Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bàn về nhu cầu vốn trong nền kinh tế nớc ta, từ Đại hội Đại biểu toàn
quốc khoá VII của Đảng đã khẳng định: Để công nghiệp hóa - hiện đại hoá
đất nớc cần huy động đợc nguồn vốn sẵn có và sử dụng có hiệu quả, trong đó
nguồn vốn trong nớc là quyết định, nguồn vốn bên ngoài là quan trọng.
Rõ ràng cung ứng vốn cho nền kinh tế đang là đòi hỏi rất lớn trong sự
nghiệp phát triển đất nớc, bởi vì vốn là nguồn đầu vào quyết định sự tăng tr-
ởng và phát triển, là yếu tố tiên quyết nhằm đa nớc ta thoát khỏi tình trạng tụt
hậu về kinh tế, tiến nhanh tiến kịp các nớc trong khu vực và thế giới.
Trong những năm qua dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, hệ thống
ngân hàng thơng mại nớc ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, trở thành
kênh dẫn vốn quan trọng đóng vai trò chủ chốt trong nhu cầu giao lu vốn của
nền kinh tế.
Chính vì vậy, việc đẩy mạnh huy động vốn qua hệ thống ngân hàng thơng
mại là một vấn đề tất yếu, đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng, phục
vụ mục tiêu tăng trởng kinh tế. Làm thế nào để huy động, khai thác hết nguồn
vốn tiềm tàng trong dân, trong các tổ chức kinh tế để đáp ứng nhu cầu vốn của
toàn xã hội, đồng thời mở rộng hoạt động kinh doanh luôn là vấn đề đặt ra với
các ngân hàng thơng mại nói chung và ngân hàng thơng mại cổ phần
Techcombank nói riêng.
Chính vì những lý do trên tôi đã chọn đề tài: Đánh giá năng lực nguồn
vốn và khả năng mở rộng nguồn vốn của ngân hàng thơng mại cổ phần kỹ
thơng Việt Nam làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
Khoá luận đã hệ thống lại phần lý luận chung về công tác huy động vốn,
các nhân tố ảnh hởng đến nguồn vốn huy động và vai trò của vốn với ngân
hàng thơng mại. Trên cơ sở đó, khoá luận đi sâu vào phân tích thực trạng huy
động vốn tại ngân hàng cả về quy mô và kết cấu trong mối quan hệ với nền
6. Kết cấu của khoá luận.
Khoá luận gồm 3 phần:
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
2
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Phần mở đầu.
Phần nội dung: Chia làm 3 chơng:
Ch ơng 1 : Một số vấn đề chung về hoạt động huy động vốn của ngân
hàng thơng mại.
Ch ơng 2 : Thực trạng công tác huy động vốn tại Techcombank.
Ch ơng 3 : Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cờng huy động vốn tại
Techcombank.
Phần kết luận.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thị
Thái Hng, cán bộ nhân viên phòng Quản lý nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ
ngoại hối - Techcombank đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
3
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Chơng 1: Một số vấn đề chung về hoạt động
huy động vốn của ngân hàng thơng mại
1.1. Khái quát về ngân hàng thơng mại
1.1.1. Ngân hàng thơng mại
Ngân hàng thơng mại (NHTM) là một trong những tổ chức tài chính quan
trọng nhất của nền kinh tế, nó có số lợng lớn nhất trong hệ thống các tổ chức
trung gian tài chính và thực hiện phần lớn các hoạt động của tổ chức trung
gian tài chính nói chung. Từ hình thức ngân hàng sơ khai đầu tiên là những th-
ơng gia nhận nhiệm vụ trông coi cất giữ hộ tiền để thu phí đến nay ngân hàng
nhận tiền gửi không kỳ hạn hay loại tiền gửi phát hành séc mà NHTM còn
làm dịch vụ thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế.
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thơng mại
Ngân hàng thơng mại ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế,
nền kinh tế càng phát triển càng cần đến hoạt động của các NHTM. Thông
qua việc thực hiện các chức năng vai trò của mình, NHTM trở thành một bộ
phận thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vai trò của NHTM thể hiện:
- Vai trò làm thủ quỹ cho xã hội
Thực hiện vai trò này NHTM nhận tiền gửi của các tầng lớp dân c, các tổ
chức kinh tế, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền và
chi tiền của họ.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập ngày càng cao, tích luỹ
của doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn cộng thêm nhu cầu bảo vệ tài sản
và mong muốn sinh lời từ khoản tiền có đợc của các chủ thể kinh tế làm cho
vai trò này của NHTM càng thể hiện rõ. Nó đem lại lợi ích cho cả khách hàng
và ngân hàng. Đối với khách hàng, gửi tiền vào ngân hàng họ không những
đảm bảo đợc an toàn về tài sản mà còn thu đợc một khoản lợi tức từ ngân hàng
hoặc đợc hởng các tiện ích thanh toán. Đối với ngân hàng, chức năng này là
cơ sở để ngân hàng thực hiện vai trò thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn
chủ yếu cho NHTM.
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
5
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
- Vai trò làm trung gian tín dụng
Ngân hàng thơng mại làm trung gian tín dụng khi nó là cầu nối giữa
ngời có vốn d thừa và ngời có nhu cầu về vốn. NHTM đứng ra huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi cá nhân tổ chức trong nền kinh tế để hình
thành nên quỹ cho vay của mình rồi đem cho vay đối với nền kinh tế. Thông
qua việc thu hút tiền gửi với một khối lợng lớn, ngân hàng góp phần giải
quả. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, tốc độ luân
chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Khi cung cấp các
dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng càng có điều kiện để thu
hút vốn tiền gửi để bổ sung cho nguồn vốn hoạt động của ngân hàng mình.
- Vai trò thực hiện chính sách
Thông qua hoạt động của NHTM, Nhà nớc có thể điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. NHTM thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ, góp phần điều
tiết sự tăng trởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội. NHTM làm đợc vai
trò trên bởi vì hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM đã góp phần
mở rộng khối lợng tiền cung ứng trong lu thông. Thông qua việc cung ứng tín
dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các
luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trờng, điều khỉên chúng một cách
có hiệu quả.
- Ngân hàng thơng mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài
chính quốc tế
Xu thế chung hiện nay là toàn cầu hoá, khu vực hoá, sự phát triển của các
quốc gia không thể tách rời, độc lập riêng biệt mà luôn cần phải có sự giao lu
hợp tác tơng trợ lẫn nhau. Trong nền kinh tế thị trờng khi mà các mối quan hệ
hàng hoá tiền tệ ngày càng đợc mở rộng thì nhu cầu giao lu kinh tế- xã hội
giữa các nớc trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết. Việc phát triển kinh tế
của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một
bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Với các nghiệp vụ kinh doanh nh nhận
tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ
khác, NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thơng không ngừng mở rộng.
Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng
với các NHTM nớc ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền
tài chính trong nớc phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
7
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
8
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
yếu của NHTM. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên
thị trờng tiền tệ(thị trờng vốn ngắn hạn) và thị trờng chứng khoán(thị trờng
vốn dài hạn). Những ngân hàng trờng vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh
trong kinh doanh. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ
theo luật định, thì ngân hàng phải thờng xuyên chăm lo đến việc tăng trởng
vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
- Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác
của ngân hàng
Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lợng
tín dụng. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay đợc tại thị trờng trong vùng
thậm chí trong nớc và cả quốc tế thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong
phạm vi hẹp, mà chủ yếu trong từng khu vực nhỏ. Hơn nữa, vốn hạn hẹp nên
các ngân hàng nhỏ thờng không phản ứng nhanh nhạy trớc các biến động về
lãi suất, gây ảnh hởng trực tiếp đến khả năng thu hút vốn đầu t từ tầng lớp dân
c và các thành phần kinh tế. Chúng ta có thể lấy ví dụ, trên địa bàn ngân hàng
hoạt động, nhu cầu vốn rất lớn, nếu ngân hàng không huy động vốn đợc thì
không thể tiến hành cho vay. Đến đây xảy ra hai trờng hợp: Nếu khả năng vốn
của ngân hàng dồi dào, thì sẽ đáp ứng đợc nhu cầu vốn cho vay, có thể mở
rộng thị trờng tín dụng và các dịch vụ ngân hàng; ngợc lại, ngân hàng không
huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay thì sẽ đánh mất thị phần của mình
ngay trên địa bàn mình hoạt động. Điều này càng khẳng định rõ tầm quan
trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
- Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân
hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt
động đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín lớn trên thị trờng là điều trọng yếu.
nghiệp biết tận dụng mọi khả năng của mình, nắm bắt thông tin chớp mọi thời
cơ. Với ngân hàng, khả năng hàm chứa những nhân tố bản thân ngân hàng sẵn
có và đi khai thác, vốn chính là yếu tố phản ánh khả năng của ngân hàng.
Trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, mỗi loại có tính chất và vai
trò riêng, do vậy nhiệm vụ của ngân hàng là phải phân loại vốn đầu vào
trên cơ sở đó phân bổ đầu ra hợp lý.
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
10
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Vốn kinh doanh của NHTM bao gồm: Vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay
và vốn khác.
a. Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập đợc
thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn của ngân hàng, song là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân
hàng.Vốn tự có của NHTM có các thành phần sau:
- Vốn tự có cơ bản: Là vốn pháp định - vốn điều lệ: Vốn pháp định là
mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định. Vốn
điều lệ là vốn do các cổ đông đóng góp và đợc ghi vào điều lệ hoạt động của
ngân hàng và theo quy định tối thiểu phải bằng vốn pháp định. Tuỳ theo hình
thức sở hữu mà nguồn vốn này đợc hình thành từ những nguồn khác nhau: Đối
với ngân hàng t nhân, vốn điều lệ là vốn sở hữu riêng của doanh nghiệp và đợc
hình thành sau một quá trình tập trung, tích tụ vốn; Các ngân hàng quốc doanh
đợc phép hoạt động trên cơ sở vốn ban đầu do Ngân sách Nhà nớc cấp; Vốn
điều lệ của ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp dới hình thức mua cổ
phiếu; Đối với ngân hàng liên doanh là sự góp vốn từ các ngân hàng trong và
ngoài nớc.
- Vốn tự có bổ sung: Vốn này có thể là đợc cấp thêm(bổ sung không mang
tính chất thờng xuyên vì nó chỉ có đợc khi cấp thêm, bán thêm cổ phần, cổ
trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy động, đợc sử dụng chủ yếu để cho
vay với thời hạn dới một năm, lãi suất huy động thờng thấp.
- Vốn huy động trung hạn: Loại vốn này có thời hạn từ 1 năm đến 5
năm(ở Việt Nam chỉ từ 1 đến 3 năm trở lên). Ngân hàng sử dụng nguồn vốn
này chủ yếu cho các doanh nghiệp vay khoản tín dụng trung hạn nhằm đầu t
cải tiến công nghệ, sản phẩm.
- Vốn huy động dài hạn: Đây là khoản vay mà ngân hàng huy động từ 5
năm trở lên. Chi phí cho việc huy động thờng này cao, do lãi suất thờng cao.
Là nguồn vốn để ngân hàng cho vay dài hạn nh: đầu t xây dựng cơ bản, mở
rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn ổn định của
ngân hàng.
Nếu căn cứ vào đối tợng huy động
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
12
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
- Vốn huy động từ dân c.
Vốn này có nguồn gốc là những khoản dự phòng cho tiêu dùng và rủi ro
trong tơng lai. Khi xã hội ngày càng phát triển thì những khoản dự phòng này
cũng tăng lên. Nắm bắt đợc quy luật này, NHTM đã sử dụng nghiệp vụ huy
động để tăng thêm nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và tăng thêm
lợi nhuận.
- Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên các
đơn vị này thờng gửi một khối lợng lớn tiền vào ngân hàng để hởng tiện ích
thanh toán. NHTM là một trung gian tài chính, nó quan hệ với các đối tợng
này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và đáp
ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu và
các khoản phải thanh toán nên luôn tồn một số d tiền gửi nhất định tại ngân
hàng. Nguồn huy động này có chi phí thấp, đợc ngân hàng sử dụng cho vay
đích thanh toán và chỉ đợc rút tiền khi đến hạn nh đã thoả thuận. Mức lãi suất
cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thoả thuận giữa ngân hàng và
khách hàng trên cơ sở xem xét đến mức độ an toàn của ngân hàng cũng nh
quan hệ cung - cầu về vốn tại thời điểm đó. Thông thờng, tiền gửi có kỳ hạn
là những khoản tiền gửi có thời hạn dài và lãi suất cao.
Đặc điểm của nguồn huy động vốn này là tơng đối ổn định, ngân hàng
có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM
luôn tìm cách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn
với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng
- Tiền gửi tiết kiệm: Đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế là sự gia
tăng mức thu nhập của ngời dân. Khi mức thu nhập vợt quá chi tiêu lúc đó sẽ
có tích trữ tiền. Thông qua tiền gửi tiết kiệm ngời ta không những đảm bảo an
toàn cho số tiền của mình mà còn đợc hởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền
gửi loại này có rất nhiều hình thức: cổ điển và phổ biến nhất hiện nay là loại
tiền gửi tiết kiệm(passbook saving account), ngoài ra còn có chứng chỉ tiết
kiệm( savings certificates).
- Huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá: Trong hình
thức này ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn thờng
nhằm mục đích đã định, ví dụ nh phát hành kỳ phiếu để có tiền cho vay thu
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
14
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
mua nông sản, để đầu t cho một dự án Hình thức tạo vốn này giúp cho các
NHTM chủ động trong việc huy động vốn để thực hiện các dự án đầu t dài hạn
và vốn này có tính ổn định cao về thời hạn sử dụng và lãi suất.
c. Vốn vay
Vốn đi vay là quan hệ vay vốn giữa NHTM và NHTW hoặc giữa các
NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác. Các NHTM sẽ đi vay vốn
để bổ sung vào vốn khả dụng của mình khi ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả
- Vay các tổ chức tín dụng khác: NHTM có thể vay vốn của tổ chức tín
dụng khác nhằm đảm bảo nhu cầu vốn khả dụng trong thời gian ngắn. Trong
quá trình hoạt động, một số NHTM có những ngày cho vay quá nhiều hoặc có
nhu cầu lớn về các nghĩa vụ tài chính dẫn đến thiếu hụt dự trữ tại NHTW.
Trong khi đó lại có một vài ngân hàng khác trong tình trạng thừa dự trữ. Hành
vi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng là nhằm điều hoà nhu cầu vốn khả dụng và
đảm bảo nguồn vốn lu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng.
d. Vốn khác
Nguồn vốn này có đợc là nhờ vào lợi thế hoạt động của NHTM. Ví dụ,
trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM đã tạo đợc một khoản vốn
gọi là vốn trong thanh toán: Vốn trên tài khoản mở th tín dụng, tài khoản tiền
gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong toả do ngân hàng chấp
nhận các hối phiếu thơng mại. Các khoản tiền tạm thời đợc trích khỏi tài
khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên tạm đợc coi là tiền nhàn
rỗi. Hay thông qua nghiệp vụ làm đại lý, NHTM cũng thu đợc một lợng vốn
đáng kể trong qúa trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ
chức tín dụng khác, nhận và chuyên vốn cho khách hàng hay một dự án đầu t.
Do việc phát tiền đợc thực hiện theo tiến độ công việc, nên ngân hàng có thể
sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh.
1.2.4. Các hình thức huy động vốn chủ yếu của ngân hàng thơng mại
NHTM làm nhiệm vụ đi vay (tạo vốn) và cho vay hoặc đầu t với mục đích
hởng chênh lệch lãi suất. Quá trình tạo vốn của NHTM đợc thực hiện dới các
hình thức sau:
- Huy động tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân của nó có thể rút tiền hoặc trả cho bên
thứ ba bằng cách phát hành séc. ở các nớc phát triển loại tiền gửi này phần
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
16
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
17
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Tóm lại, loại tiền gửi này có đặc điểm là tính ổn định thấp (muốn sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn này phải mở rộng quy mô huy động vốn); chi phí huy
động rẻ (có những ngân hàng áp dụng mức lãi suất 0% hoặc có thì cũng rất
thấp); luôn là đối tợng phải chịu dự trữ bắt buộc, điều này tạo nên một chi phí
thực cao hơn chi phí danh nghĩa; loại tiền gửi này có tính thanh khoản cao.
- Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Nếu tiền gửi không kỳ hạn có số d tăng giảm phục thuộc vào tình hình
sản xuất kinh doanh của khách hàng gửi tiền, thì tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi
có kỳ hạn lại phụ thuộc vào lãi suất
+ Tiền gửi có kỳ hạn.
Là loại tiền mà ngời gửi tiền có thể có quyền rút ra theo nh thời hạn đã
thoả thuận với ngân hàng, mục đích của loại tiền gửi này là hởng lãi chứ
không phải là hởng các tiện ích trong thanh toán. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn
này đối vối ngân hàng là rất cao vì nó có thời hạn rõ ràng, chi phí để huy động
đối với ngân hàng là khá đắt vì lãi suất huy động thờng cao (thông thờng lãi
suất tỷ lệ thuận với thời gian: thời gian gửi càng dài thì lãi suất phải trả càng
cao). Mức lãi suất với các chứng chỉ tiền gửi có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ
theo sự lựa chọn của khách hàng.
ở Việt Nam hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (kỳ
phiếu) đã xuất hiện với thời hạn 3 tháng, 6 tháng. Tuy hình thức này mới xuất
hiện và đợc sử dụng vài năm gần đây nhng nó đã phát huy vai trò trong việc
tạo vốn cho các NHTM bằng chứng là tỷ trọng huy động vốn bằng cách phát
hành kỳ phiếu ngân hàng cao hơn các hình thức huy động khác.
+ Tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm đợc coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các
NHTM. Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thờng chiếm một tỷ trọng
nghiệp vụ huy động vốn trên thị trờng tài chính: phát hành các giấy tờ có giá
nh giấy tờ vay nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc chuyển nhợng các giấy
tờ trên từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác phụ thuộc vào thoả thuận giữa
ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu.
Trái phiếu ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trờng vốn dới
hình thức giấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn,
trong đó cam kết trả lãi và gốc cho ngời mua sau một thời gian nhất định. Đối
với ngời mua, trái phiếu ngân hàng là giấy chứng nhận việc đầu t vốn và
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
19
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
quyền đợc hởng thu nhập của ngời mua. Trái phiếu ngân hàng đợc phân ra
thành nhiều loại
+ Nếu theo thời hạn: Trái phiếu ngắn hạn và trái phiếu dài hạn.
+ Nếu theo tính chất chuyển đổi: Trái phiếu vô danh, trái phiếu đích
danh.
Việc phát hành trái phiếu của ngân hàng đợc tiến hành trong toàn hệ
thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho
những kế hoạch kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn. Do tính chất chủ động
trong việc huy động vốn nên lãi suất trái phiếu phải hấp dẫn, cao hơn lãi suất
của các công cụ khác và tỷ lệ thuận với kỳ hạn của khoản nợ.
Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng
phát hành nhằm huy động vốn trong dân c, chủ yếu là để phục vụ cho những
kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng nh một dự án, một chơng trình
kinh tế. Kỳ phiếu ngân hàng đợc phát hành theo từng đợt hay còn gọi là kỳ
phiếu có mục đích, phát hành dựa trên cơ sở tình hình nguồn vốn và nhu cầu
sử dụng vốn trong thời kỳ trớc mắt của ngân hàng. Loại này có u điểm vốn
huy động đợc khá linh hoạt, có tính lỏng cao, dễ dàng chuyển đổi sang tiền và
các hình thức khác; mệnh giá, loại tiền sử dụng, phơng thức trả lãi đa dạng
Chơng 2: Thực trạng công tác huy động vốn
tại techcombank
2.1. Ngân hàng thơng mại cổ phần kỹ thơng Việt Nam.
Ngân hàng thơng mại cổ phần kỹ thơng Việt Nam, gọi tắt là ngân hàng
kỹ thơng Việt Nam (tên tiếng Anh: Viet Nam Technological and Commercial
Joint Stock Bank, gọi tắt là Techcombank) đợc thành lập ngày 27 tháng 09
năm 1993 theo giấy phép thành lập số 1534/QĐ - UB do Uỷ ban Nhân dân
thành phố Hà Nội cấp ngày 04/09/1993; giấy phép hoạt động số 0040/NH -
GP do thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam cấp ngày 06/08/1993; giấy
phép kinh doanh số 055679 do trọng tài kinh tế Hà Nội (nay là Sở kế hoạch và
đầu t Hà Nội) cấp ngày 07/09/1993.
2.1.1. Sơ lợc lịch sử hình thành và phát triển của Techcombank
Ngày 27/09/1993, Techcombank đợc thành lập với số vốn điều lệ là 20 tỷ
đồng, với mục đích trở thành một ngân hàng hoạt động hiệu quả, nối liền
những nhà tiết kiệm với nhà đầu t đang cần vốn để kinh doanh, phát triển nền
kinh tế trong thời kỳ mở cửa. Trụ sở chính ban đầu đợc đặt tại số 24 Lý Thờng
Kiệt, Hà Nội.
Đến năm 1995, vốn điều lệ của Techcombank đợc tăng lên 51,495 tỷ
đồng. Trong năm này, chi nhánh Techcombank thành phố Hồ Chí Minh đợc
thành lập khởi đầu cho qúa trình phát trỉên nhanh chóng của Techcombank tại
các đô thị lớn với mục tiêu trở thành ngân hàng đô thị đa năng hàng đầu ở
Việt Nam.
Năm 1996, chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng phòng giao dịch
Nguyễn Chí Thanh đợc thành lập tại Hà Nội, đồng thời phòng giao dịch Thắng
Lợi trực thuộc Techcombank Hồ Chí Minh cũng đợc khai trơng. Vốn điều lệ
của Techcombank tăng lên 70 tỷ đồng.
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
22
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
23
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Techcombank đẩy mạnh
phát triển cấu trúc dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại các đô thị nhằm phục vụ đối
tợng ngời tiêu dùng là cá nhân và kinh doanh cá thể với quan điểm dịch vụ đa
dạng, thuận tiện, dựa trên nền tảng công nghệ cao. Techcombank nỗ lực thực
hiện vai trò là một trong các trung tâm cung ứng các dịch vụ thị trờng tiền tệ,
thị trờng vốn có uy tín nhằm phục vụ các định chế tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm thông qua hệ thống dịch vụ mang tính chuyên nghiệp và công nghệ
cao.
Techcombank - một trong 5 ngân hàng cổ phần tốt nhất: Với mục tiêu tài
chính xác định đến 2005 là kinh doanh hiệu quả cao, thể hiện qua: Vốn điều
lệ từ 320-350 tỷ đồng, tổng tài sản có 5400 tỷ đồng, d nợ tín dụng 3565 tỷ
đồng, tỷ lệ nợ quá hạn dới 5% tổng d nợ, tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có
là 15%, giá trị cổ phiếu bằng 150%-200% mệnh giá. Mục tiêu phi tài chính đ-
ợc xác định là đến 2005, Techcombank là 1 trong 5 ngân hàng đợc khách
hàng a chuộng nhất, hoạt động an toàn với quy mô đủ lớn.
2.1.3. Cơ cấu quản trị của Techcombank.
Cơ cấu quản trị của Techcombank đợc tóm tắt bằng sơ đồ sau, trong đó:
Cơ cấu cổ đông và Đại hội đồng cổ đông: Cổ đông là các doanh nghiệp
nhà nớc, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 14,26% vốn
điều lệ, cổ đông là thể nhân chiếm 85,74% vốn điều lệ. Đại hội đồng cổ đông
là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của ngân hàng có quyền quyết định về
chiến lợc phát triển của ngân hàng và bầu ra Hội đồng quản trị và Ban kiểm
soát.
Hội đồng quản trị có 7 thành viên, thờng trực hội đồng quản trị gồm chủ
tịch, 1 phó chủ tịch thứ nhất và 3 phó chủ tịch. Hội đồng quản trị là cơ quan
quản trị ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định những
vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của ngân hàng, trừ những vấn đề
2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Techcombank.
1. Kết quả kinh doanh của Techcombank.
Techcombank đang có một tốc độ phát triển nhanh và ổn định thể hiện
qua các chỉ tiêu sau:
Phạm Thị Thu Hiền Khoa Tiền tệ - Thị trờng vốn
25