Phần I: Giới thiệu đề tài
Đặc điểm nổi bật trong thời đại hiện nay là cách mạng khoa học kĩ thuật
gắn với cách mạng khoa học,tao thành cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát
triển hết sức mạnh mẽ, ảnh hởng sâu sắc đến tốc độ phát triển kinh tế của các
nớc. Đối với Việt Nam là nớc trải qua thời kì chiến tranh dài và chịu hậu quả
nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế còn lạc hậu so với các nớc trên thế giới.
Trớc xu thế hiện đại cùng với sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác của các nớc, các tổ
chức phi chính phủ về vốn,công nghệ, quản lý tạo điều kiện sớm đổi mới cơ
sở kĩ thuật, cơ cấu kinh tế, phân công lao động sản xuất. Cùng nguồn lao động
dồi dào, truyền thống lao động cần cù, thông minh của dân tộc ta, tài nguyên
thiên nhiên phong phú, địa vị thuận lợi là những yếu tố quan trọng để mở
rộng sự hợp tác, tạo điều kiện cho nớc ngoài đầu t và là thế mạnh cho tăng tr-
ởng kinh tế nhanh. Trớc xu thế phát triển của xã hội, công cuộc đổi mới của
đất nớc có sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam(bao gồm chiến lợc, sách
lợc, tổ chức thực tiễn, chính sách ) định hớng đúng, giữ vững ổn định chính
trị, tạo môi trờng và điều kiện hợp tác đầu t và phát triển kinh tế giữ vị trí
quyết định. Kết quả bớc đầu của sự nghiệp đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI
đến nay đã củng cố và khẳng định con đờng lựa chọn lên chủ nghĩa xã hội là
đúng đắn. Trong thời kì đổi mới chúng ta thực hiện cơ chế quản lí kinh tế theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Nhng cơ chế này bộc lộ rõ những khuyết điểm
của mình,bộ máy quả lí rất cồng kềnh,có nhiều cấp trung gian và kém năng
động, từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản lí, không thạo
nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì quan liêu cửa quyền. Nhận thức
vấn đề đó, phơng hớng cơ bản của sự đổi mới cơ chế quản lí kinh tế ở nớc ta
đã đợc Đại hội của Đảng xác định và tiếp tục đợc Đại hội VII của Đảng khẳng
định Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ
và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lí cuả Nhà nớc. Với chủ
trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì kinh tế thị trờng là
yếu tố khách qua không thể thiếu đợc. Cơ chế thị trờng tự động kích thích sự
phát triển sản xuất,tăng trởng kinh tế cả theo chiều rộng lẫn chiều sâu, tăng c-
ờng chuyên môn hoá sản xuất. Trong đó sản xuất và trao đổi là hai đặc tính cơ
sản xuất ra chúng bằng nhau thì có giá trị bằng nhau. Thời gian lao động xã
hội cần thiết thay đổi theo sự thay đổi của năng suất lao động xã hội. Giá trị là
lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá nên lợng
giá trị hàng hoá do thời gian lao động quyết định. Năng suất lao động xã hội
càng cao, thời gian cần thiết để sản xuất hàng hoá càng ít, khối lợng lao động
kết tinh trong một đơn vị sản phẩm càng nhỏ, thì giá trị của sản phẩm càng bé.
Và ngợc lại, năng suất lao động càng thấp, thời gian cần thiết để sản xuất hàng
hoá càng lớn thì lao động hao phí càng nhiều và giá trị hàng hoá càng lớn. Nh
vậy, lợng giá trị tỉ lệ thuận với số lợng lao động và tỉ lệ nghịch với năng suất
lao động.
Trong kinh tế hàng hoá, vấn đề quan trọng là hàng hoá sản xuất ra có bán
đợc hay không. Để hàng hoá có thể bán đợc thì hao phí lao động cá biệt để sản
xuất ra hàng hoá phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, tức
là phải phù hợp với mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận đợc. Trong trao
đổi hàng hoá cũng dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết. Hai hàng hoá có
giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi với nhau đợc khi lợng giá trị của
chúng bằng nhau. Theo nghĩa đó thì phải trao đổi theo nguyên tắc ngang giá.
Quy luật giá trị là trừu tợng. Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến
động của giá cả hàng hoá. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá cả
3
phụ thuộc vào giá trị, vì giá trị là cơ sở của giá cả. Hàng hoá nào mà hao phí
lao động để sản xuất ra nó nhiều thì giá trị của nó lớn, và do vậy giá cả thị tr-
ờng sẽ cao, và ngợc lại. Ngoài ra, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác
nh quan hệ cung - cầu, tình trạng độc quyền trên thị trờng. Tác động của các
nhân tố trên làm cho giá cả hàng hoá trên thị trờng lên xuống xoay quanh giá
trị của nó. C.Mác gọi đó là vẻ đẹp của quy luật giá trị. Trong vẻ đẹp này,giá trị
hàng hoá là trục, giá cả hàng hoá trên thị trờng lên xuống xoay quanh trục đó.
Đối với mỗi đơn vị hàng hoá riêng biệt, giá cả của nó có thể cao hơn, thấp hơn
hoặc phù hợp với giá trị của nó. Nhng cuối cùng,tổng giá cả phù hợp với tổng
giá trị của chúng. Bản thân quy luật gía trị biểu hiện sự ngang bằng giữa các
cạnh tranh có sức phá hoại lớn, do đó đẻ ra phơng hớng thoả thuận với nhau để
hình thành các tổ chức độc quyền.
Trong giai đoạn thấp của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, cơ chế
kinh tế của giai đoạn này là tự do cạnh tranh. Trên thị trờng, cung cầu và giá
cả hàng hoá vận động theo cơ chế tự điều tiết thông qua sự hình thành lợi
nhuận bình quân và giá trị chuyển hoá thành giá cả sản xuất. Đến giai đoạn
cao của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, sự ra đời của các tổ chức độc
quyền gắn liền với các yếu tố mới, làm xuất hiện cơ chế kinh tế của giai đoạn
mới đó là cơ chế độc quyền và cạnh tranh. Nếu ở giai đoạn thấp của chủ nghĩa
t bản, nguyên tắc phân phối lợi nhuận dựa trên sở hữu t bản, thì đến giai đoạn
của chủ nghĩa t bản độc quyền, việc phân phối lợi nhuận không chỉ dựa trên sở
hữu t bản nói chung, mà trớc hết là dựa trên cơ sở quyền lực chi phối t bản của
ngời khác, dựa trên sở hữu t bản tài chính. Do t bản độc quyền, nhất là t bản tài
chính, giữ vị trí thống trị trong sản xuất và lu thông, nên nó có thể không chỉ
sử dụng các phơng pháp sản xuất giá trị thặng d, cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận
bình quân, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất vốn là những phạm trù kinh
tế quen thuộc trong giai đoạn chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh, mà nó sử dụng
phơng pháp cỡng bức siêu kinh tế để thu lợi nhuận cao - lợi nhuận độc quyền.
Lợi nhuận độc quyền là một hình thức biểu hiện của giá trị thặng d, hình thành
trong giai đoạn chủ nghĩa t bản độc quyền. Song song với việc hình thành lợi
nhuận độc quyền, các tổ chức độc quyền không bán hàng theo giá cả sản xuất,
mà bán theo giá cả độc quyền( mặc dù lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
không mất đi vì cạnh tranh tự do vẫn tồn tại). Giá cả độc quyền là hình thức
biểu hiện của giá trị hàng hoá trong giai đoạn độc quyền. Nó bao gồm chi phí
sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Thông thờng các tổ chức độc quyền
bán hàng hoá với giá cao hơn giá trị hàng hóa, còn khi mua hàng hoá của các
xí nghiệp không độc quyền, của ngời sản xuất nhỏ trong nớc và nớc ngoài, thì
giá cả thờng thấp hơn giá trị. Việc các tổ chức độc quyền mua bán theo giá cả
độc quyền để thu lợi nhuận độc quyền xét về thực chất chỉ là sự biểu hiện mới,
cao hơn,nó không làm giảm hiệu lực của lý luận giá trị và lý luận giá trị thặng
dùng sẽ tìm mua những hàng hóa có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
Đây chính là điều mà các doanh nghiệp cần nắm bắt rõ về khách hàng thị tr-
ờng mình định đầu t.
Thứ ba, áp dụng khoa học - kỹ thuật và quả lý hiện đại. Sức cạnh tranh
của doanh nghiệp sẽ tăng lên đáng kể khi giá cả hàng hoá cá biệt của doanh
nghiệp thấp hơn giá cả trung bình trên thị trờng. Để có lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động, giảm
chi phí đầu vào, nâng cao chất lợng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá
cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội. Muốn vậy các doanh nghiệp phải th-
ờng xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng
dụng những thành tựu khoa học - kĩ thuật và quản lý hiện đại vào trong sản
xuất.
Thứ t, là thông tin, một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp.
Thông tin đầy đủ về thị trờng, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giá
cả, đối thủ canh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Đủ và xử lý đúng thông tin có ý nghĩa giúp các doanh nghiệp han chế rủi ro
trong kinh doanh và có thể tìm ra, tao ra " lợi thế so sánh " của doanh nghiệp
trên thơng trờng. Thông tin đầy đủ, đúng hoặc bng bít có thể thúc đẩy thị trờng
6
một cách tích cực hoặc tạo ra những nhu cầu giả tạo, hành vi cạnh tranh sai
trái làm biến dạng thị trờng. Vì thế, không ngạc nhiên khi tình trạng quảng cáo
hiện nay của các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều trên các phơng tiện
thông tin đại chúng, chi phí cho hoạt động quảng cáo, giới thiệu,trng bày sản
phẩm chiếm tỷ trọng nhất định trong chi phí chung của các doanh nghiệp.
Thứ năm, phơng thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đây là công cụ cạnh tranh khá quan trọng. Ai nắm đợc
công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh. Bởi vì, công cụ này tạo sự thuận tiện
cho khách hàng. Phơng thức phục vụ và thanh toán đợc thể hiện ở ba giai
đoạn: trớc khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng. Trớc
khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện các động tác nh : quảng cáo, giới
tiện lợi. Mặt khác, công cụ này còn tạo cơ hội cho nhiều ngời ít vốn có điều
kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng thị phần hàng hoá tạo sức mạnh
cho doanh nghiệp. Những u điểm đó giải thích vì sao trong cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp nhà nớc với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì doanh
nghiệp ngoài quốc doanh thờng linh hoạt hơn, có nhiều bạn hàng hơn so với
doanh nghiệp nhà nớc. Tuy nhiên, sử dụng công cụ này đòi hỏi các chủ thể
cạnh tranh phải có bản lĩnh. Bởi vì, có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh nh tình
trạng " chụp giật ", " bể hụi ", đối tác làm ăn có ý đồ đen tối.
Thứ tám, sự mạo hiểm, rủi ro. Trong kinh doanh, lợi nhuận doanh nghiệp
thờng tỷ lệ thuận với sự mạo hiểm, rủi ro trong kinh doanh. Các chủ thể kinh
doanh có khuynh hớng đầu t kinh doanh( kể cả đầu t nghiên cứu khoa học) vào
những mặt hàng mới, những lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thờng cao. Đây cũng
là khuynh hớng khách quan vì nó hy vọng thu đợc lợi nhuận cao trong tơng
lai. Mặt khác, nó giảm đợc áp lực cạnh tranh từ các đối thủ khácSự mạo hiểm
chấp nhận rủi ro nhằm thu lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là
công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, nhng cũng cực kỳ nguy hiểm trong quá
trình cạnh tranh. Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi các doanh nghiệp
phải có tài năng và bản lĩnh.
Nh vậy, cạnh tranh là một quy luật trong nền kinh tế thị trờng mà ở đó
các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp - cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục
tiêu kinh tế của mình.
1.3. Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá:
1.3.1. Quy luật giá trị điều tiết nền sản xuất hàng hoá và lu thông hàng
hoá:
Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối t liệu sản xuất và
sức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hàng
hoá. Nh ta đã biết, do ảnh hởng của quan hệ cung cầu, giá cả hàng hoá trên thị
trờng lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Trong sản xuất hàng hoá, quy luật
cạnh tranh thể hiện ở chỗ: cung và cầu thờng xuyên muốn ăn khớp với nhau
nhng chính vì thế mà từ trớc tới nay cha hề ăn khớp với nhau. Cả hai cứ tách
muốn thủ tiêu những sự chênh lệch giữa cung và cầu. Trái lại, chính giá thị tr-
ờng điều tiết quan hệ cung - cầu, hay cấu thành cái trung tâm, chung quanh
trung tâm đó những sự thay đổi trong cung và cầu làm cho những giá cả thịt tr-
ờng phải lên xuống.
Trong lĩnh vực lu thông quy luật giá trị có tác dụng điều tiết nguồn hàng
từ nơi giá thấp đến nơi giá cao.
1.3.2. Quy luật giá trị kích thích sự phát triển sức sản xuất:
Trong nền kinh tế hàng hoá ngời nào có hao phí lao động cá biệt ít hơn
hoặc nằng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá thì ngời đó
có lợi, còn ngời nào có hao phí lao động lớn hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết thì sẽ bị thiệt, vì không thu về đợc toàn bộ lao động đã hao phí. Giá trị
của hàng hoá là theo tỷ lệ nghịch với năng suất của lao động sản xuất ra hàng
hoá đó. Sức lao động cũng vậy, vì giá trị sức lao động là do giá trị hàng hoá
quyết định. Ngợc lại, giá trị thặng s tơng đối lại tỷ lệ thuận với năng suất lao
động. Giá trị thặng d tơng đối tăng lên và hạ xuống cùng với năng suất lao
9
động. Một ngày lao động xã hội trung bình có giới hạn nhất định, thì bao giờ
cũng sản xuất ra một giá trị nh nhau, và giá trị này; nếu giá trị của tiền tệ
không thay đổi, thì vẫn đợc biểu hiện thành cùng một giá cả nh nhau, chẳng
hạn thành 6 si - linh dù tỷ lệ phần chia thành tiền công và giá trị thặng d của
số tiền đó là nh thế nào đi nữa. Nhng nếu giá cả những t liệu sinh hoạt tất yếu
rẻ đi do năng suất lao động tăng lên thì lúc đó thì giá ttrị hằng ngày của sức
lao động giảm xuống, ví dụ từ 5 si - linh hạ xuống 3 si - linh và giá trị thặng d
tăng lên 2 si - linh. Muốn tái sản xuất ra sức lao động, trớc đây cần 10 giờ một
ngày, nay chỉ cần có 6 giờ là đủ. Ngay trong hiện tợng giá trị là biểu hiện của
lao động xã hội nằm trong bản thân các sản phẩm t nhân, cũng đã chứa đựng
sẵn cái khả năng có sự chênh lệch giữa lao động ấy với lao động cá nhân nằm
trong bản thân sản phẩm. Cho nên, nếu một ngời sản xuất t nhân tiếp tục sản
xuất theo phơng pháp cũ, trong khi đó phơng thức sản xuất xã hội ngày càng
tiến bộ, thì ngời ấy càng nhận thấy sự chênh lệch đó là qúa rõ rệt. Hiện tợng
Tuy nhiên, không một tấm huân chơng nào lại không có mặt trái của nó.
Ngay trong qua trình thực hiện sự bình tuyển tự nhiên đối với ngời sản xuất,
quy luật giá trị đã phân hoá ngời sản xuất thành kẻ giàu, ngời nghèo. Mỗi một
ngời đều sản xuất riêng biệt, cho lợi ích riêng của mình, không phụ thuộc vào
các nhà sản xuất khác; họ sản xuất cho thị trờng, nhng dĩ nhiên không một ng-
ời nào trong bọn họ lại biết đợc dung lợng của thị trờng. Mối quan hệ nh vậy
giữa những ngời sản xuất riêng rẽ, sản xuất cho thị trờng chung thì gọi là cạnh
tranh. Dĩ nhiên, trong những điều kiện ấy sự thăng bằng giữa sản xuất và tiêu
dùng( giữa số cung và số cầu) chỉ có đợc sau nhiều lần biến động. Ngời sản
xuất khéo léo hơn, tháo vát hơn, và có sức lục hơn, sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ
những sự biến động đó; còn ngời yếu ớt và vụng về thì bị sự biến động đó đè
bẹp. Một vài ngời trở nên giàu có, còn quần chúng thì trở nên nghèo đói, đó là
kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh. Kết cục là những ngời sản
xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họ đi và trở thành công
nhân làm thuê trong công xởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ. Lịch sử
phát triển của sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần
sinh ra quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa. Quan hệ giữa kẻ giàu - ngời nghèo,
quan hệ giữa chủ - thợ, quan hệ giữa t sản vô sản là quan hệ đối kháng về
lợi ích kinh tế. Sự đối kháng đó tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giữa những ng-
ời nghèo chống lại kẻ giàu, ngời thợ chống lại chủ, vô sản chống lại t sản. Đó
là một trong những khuyết tật của nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trờng.
11
Chơng 2
Thực trạng về sự vận dụng quy luật giá trị
và vai trò của nó trong nền kinh tế ở nớc
ta thời gian qua.
2.1. Tác dụng của quy luật giá trị dới CNXH:
Một số quy luật kinh tế, kể cả quy luật giá trị đang phát huy tác dụng ở
nớc ta, ở đâu có hàng hoá và sản xuất hàng hoá thì quy luật giá trị nhất định
tồn tại. Trong nớc ta quy luật giá trị trớc hết phát huy tác dụng đối với lu thông
Các xí nghiệp công nghiệp nặng nớc ta lại không đóng cửa khi hiện tại không
có lãi, công nhân của các ngành này không đạt hiệu quả nh mong muốn và
thay vào đó là mở các xí nghiệp công nghiệp nhẹ làm ăn có lãi hơn nhiều,
công nhân làm việc với hiệu quả đạt yêu cầu. Nếu chúng ta làm theo phơng
pháp chuyển sang hoạt động công nghiệp nhẹ để đạt đợc lợi nhuận thì chúng
ta không phải u tiên chế tạo t liệu sản xuất mà u tiên chế tạo vật phẩm tiêu
dùng. Nghĩa là cản bớc tiến không ngừng của nền kinh tế quốc dân vì nếu
không đồng thời bảo đảm việc u tiên chế tạo t liệu sản xuất thì không thể nào
thực hiện đợc bớc tiến không ngừng đợc của nền kinh tế quốc dân.
Quy luật giá trị có một tác dụng điều tiết đối với giá cả những t liệu sản
xuất do ngành nông nghiệp làm ra và bán cho nhà nớc theo giá mua. Trong
trờng hợp này các t liệu sản xuất là nguyên liệu. Nông nghiệp không sản
xuất ra những t liệu sản xuất mà sản xuất ra một trong những t liệu sản
xuất: nguyên liệu. Chúng ta không thể coi một bộ phận của t liệu sản xuất và
toàn bộ t liệu sản xuất( gồm cả công cụ sản xuất) là nh nhau, bởi vì bản thân
nguyên liệu thì không thể tạo ra công cụ sản xuất, mặc dù có một vài nguyên
liệu cần cho việc chế tạo ra công cụ sản xuất. Nhng nếu không có công cụ sản
xuất thì không thể chế tạo ra bất cứ nguyên liệu nào cả. Trong nền kinh tế
quốc dân nớc ta, giá cả của nguyên liệu nông nghiệp không thể lên xuống tự
do đợc bởi vì ở nớc ta nguyên liệu nông nghiệp có một giá cả ổn định, do một
kế hoạch ấn định chứ không phải do giá cả tự do . Khối lợng sản xuất
nguyên liệu nông nghiệp không phải đợc quy định một cách tự phát, cũng
không phải do những yếu tố ngẫu nhiên quy định mà do kế hoạch quy định.
Ngoài ra, công cụ cần thiết để chế tạo nguyên liệu nông nghiệp không tập
trung trong tay các cá nhân, hay tập đoàn mà trong tay Nhà nớc.
Do đó không thể phủ nhận rằng quy luật giá trị có tác động đến sự hình
thành của giá cả các nguyên liệu nông nghiệp, rằng nó là một trong những
nhân tố quyết định giá cả của nó. Ngoài ra, về chức năng của quy luật giá trị
dới chủ nghĩa xã hội trớc hết cần nêu rõ vai trò của nó trong việc thực hiện các
chức năng cơ bản của toàn bộ hệ thống các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã
thực hiện sự nguyên tắc công bằng xã hội, kích thích những sự nỗ lực nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lợng công tác. Nói cách khác, nếu tuân theo
quy luật giá trị, vận dụng các phơng pháp và tiêu chuẩn dựa trên cơ sở quy luật
đó trong việc tính toán hao phí lao động xã hội cần thiết, chúng ta có thể định
hớng các kế hoạch kinh tế quốc dân,nhằm giải quyết nhiệm vụ nâng cao hiệu
quả kinh tế của nền sản xuất đó, làm cho tính kế hoạch toàn dân có một ý
nghĩa kinh tế. Tuy nhiên,không nên giải thích điều đó tách rời các mục tiêu xã
hội. Mặc dù, hiện tại vẫn tồn tại những mâu thuẫn giữa tính hiệu quả kinh tế
và tính hiệu quả xã hội, nhng điều quan trọng cần thấy dới chủ nghĩa xã hội
những tính hiệu quả đó có sự thống nhất về nguyên tắc. Sự thống nhất ấy xuất
phát từ thực tế là trong điều kiện chế độ công hữu, hiệu quả kinh tế tăng lên sẽ
làm tăng hiệu quả xã hội của sản xuất, mà hiệu quả này phụ thuộc vào các tiêu
chuẩn xã hội, và thực hiện các mục tiêu xã hội u tiên.
Chức năng bảo đảm xã hội. Quy luật giá trị thực hiện chức năng này
không đợc rõ ràng nhng dù sao nó cũng quan trọng. Việc tuân thủ các yêu cầu
của quy luật này( trong sự tác động qua lại chặt chẽ với quy luật phát triển có
kế hoạch, cân đối) sẽ định hớng nền sản xuất xã hội chủ nghĩa vào tiêu chuẩn
14
hiệu quả kinh tế. Vì vậy việc đó chính là một điều kiện quan trọng để phát
triển lực lợng sản xuất, củng cố các cơ sở của các nguồn nhằm mở rộng sự
hoạt động của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Đây chính là sự
đóng góp chủ yếu của quy luật giá trị trong việc thực hiện chức năng bản
đảm xã hội của các quan hệ xã hội chủ nghĩa. Do đòi hỏi của quy luật giá trị
nên sự ngang giá trong trao đổi các hoạt động phù hợp với hao phí lao động xã
hội cần thiết là cái bảo đảm xã hội cho những xí nghiệp làm ăn tốt, chống lại
việc phân phối lại một cách không căn cứ nguồn vốn do họ làm ra. Sự cắt
xén hoạt động của quy luật giá trị có một ý nghĩa quan trọng trong điều kiện
hình thành một cơ chế kinh tế mới và phục vụ việc tuân thủ sự công bằng
xã hội chủ nghĩa. Quy luật giá trị tạo cho xã hội những đòn bẩy kinh tế mạnh
mẽ để đạt tới những mục tiêu kế hoạch. Mặt khác, quy luật giá trị không phải
nghiệp đóng góp quan trọng chiếm 3.7%, khu vực dịch vụ đống góp 0.6%. Sự
đóng góp nổi bật của ngành công nghiệp vào tốc độ tăng trởng và cơ cấu GDP
của nền kinh tế nớc ta, đánh dấu bớc tiến mới về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong năm 2001.
Đối chiếu với các chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm
vụ năm 2001, thì còn 4 nhiệm vụ cha đạt kế hoạch, trong đó có 2 chỉ tiêu quan
trọng về kinh tế là mức tăng trởng GDP đạt 6.8%, tuy có cao hơn năm 2000,
song thấp hơn kế hoạch đề ra là 7.5%, kim ngạch xuất khẩu tuy có tăng về l-
ợng, song do bị thua thiệt về giá khoảng 1.5 tỷ USD nên chỉ tăng 4.5%( chỉ
thiêu đề ra là 16%). Mặc dù cha thực hiện đợc các chỉ tiêu đề ra, song trong
bối cảnh kinh tế khu vực và thế giới đang có chiều hớng xấu đi, suy giảm
mạnh, có nớc tăng trởng âm, thì đạt đợc kết quả nh trên là điều đáng khích lệ.
Giá trị sản xuất của công nghiệp cả năm tăng 14.5% so với năm 2000, khu vực
kinh tế nhà nớc đạt tốc độ tăng trởng 125 là một cố gắng lớn, khu vực ngoài
quốc doanh tăng 19.5% so với 18.3% của năm 2000. Sau năm thực hiện Luật
Doanh nghiệp, kinh tế ngoài quốc doanh đã có bớc phát triển khá sâu sắc, các
sản phẩm công nghiệp, tiểu thiểu công nghiệp của khu vực này tăng nhanh chủ
yếu là thuỷ sản chế biến, chè, rau quả xuất khẩu, đồ gỗ thủ công mỹ nghệ, dệt
may, cơ khí Công nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tiếp tục phát triển và tăng
trởng ổn định với tốc độ tăng 13.8%. Năm 2001, tình hình kinh tế xã hội tiếp
tục ổn định, nớc ta đợc công nhận là nớc có môi trờng đầu t ổn định nhất khu
vực sau sự kiện 11/9, đó là những thuận lợi cơ bản mà ta phải tận dụng, phát
huy. Những thành tựu của năm 2001 đã tạo ra thế và lực mới để nớc ta bớc vào
năm 2002 và thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.
Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật của nền kinh tế nớc ta nói chung là chất l-
ợng tăng trởng, hiệu quả, sức mạnh cạnh tranh của các sản phẩm, doanh
nghiệp và của nền kinh tế còn thấp. Tình trạng phổ biến là sản xuất còn mang
tính tự phát, cha bám sát nhu cầu thị trờng, nhiều sản phẩm làm ra có chất l-
ợng thấp, giá thành cao nên giá trị gia tăng thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm
khó khăn, thậm chí nhiều sản phẩm cung vợt quá cầu, hàng tồn kho lớn. Năng
Về kinh tế: từ một nền kinh tế tăng trởng thấp trớc năm 1986, nền kinh tế
nớc ta đã từng bớc khôi phục và phát triển ổn định với tốc độ tăng trởng cao.
Tốc độ tăng trởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 1986 - 1990 là 3.9% thời;
năm 1996: 9.34%, 1997:8.8%, 1998:5.8%. Nh vậy bớc vào thập kỷ 90 tốc độ
tăng trởng của nền kinh tế nớc ta vào loại cao nhất trong khu vực.
Về cơ cấu kinh tế bớc chuyển đổi theo hớng tiến bộ. Tỷ trọng ngành
công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22.7% năm 1990 đã tăng lên 30.3%
năm 1995; tỷ trọng ngành du lịch, dịch vụ từ 38.6% năm 1990 tăng lên 42.5%
năm 1995; ngành nông nghiệp từ 38.7% năm 1990 đã giảm xuống còn 27.2%
năm 1995.
Sản xuất nông nghiệp phát triển tơng đối toàn diện. Theo số liệu của
Tổng cục thống kê, tính đến cuối năm 1994 cơ cấu giá trị tổng sản lợng nông
nghiệp là: lơng thực chiếm tỷ trọng 49.4%; trồng trọt là 24.8% và chăn nuôi
là 25.8%. Vấn đề lơng thực về cơ bản đợc giải quyết tốt. Sản lợng lơng thực
17
qua các năm đều tăng: năm 1990 là 21488 ngàn tấn, năm 1991 là 21898 ngàn
tấn, năm 1994 là 26200 ngàn tấn, và năm 1995 là 27500 ngàn tấn. Thắng lợi
trên mặt trận nông nghiệp, nhất là lơng thực có ý nghĩa rất quan trọng. Sau
nhiều năm nớc ta thiếu và đói đến nay đã giải quyết một cách cơ bản về lơng
thực, một cửa ải mà thời kỳ bao cấp không thể vợt qua đợc( kể cả không ít nớc
trên thế giới). Nớc ta đến nay lơng thực không những đủ ăn, dự trữ mà còn
xuất khẩu sang nhiều nớc khác trên thế giới và trở thành một trong ba nớc xuất
khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Trong sản xuất công nghiệp nhịp độ tăng trởng bình quân trong 5
năm( 1991 1995) là 13.3%, cao hơn chỉ tiêu kế hoạch đề ra( 8 - 10%).
Trong đó năm 1991 là 10.4%, năm 1992 là 15.1%, năm 1993 là 12.7%, năm
1994 là 13.5% và năm 1995 là 14.0%. Năng lực sản xuất trong một số ngành
và một số sản phẩm quan trọng, mà sau thời kỳ đình đốn và suy thoái đã đợc
phục hồi và gia tăng qua các năm nhờ đầu t xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật
về chiều rộng và chiều sâu.
Về cơ cấu thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá: qua 10 năm đổi
mới quan hệ sản xuất đợc điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển của lực l-
ợng sản xuất và nền kinh tế hàng hoá. Khu vực kinh tế nhà nớc( hiểu theo
nghĩa rộng). Từng bớc đang đợc củng cố và phát huy vai trò chủ đạo đối với
các thành phần kinh tế khác. Các hình thức hợp tác, liên doanh với nớc ngoài
hình thành trong tính đa dạng của chính sách nền kinh tế nhiều thành phần.
Về mặt xã hội: qua 10 năm đổi mới, lần đầu tiên nớc ta hoàn thành
vợt mức nhiều mục tiêu kinh tế chủ yếu của kế hoạch 5 năm( 1991 1995).
Từ những thành tựu kinh tế đã tạo ra một số chuyển biến tốt về xã hội, tạo nên
sự gắn bó giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội. Chính nó đã góp phần đa
nớc ta ra khỏi khủng hoảng. Dới đây là những thành tựu về mặt xã hội:
Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân đã đợc cải thiện, cụ thể là:
Số hộ giàu và trung bình tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm. Mức sống của đa số
nhân dân đợc nâng lên một bớc, thu nhập bình quân đầu ngời tăng.
Sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tạo thêm nhiều việc làm mới
giảm tỷ lệ thất nghiệp, mỗi năm nớc ta có thêm hơn 1 triệu lao động có việc
làm.
Khối lợng hàng hoá bán lẻ trên thị trờng tăng gấp đôi so với trớc.
Công tác phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, ngăn chặn bệnh dịch
có tiến bộ.
Thêm nhiều nhà ở và đờng giao thông đợc nâng cấp ở cả thành thị và
nông thôn.
Thể dục thể thao có bớc phát triển hơn so với trớc.
Trình độ dân trí và mức hởng thụ văn hoá của nhân dân đợc nâng
lên.nghiệp giáo dục, đào tạo, các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thông tin đại
chúng và theo đó mạng lới điện về tới phần lớn nông thôn. Công tác kế hoạch
hoá gia đình đạt nhiều tiến bộ, đã có những cố gắng bớc đầu trong việc thực
hiện phòng chống tệ nạn xã hội theo nghị định 87/CP của Chính phủ.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nảy sinh những khái niệm
mới về việc làm và tự tìm kiếm việc làm, nhờ đó tính sáng tạo trong nhân dân
và vi mô, v.v Mặt khác, cuộc khủng hoảng tài chính và khu vực cũng đã tác
động tiêu cực đến nền kinh tế nớc ta. Đầu t nớc ngoài giảm sút, xuất khẩu có
xu hớng giảm, áp lực về sự thay đổi tỷ giá ngày càng tăng.
Cơ sở hạ tầng yếu kém, không đồng bộ. Hệ thống đờng giao thông, thông
tin liên lạc còn rất lạc hậu không theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội. Hệ thống bu điện, viễn thông tuy có tăng nhanh trong những năm gần
đây, nhng vẫn còn kém so với trình độ các nớc trong khu vực và thế giới. Công
nghệ lạc hậu, thiếu vốn và sử dụng vốn kém hiệu quả. Tình trạng này xảy ra
khá phổ biến trong các doanh nghiệp Nhà nớc. Hầu hết các doanh nghiệp ở n-
ớc ta thuộc loại vừa và nhỏ,thiếu vốn nghiêm trọng. Đầu t nớc ngoài bắt đầu có
xu hớng chậm lại do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực.
Vấn đề thừa lao động, thiếu việc làm đang diễn ra khá phổ biến. Theo số
liệu của Tổng cục Thống kê cả nớc hiện có khoảng 6 - 7 triệu lao động d thừa,
20
không có khả năng tìm đợc việc làm. Tình trạng không đủ việc làm là phổ biến
ở nhiều vùng nông thôn. Mặt khác, nền kinh tế nớc ta lâm vào tình trạng thiếu
nghiêm trọng đội ngũ lao động lành nghề. Khoảng 805 lao động ở nớc ta cha
qua đào tạo nghề, cả nớc chỉ có khoảng 4.000 công nhân có tay nghề cao. Đội
ngũ cán bộ quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô trong tình trạng vừa thừa và vừa
thiếu. Một bộ phận khá lớn cán bộ quản lý kinh tế cha qua đào tạo một cách
có hệ thống về kinh tế thị trờng, cha thực sự đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá.
Cơ chế thị trờng tuy đã hình thành nhng đang ở giai đoạn sơ khai, mang
nhiều yếu tố tự phát. Hiệu lực quản lý Nhà nớc còn thấp, vừa cha đủ sức phát
huy sức mạnh của cơ chế thị trờng, vừa cha hạn chế đợc các mặt tiêu cực của
nó. Trong đó đáng lo ngại là nhiều cán bộ đảng viên đang giảm sút lý tởng
cách mạng, tha hoá về phẩm chất, đạo đức Hệ thống pháp luật mặc dù có
tiến bộ song cha đồng bộ, cha hoàn chỉnh và cha thật sự nghiêm minh. Công
tác kế hoạch hoá, hoạt động tài chính, ngân hàng đổi mới còn chậm. Quản lý
xuất nhập khẩu, nhận chuyển giao công nghệ còn nhiều thiếu sót, tiêu cực.Th-
ơng nghiệp nhà nớc bỏ trống một số trận địa quan trọng.
quy định, căn cứ vào mức đọ hiệu quả của việc sử dụng các nguồn, nhằm bảo
đảm công tác của xí nghiệp đáp ứng lợi ích xã hội. Theo ý nghĩa đó thì không
còn ai đối lập giữa việc kế hoạch hoá sử dụng các phạm trù giá trị với việc sử
dụng các đòn bẩy. Việc sử dụng đó trở thành một yếu tố cần thiết để quản lý
tập trung nền kinh tế, đồng thời bảo đảm một cách linh hoạt việc kích thích vật
chất đối với xí nghiệp và từng ngời lao động. Đồng thời, còn phải giải quyết
hàng loạt vấn đề gay gắt, trong đó vấn đề quan trọng là xây dựng một cơ chế
thích hợp với chủ nghĩa xã hội, nhằm vạch rõ những chi phí sản xuất xã hội
cần thiết và buộc ngời sản xuất phải hớng vào các chi phí đó. Việc thừa nhận
sự cần thiết phải tính toán trong kế hoạch các nhu cầu việc phát triển tất cả các
ngành cần thiết cho xã hội( và tạo ra các điều kiện kinh tế tơng ứng), và việc
thừa nhận tầm quan trọng của việc kích thích sự phát triển hiệu quả của nền
kinh tế ( hớng vào các hao phí lao động xã hội cần thiết) hiện nay có ý nghĩa
là phải nhận thức rõ ràng hơn vai trò to lớn của các yếu tố và tiêu chuẩn giá trị
trong quá trình kế hoạch hoá và quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; mặt
khác không nên quên rằng khác với con đờng hình thành một cách tự phát các
tỷ lệ, phơng pháp kế hoạch có khả năng bảo đảm tính chất ổn định của các tỷ
lệ đó, đồng thời đòi hỏi chi phí ít hơn, cho phép kết hợp tiêu chuẩn cân đối
kinh tế với tiêu chuẩn cân đối xã hội, kết hợp các nhiệm vụ trớc mắt và lâu dài.
3.2. Xây dựng cơ chế giá:
Những nguyên tắc cơ bản của việc hình thành giá cả có thể là những luận
điểm chung và xuất phát của lý luận hình thành giá cả trong nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa, trực tiếp rút ra từ những tính quy luật khách quan của việc hình
thành hao phí lao động xã hội cần thiết và giá trị. Đặc trng của quá trình hình
thành các hao phí và giá trị ấy đợc xác định trớc bởi sự tác động tổng thể của
các quy luật kinh tế, mà trớc hết là quy luật kinh tế cơ bản, quy luật phát triển
có kế hoạch, cân đối và quy luật giá trị. Do đó, bản thân các nguyên tắc cơ bản
của chế độ hình thành giá cả phải có tính chất khách quan nh những quy luật
23
xác định chúng. Vì vậy, trong những nguyên tắc ấy không thể bao gồm những
3.3. Tăng cờng khả năng hội nhập kinh tế:
Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Việt Nam đã tiến những bớc dà trên
con đờng mở cửa và hội nhập quốc tế. Dù hội nhập quốc tế ở cấp đọ nào cũng
mang lại lợi ích cho Việt Nam và lợi ích đó ngày càng lớn khi mức độ hội
nhập càng cao. Vấn đề là nớc ta phải chủ động và tích cực chuẩn bị các điều
kiện hội nhập, đồng thời lựa chọn đúng giải pháp và bớc đi trong quá trình
này. Vấn đề hội nhập vào khu vực AFTA có tác dụng nhỏ bé đối với nớc ta kể
24
cả trong vấn đề giảm nghèo đói và bất bình đẳng. Vì vậy, để đẩy nhanh và bền
vững tốc độ giảm nghèo, và bất bình đẳng thì nớc ta phải kết hợp giữa hội
nhập AFTA với hội nhập vào APEC và WTO. Hội nhập kinh tế phải gắn với
nghèo đói và bất bình đẳng. Dới tác động của cải cách và hội nhập quốc tế đã
có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân hoá trong xã hội. Để đảm bảo mục
tiêu giảm nghèo và công bằng xã hội, Nhà nớc phải có chính sách khuyến
khích, u tiên một số ngành dịch vụ, ngành phi nông nghiệp , đồng thời nâng
cao trình độ chuyên môn để họ có thể làm việc ở các khu vực này. Mặt khác,
phải đầu t kỹ thuật, các dịch vụ nông nghiệp, chuyên môn cho khu vực nông
nghiệp, nông thôn để nâng cao năng suất lao động của khu vực có ngời nghèo
đông đúc này. Nhà nớc phải có hình thức bảo trợ xã hội, điều chỉnh phù hợp
với thị trờng lao động trong điều kiện nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế. Hội
nhập quốc tế sẽ tạo ra kẻ thắng, ngời thua và ngời nghèo sẽ chịu nhiều thua
thiệt nhất. Để giúp đỡ ngời bị rủi ro khi mới tham gia hội nhập, đồng thời xây
dựng một nền tảng vững chắc cho các hộ gia đình - đặc biệt là ngời nghèo,
cảm thấy thoải mái chấp nhận các rủi ro trớc mắt có thể xảy ra do hội nhập.
Nhà nớc phải thực hiện tốt việc phân phối lại,thông qua chính sách thuế, trợ
cấp làm giảm sự bất bình đẳng trong xã hội.
3.4. Xây dựng nền kinh tế tri thức:
Nền kinh tế tri thức là mô hình kinh tế mà sự vận hành của nó sẽ đợc
quyết định chủ yếu bởi nguồn năng lợng đặc biệt, đó là tri thức, trớc hết là tri
thức khoa học, công nghệ và quản lý. Điều đó có nghĩa là trong sản phẩm -