kinh tế tư nhân cũng đã
nhân thức được khả năng mang lại lợi nhuận từ ngành lâm ngư nghiệp, vì vậy diện tích
rừng được phủ xanh hàng năm tăng, diện tích mặt nước thả cá, tôm , cua tăng nhanh
chóng, mang lại công ăn việc làm và thu nhập đáng kể cho các doanh nghiệp và hộ dân.
Đã xuất hiện nhiều doanh nghiêp lớn , cá nhân xuất sắc , tỷ phú trong những lĩnh vực
này.
động; trình độ, tay nghề của người lao động cũng rất thấp: trung học phổ thông 35%,
nghệ nhân 0,06%, trung cấp trở lên 9,8%; tình trạng nợ đọng, chiếm dụng vốn còn khá
phổ biến; phương thức sản xuất còn rất lạc hậu, tình trạng ngưng trệ sản xuất, thua lỗ,
phá sản rất phổ biến.
Nhìn chung, ở nước ta, quy mô DN tư nhân còn hạn chế, công nghệ lạc hậu, khả
năng cạnh tranh rất thấp, sản xuất kinh doanh mang tính chất tự phát, thiếu định hướng,
mất cân đối, phân bổ không đều, chủ yếu ở ph ía Nam( 73%, riêng TPHCM chiếm 25%)
, khu vực phía Bắc chiếm 18%, miền Trung chiếm9% ,(DN tư nhân tập trung ở Đông -
Nam Bộ 35,8%, đồng bằng sông Hồng 24,3%, đồng bằng sông Cửu Long 16,6%)
IV/ Cơ hội và thách thức của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn
hiện nay
a-Cơ hội lớn
Từ năm 2000 trở lại đây, KVKTTN nói chung, DNTN nói riêng, đang phát triển
mạnh, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
đang ngày càng khẳng định vai trò động lực của mình.
Với việc thi hành Luật Doanh nghiệp và hàng loạt các biện pháp cải cách khác, môi
trường kinh doanh ở nước ta trong mấy năm gần đây đã có những cải thiện quan trọng
theo hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh của người dân trên nguyên tắc doanh
nghiệp và người dân được tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà luật pháp không
cấm, khuyến khích người dân làm ăn, kinh doanh làm giàu cho mình và cho đất nước,
khuyến khích mọi doanh nghiệp tham gia các ngành xuất khẩu, chú trọng hỗ trợ các
doanh nghiệp nhỏ và vừa Chính trong môi trường đó, KVKTTN và đặc biệt là DNTN
đã nhanh chóng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp tích cực vào tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nước trên các mặt: tạo công ăn việc làm, tăng
vốn đầu tư phát triển, mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy phát triển các thị trường, đổi mới kinh tế và
hành chính
KVKTTN phát triển nhanh chóng trong thời gian qua còn do tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế của đất nước, khởi đầu từ khi chúng ta đổi mới, và đặc biệt phát triển từ
giữa thập kỷ 1990, khi nước ta lần lượt tham gia ASEAN, ASEM, APEC và không
thương trường. Do nhỏ, yếu, DNTN nước ta vừa rất khó đương đầu với cạnh tranh ngày
càng khốc liệt trên thị trường trong nước và quốc tế, vừa dễ bị tổn thương trước những
biến động thị trường. Hơn 80% DNTN ở nước ta mới ra đời sau khi Luật Doanh nghiệp
1999 được thi hành nên họ còn rất thiếu kinh nghiệm thương trường, chưa đủ thời gian
để trưởng thành, trong khi đã phải đối phó với áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh.
Hầu hết các DNTN ở nước ta đều thiếu những nguồn lực cơ bản cần thiết cho họ:
nguồn vốn, đất đai, công nghệ, kỹ năng quản lý, nhân lực có chất lượng, thị trường,
thông tin và cả mối quan hệ với các đối tác quan trọng. Bản thân họ không thể có đủ
nguồn lực, lại gặp khó khăn rất lớn trong việc tiếp cận với các nguồn lực có sẵn ở bên
ngoài doanh nghiệp, kể cả những nguồn đã được Nhà nước cam kết hỗ trợ, ưu đãi hoặc
giành quyền bình đẳng khi tiếp cận. Tình trạng thiếu nguồn lực của DNTN bị kéo dài đã
hạn chế rất lớn sự phát triển của họ. Tuy trong thời gian qua, DNTN đạt tốc độ phát
triển nhanh trên một số lĩnh vực, nhưng điều đó cũng do điểm xuất phát của họ rất thấp.
Nếu tính tới hàm lượng tăng trưởng, DNTN khó sánh được với DNNN, còn tính cả về
hàm lượng và chất lượng, họ khó sánh được với FDI, nhất là trong phát triển công
nghiệp và các lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn. Do vậy, DNTN vừa khó cạnh tranh, vừa
khó là đối tác bình đẳng với DNNN, FDI và doanh nghiệp các nước khác. Cho tới nay,
số DNTN trưởng thành, đạt quy mô kinh tế hiệu quả còn chiếm tỷ lệ rất thấp trong
DNTN ở nước ta. Ngay trong số DNTN đã trưởng thành cũng không ít doanh nghiệp
đang lúng túng về chiến lược và nguồn lực để tiếp tục phát triển trong thời gian tới.
DNTN cũng chưa thiết lập được sự liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế với nhau trong từng ngành, giữa các ngành liên quan, hoặc trong từng vùng
để tạo thế mạnh của tính hệ thống và hiệu quả của sự phối hợp. Từng DNTN mới chỉ
dựa vào sức mình là chính, chưa khai thác, sử dụng được sức mạnh của sự liên kết vốn
rất cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa. Thực tế đây cũng là vấn
đề chung của các doanh nghiệp Việt Nam, với những mạng lưới kinh doanh chưa được
hình thành đầy đủ, thiếu những doanh nghiệp thật mạnh có khả năng làm trụ cột, đầu
đàn tạo sự liên kết, hợp tác vững chắc để nhân thêm sức mạnh trong cạnh tranh quốc tế.
Hai là, môi trường kinh doanh trong nước còn nhiều khó khăn và thiếu bình đẳng.
Tình trạng này kéo dài đã lâu nhưng chậm được khắc phục, khiến cho môi trường kinh
phí cao cũng hạn chế khả năng sinh lời, làm giảm động lực và nguồn lực trong kinh
doanh, cản trở nhiều người đi vào hoạt động thương trường hoặc tích lũy thêm vốn cho
đầu tư mới.
So với các nước trong khu vực, chi phí kinh doanh ở nước ta cao về nhiều mặt. Các
dịch vụ hạ tầng như đất đai, nhà xưởng, điện, thông tin liên lạc, giao thông vận tải đều
có mức giá cao, chất lượng dịch vụ lại thấp, khiến cho chi phí thực tế đối với DN càng
lớn. Chi phí vốn cao về lãi suất, phí tiếp cận, lại khó vay trung hạn, dài hạn nên thêm
đắt đỏ cho các DN cần vốn để đầu tư. Chi phí hành chính, chi cho các dịch vụ cần thiết,
nhiều khoản chi không được tính vào giá thành để trừ thuế càng làm tăng chi phí thực
tế của DN. Những nguyên nhân cơ bản của tình trạng chi phí kinh doanh cao ở nước ta
như quản lý yếu kém, độc quyền kinh doanh của một số DNNN trong một số lĩnh vực
chậm được khắc phục, nên tình trạng này kéo dài và trở thành gánh nặng lớn đối với
DNTN.
+ Thiếu hệ thống dịch vụ và tổ chức hỗ trợ DN. Hệ thống dịch vụ phát triển kinh
doanh, hệ thống tổ chức hỗ trợ DN rất cần thiết đối với KVKTTN, đặc biệt là các DN
nhỏ và vừa, các DN phi hình thức. ở nước ta, cả 2 hệ thống này đều chưa được phát
triển, vừa thiếu, vừa yếu, vừa kém về chất lượng.
Ba là, thách thức của môi trường kinh doanh quốc tế trong tiến trình hội nhập. Là
nước đi sau, doanh nghiệp tham gia sâu vào thị trường thế giới, nước ta và các doanh
nghiệp, đặc biệt là KVKTTN gặp không ít trở ngại trong quan hệ với cộng đồng kinh
doanh quốc tế trên thế giới.
Trước hết, môi trường kinh doanh quốc tế chứa đựng nhiều điều kiện không thuận
lợi cho các nước đang phát triển như nước ta. Sự bất công, bất bình đẳng không những
không giảm mà còn có chiều hướng tăng lên trên nhiều lĩnh vực. Các nước lớn, các
công ty đa quốc gia nắm quyền chi phối thị trường đã luôn tìm cách lái thị trường thế
giới theo hướng có lợi cho họ.
Trong khi các nước đang phát triển luôn luôn gặp sức ép đòi phải mở cửa thị trường,
thì trong thực tế các rào cản thuế và phi thuế, các hàng rào kỹ thuật lại ngày càng được
các nước phát triển dựng lên nhiều hơn, gây trở ngại cho xuất khẩu của các nước đang
phát triển. Nước ta và KVKTTN của nước ta thậm chí còn phải chịu sự phân biệt đối xử
Hội nghị khẳng định sự cần thiết kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị trường có
kế hoạch với thị trường không có kế hoạch, nhìn nhận tích cực hơn với kinh tế tư
nhân
Bước ngoặt cơ bản là từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986). Sau khi phê phán
"những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ
nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh", mắc bệnh "chủ
quan, duy ý chí, giản đơn hóa", "chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất
hàng hóa đang tồn tại khách quan", Đại hội khẳng định đường lối đổi mới, chỉ rõ "nền
kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ", chỉ rõ sáu
thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh; kinh tế tập thể; kinh tế gia đình; kinh tế tiểu sản
xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước. Xin lưu ý là Đại hội VI,
trong khi thừa nhận sự cần thiết của kinh tế tư bản tư nhân, cũng chỉ "cho phép những
nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất,
kinh doanh trong một số ngành, nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi
cần thiết Quy mô và phạm vi hoạt động của các cơ sở kinh tế tư bản tư nhân được
quy định tùy theo ngành, nghề và mặt hàng" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI). Theo nghị quyết Đại hội VI, "quá trình sử dụng kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa
và kinh tế tư bản tư nhân luôn luôn gắn liền với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối
với các thành phần đó bằng nhiều hình thức" . "Kinh tế xã hội chủ nghĩa với khu vực
quốc doanh làm nòng cốt phải giành được vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân,
cụ thể là chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông, thể hiện tính ưu việt và chi
phối được các thành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế và "trong lĩnh vực lưu
thông, phải xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân"
Khái niệm "kinh tế tư nhân" được chính thức sử dụng từ Hôi nghị lần thứ 6 của
Trung ương Khóa VI (tháng 3-1989). Nghị quyết chỉ rõ: "trong điều kiện của nước ta,
các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) vẫn cần thiết lâu dài cho
nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội".
Về mặt quy định pháp lý, việc ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân
(năm 1990) đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh
nghiệp tư nhân với các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh
Tạo môi trường thuận lợi về chính sách , pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh
nghiệp tư nhân phát triển rộng rãi trong các ngành các nghề sản xuất kinh doanh mà
Pháp luật không cấm , không hạn chế về quy mô , nhất là trên những định hướng ưu tiên
của Nhà nước . Khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần , bán cổ phần , liên
doanh liên kết với nhau , với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước
- Bảo vệ lợi ích hợp pháp , chính đáng của cả người lao động và người sử
dụng lao động trên cơ sở pháp luật và tinh thần đoàn kết , tương thân tương ái ,
chăm lo , bồi dưỡng , giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước , tự
hào dân tộc , gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng CNXH
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng , phát huy vai trò của các tổ chức
chính trị- xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với kinh tế tư nhân nói chung
cũng như trong từng doanh nghiêp
Vấn đề giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế tư nhân được Bộ
chính trị nêu rõ : Việc phát triển kinh tế tư nhân phải nắm vững và thực hiện tốt các
yêu cầu :
+ Phát triển rộng rãi kinh tế tư nhân theo đúng quy định của Pháp luật , đồng thời
chăm lo phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể , đảm bảo vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước , làm cho kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc của nền kinh tế
+ Nhà nước hoạch định , hỗ trợ , dẫn dắt , bảo hộ sự phát triển của kinh tế tư nhân
trong mối quan hệ bình đẳng giữa các TPKT và quản lý điều tiết sự phát triển đó bằng
pháp luật, chính sách
+ Bảo vệ hợp lý , chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động ,
xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ
sở pháp luật và tinh thần đoàn kết tương thân tương ái
+ Khuyến khích kinh tế tư nhân liên kết , liên doanh với kinh tế nhà nước , kinh tế
tập thể, phát triển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần có cổ phần bán cho người
lao động , tham gia mua cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước thuộc diện thuộc diện cổ
phần hoá và hợp tác xã
+ Chăm lo bồi dưỡng giáo dục các chủ doanh nghiêp , nâng cao lòng yêu nước , tự
hóa", bị xét hỏi về lập trường, quan điểm
Về mặt bằng, doanh nghiệp tư nhân đi tìm đất cũng rất khó khăn. Ngay tại Hà Nội,
nơi hiện có khoảng 40.000 doanh nghiệp tư nhân, nhưng có đến 8.000 doanh nghiệp
thiếu mặt bằng sản xuất nghiêm trọng; thành phố có 20 cụm công nghiệp nhỏ và vừa
nhưng cũng chỉ thu hút có 143 doanh nghiệp tư nhân, giải quyết được hơn 10% nhu cầu.
Nếu tìm đất ngoài khu công nghiệp, thì quy trình cũng rất phức tạp: từ việc doanh
nghiệp tự đi tìm đất, tự thỏa thuận đền bù với dân, xin địa phương phê duyệt dự án đầu
tư, v.v đến khi có đất, tất cả tới 8 bước, vài chục con dấu, chữ ký và nhanh nhất cũng
mất gần một năm. Trong khi đó, có nhiều doanh nghiệp nhà nước lại đang thừa đất,
doanh nghiệp tư nhân buộc phải thuê lại, nhưng với giá cả khá cao và thời gian không
hạn định chắc chắn.
Chính vì vậy, việc rà soát lại và sửa đổi, bổ sung toàn bộ hệ thống thể chế, chính
sách cho phù hợp với tư duy mới, loại bỏ những thể chế, chính sách còn phân biệt đối
xử giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân là hết sức cấp bách. Đương
nhiên, đi đôi với việc hình thành hệ thống thể chế, chính sách, phải đẩy mạnh cải cách
hành chính, khắc phục những hành vi tiêu cực, sách nhiễu doanh nghiệp tư nhân của
những công chức trong bộ máy công quyền đang làm tăng chi phí, hạn chế khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Những nhiệm vụ này đã được nói đến nhiều lần, ở nhiều
diễn đàn, vấn đề hiện nay là sự chỉ đạo thực hiện với quyết tâm ở tất cả các ngành, các
cấp quản lý nhà nước.
Hai là, về phía doanh nghiệp tư nhân. Bản thân doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu vẫn
là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang còn nhiều yếu kém, nhất là về khả năng tìm hiểu thị
trường, trình độ lập dự án, xác định chiến lược kinh doanh; khả năng ứng dụng khoa
học, công nghệ mới; cũng như trình độ, kỹ năng quản lý doanh nghiệp, v.v Khó khăn
lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực: là trình độ hạn chế của đội ngũ doanh nhân cũng
như của người lao động trong doanh nghiệp khi phải đối mặt với yêu cầu nâng cao khả
năng cạnh tranh của từng sản phẩm, dịch vụ cũng như của cả doanh nghiệp.
Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp, mỗi doanh nhân phải xem lại mình, nhận rõ chỗ
mạnh, chỗ yếu, để đề ra cho được những giải pháp thiết thực, bảo đảm hiệu quả. Mỗi
doanh nghiệp đề ra cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình mới, khi
động được nhiều nguồn vốn đầu tư và sản xuất kinh doanh; trở thành một bộ phận cấu
thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước; làm cho sản xuất và lưu thông
hàng hóa thêm phong phú và đa dạng; hình thành và phát triển các loại thị trường; làm
tăng sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước; tạo sự bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế trong sản xuất, kinh doanh
Trong khi khẳng định những mặt tích cực của kinh tế tư nhân ở nước ta, cũng cần
thấy rõ những hạn chế, khuyết tật của nó trong quá trình phát triển như tính chất tự phát,
vô chính phủ trong sản xuất, kinh doanh; tình trạng chấp hành không nghiêm luật pháp,
kỷ cương Đặc biệt, không ít các doanh ngniệp tư bản tư nhân trốn, lậu thuế, kinh
doanh bất hợp pháp, bóc lột công nhân như thời tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư
bản; móc ngoặc, làm tha hóa một số cán bộ có chức, có quyền trong bộ máy nhà nước,
các tổ chức và cơ quan kinh tế nhà nước; chiếm dụng, rút ruột hàng trăm tỷ đồng của
Nhà nước Vì vậy, cần đánh giá một cách khách quan, công bằng sự phát triển của
kinh tế tư nhân, chống khuynh hướng đề cao quá mức dẫn đến tuyệt đối hóa vai trò của
kinh tế tư nhân
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là một nội dung của dấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một biểu hiện rõ rệt nhất vấn đề “ai thắng ai”
giữa con đường xã hội chủ nghĩa là con đường tư bản chủ nghĩa. Đương nhiên, đây là
một cuộc đấu tranh rất phức tạp và khó khăn. Kinh tế tư nhân chỉ có thể đi lên chủ nghĩa
xã lội khi Đảng và Nhà nước ta không chỉ có đường lối, chính sách đúng mà còn phải
giỏi trong quản lý, điều hành để có thể đảm bảo sự phát triển theo mục tiêu và quỹ đạo
đã xác định, không bị chệch hướng. Chúng ta chủ trương khuyến khích phát triển kinh
tế tư nhân đồng thời cũng chủ trương đảm bảo thực hiện sự định hướng xã hội chủ
nghĩa của kinh tế tư nhân, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước
Nếu không làm được như vậy thì kinh tế tư nhân sẽ phát triển thành kinh tế tư bản tư
nhân, kéo theo những hệ lụy về chính trị, xã hội khó lường. Trong cuộc đấu tranh hiện
nay, chủ nghĩa tư bản quốc tế và các thế lực thù địch rất mong điều này sẽ xảy ra.
Nếu thực hiện được những vấn đề trên đây thì kinh tế tư nhân ở nước ta sẽ phát triển
C/ Quan điểm, chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển
của khu vực kinh tế tư nhân trong TK hiện nay 18
I/ Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân 18
II/ Quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân 19
III/ Các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân 20
Kết luận 23
Tài liệu tham khảo 24