TiÓu luËn triÕt häc
LỜI MỞ ĐẦU
Đạo Phật một trong những học thuyết triết học – tôn giáo lớn nhất, và lâu
đời nhất trên thế giới. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng Phật tử
khổng lồ và phân bố rộng khắp. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ thế kỷ
thứ hai sau công nguyên và nó đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh
hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần Việt Nam. Sau 20 thế kỷ gắn bó đạo Phật
và văn hóa của Việt Nam có sự gắn bó đặc biệt không thể tách rời.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay chúng ta đã xác định lấy chủ nghĩa Mác
– Lênin làm tư tưởng chủ đạo, là vũ khí chủ yếu, nhưng chúng ta cũng không thể
phủ nhận sự tồn tại của các triết lý khác ví dụ như đạo Phật. Sau một thời gian
dài gắn bó thì đạo Phật đã có một vị trí vững chắc, in sâu trong tư tưởng của một
bộ phận không nhỏ ngươi dân. Việc xóa bỏ nó là một điều hoàn toàn không
tưởng, không thể thực hiện được. Vì vậy chúng ta phải nghiên cứu nó thật kỹ để
có cách sử dụng nó sao cho đúng với định hướng của đảng và nhà nước đã đề ra.
Do yêu cầu đó hiện nay nên việc nghiên cứu, đánh giá các giá trị, hạn chế và các
ảnh hưởng của đạo Phật hiện nay là một yêu cầu cấp thiết. Do đó em chọn đề tài:
"Những giá trị và hạn chế của phật giáo ảnh hưởng của phật giáo ở nước ta
hiện nay"
Trong phạm vi bài tiểu luận này tôi đã cố gắng tìm kiếm và phân tích
những ưu, nhược điểm và những ảnh hưởng của đạo Phật đến Việt Nam. Bài viết
được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn nên không thể tránh khỏi những
khiếm khuyết rất mong được sự đóng góp ý kiến của thày và các ban.
Chân thành cảm ơn!
Vũ Thị Thúy Hằng
Vò ThÞ Thóy H»ng 1 Líp: Marketing 49A
TiÓu luËn triÕt häc
I.Giá trị của phật giáo
1. Phật giáo con đường trí tuệ
Giá trị của đạo Phật là con đường trí tuệ, là hiểu rõ nhân, quả, duyên. Do đó
cách khơi nguồn những giá trị luân lý đạo đức cao đẹp của loài người. Phật giáo
giúp chúng ta khám phá ra bản chất đặc trưng của thế giới là vô thường, vô ngã
và khổ đau. Một khi con người chưa nhận thức đúng đắn ba nguyên lý này của
thế giới thì họ vẫn còn khao khát về một đời sống vĩnh cửu ảo tưởng tách biệt bởi
bản chất của sự vật. Khát vọng mông muội đó không những tạo nên khổ đau cho
Vò ThÞ Thóy H»ng 2 Líp: Marketing 49A
TiÓu luËn triÕt häc
người ấy mà còn khiến người khác cũng bị đau khổ theo. Làm sao khổ đau của
nhân loại có thể tan biến? Làm sao có thể mang lại nền hòa bình và niềm hạnh
phúc trường cữu cho xã hội hôm nay? Những câu hỏi muôn thuở này chính là
những thao thức của Phật giáo. Phật giáo đã đưa ra lời giải đáp thỏa đáng cho
những vấn đề này qua tám vạn bốn ngàn pháp môn được giảng dạy trong các
kinh điển, các pháp thoại, các thi kệ. Chúng ta có thể biết rằng trong 84.000 pháp
môn đó thì phần lớn do Đức Phật giảng dạy và một phần nhỏ còn lại do các đệ tử
kiệt xuất của Ngài đưa ra.
3. Giá trị giáo dục của Phật Giáo – một giá trị nhân bản sâu sắc
Đạo Phật đã ra đời trong một thực tại đa diện, phồn tạp của nền văn minh
Ấn Độ, xuất hiện để dung hòa các trào lưu tư tưởng đối nghịch, để san bằng
những ngăn cách xã hội giữa các đẳng cấp. Rồi từ những căn bản đó, Phật giáo
đã duỗi dài nguyên lý vào cuộc sống con người khắp mọi nơi. Trong cội rễ sâu
xa, ngay từ khởi thủy tư tưởng giáo dục của triết lý Phật giáo đã mang trong
mình những giá trị nhân bản chung toàn nhân loại. Đặc trưng cơ bản nhất đó là
tính toàn vũ trụ, toàn diện, tổng hợp. Với triết lý cơ bản là việc hướng con người
đến những hành động đúng đắn, hướng con người ta đến cái chân, thiện, mỹ.
Phật giáo kêu gọi mọi người hãy chấm dứt các việc làm ác mà hãy hành thiện,
khuyên con người dang rộng vòng tay ôm vũ trụ vào lòng đừng bao giờ khép kín
tâm tư lại. Hãy phát triển nhân đạo và từ bi quên đi những cái ta ích kỷ, hẹp hòi
để được yêu vũ trụ rộng lớn. Vì thế tính giáo dục của Phật giáo đã đến với nhân
loại với tinh thần khoan dung kêu gọi mọi người nhường cơm xẻ áo góp phần
hình thành nên nền đạo đức xã hội. Đức Phật đã từng dạy: “Một hạnh phúc vĩnh
đúng như thật thì Niết Bàn chân thật được hiển lộ, Khổ, Tập tự tiêu tan, như khi
mắt đã được chữa lành lặn bình thường thì bệnh mắt hết, mắt hết bệnh thì không
còn thấy hoa đốm lăng xăng giữa hư không.”
5. Giá trị của Phật giáo trong thời đại ngày nay
Trong thời đại ngày nay, hình như chúng ta có thể thụ hưởng tất cả mọi
điều chúng ta muốn nếu chúng ta siêng năng làm việc và có tiền, tiền bạc chắc
chắn sẽ mang lại cho chúng ta nhiều tiện nghi văn minh, có thể giúp chúng ta thu
ngắn giờ làm việc và tìm thấy nhiều thú vui trong cuộc sống hàng ngày. Tuy
nhiên, chúng ta cũng thấy rằng những tiện nghi sang trọng đó không giải quyết
được những vấn đề thiết yếu cho đời sống chúng ta. Sự có một chiếc xe hơi hay
một gian nhà không bù đắp được niềm lo âu và sợ hãi ở nội tâm chúng ta, một số
đông người đang đau khổ vì những lo nghĩ vật chất cũng như tinh thần đã làm lay
chuyển căn bản cuộc sống của họ. Ðời sống chúng ta còn luôn bị đe dọa không
dứt bởi những làn sóng bất an và sợ hãi: người hôm qua chúng ta gặp có thể bị
tai nạn và chết hôm nay và ngày mai, một trận thế chiến khác biết đâu lại chẳng
xảy ra để tận diệt toàn thể chúng ta. Nhu cầu vật chất là thiết yếu, nhưng không
phải là phương tiện tuyệt hảo có thể làm cho cuộc sống chúng ta phong phú.
Chúng ta nên nhận thức rằng chúng ta phải làm chủ bản thân, chứ không là
những kẻ nô lệ cho mọi nếp sống thường tình trong bản thân chúng ta.
Ðức Phật đã giác ngộ sâu xa rằng tất cả chúng sinh hữu tình đều có chung
ý muốn ham sống và sự thể hiện nó trong những hoàn cảnh riêng của mỗi người.
Mọi người đều gắn liền với thực tại và họ chỉ có thể sống còn nhờ nương vào sự
sống của những kẻ khác. Đức Phật tin tưởng rằng con đường duy nhất chúng ta
có thể áp dụng mà không làm hại lẫn nhau là thực hiện sự đồng nhất căn bản của
mọi cuộc sống. Thế giới chúng ta không gì khác hơn ngoài sự thể hiện một cánh
đồng nhất của cuộc sống trong đó mọi chúng sinh, hữu tình cũng như vô tình đều
mật thiết tương quan sinh tồn.
Trên căn bản này sự cuộc sống, con người phải xóa bỏ mọi sự phân biệt và
chấm dứt cái ý tưởng gọi là “Của Ta” hoặc “Không Phải Của Ta”. Sự phân biệt
Vò ThÞ Thóy H»ng 4 Líp: Marketing 49A
cho mọi người tỉnh thức và chuyển hóa. Những lời kêu gọi đó hết sức có giá trị
và nhắc nhở cảnh tỉnh nhân loại hãy đoàn kết góp phần tích cực vào công cuộc
giữ gìn hòa bình.
Mặt khác trong điều kiện sản xuất chưa phát triển mạnh của xã hội, nhu
cầu vật chất ngày càng cao, nên cuộc sống con người gặp khó khăn, nên cái khổ
vẫn là điều tất yếu, đôi khi con người cảm thấy bi quan thất vọng. Do vậy, sự giải
thích cuộc đời con người chỉ quẩn quanh trong nổi khổ “nhân sinh là khổ” hết
sức có ý nghĩa. Việc đưa ra con đường diệt khổ, tự giải thoát mà không chờ bất
kỳ cứu nhân độ thế nào đã trở thành tư tưởng giáo dục đầy khích lệ hấp dẫn,
mang tính nhân văn sâu sắc.
Vò ThÞ Thóy H»ng 5 Líp: Marketing 49A
TiÓu luËn triÕt häc
II. Những hạn chế của Phật giáo
1. Hạn chế trong Tứ diệu đế
1.1. Hạn chế về cách tiếp cận
Bên cạnh mặt tích cực của đạo Phật là hỉ xả vô lượng vô biên thì cũng
không thể phủ nhận rằng cách tiếp cận của đạo Phật với thế giới và con người là
góc nhìn bi quan, thương cảm. Bản thân Tứ diệu đế là sự minh chứng rõ nhất cho
điều này khi tiền đề đầu tiên của Tứ diệu đế chính là Khổ đế. Chân lý này nói
rằng: “mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn”. Nói như
triết lý này thì chúng ta ngay từ khi sinh ra đời đến khi mất đi, phải tiếp xúc, chịu
đựng cái khổ.
1.2. Nguồn gốc của cái khổ
Đạo Phật đã có cái nhìn phiến diện về những nhu cầu của con người. Dưới
góc nhìn vô thường, vô ngã của Phật giáo thì tất cả mọi sự cố chấp, tham luyến
của con người đều là nguyên nhân hàng đầu của sự khổ cả. Song, với góc nhìn
của một con người, đang sống và đang tồn tại, đang ăn và hít thở không khí thì
không phải lúc nào cũng cần tới sự tư duy thấu triệt và cực đoan như thế. Không
thể chối cãi rằng chúng ta tồn tại và phấn đấu không đơn thuần vì bản năng sinh
tồn, mà còn vì để cho sự tồn tại của mình, trong dòng chảy vô thường của sự
trên mọi giới, đề tạo nên một tinh thần Phật Giáo dính liền với một tinh thần yêu
nước cao độ.
1. Ảnh hưởng Phật giáo về mặt tư tưởng triết học và đạo lý
1.1 Về mặt tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ
Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái
phật giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân
Việt.
Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới
hiện tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại.
Không những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà
tất cả những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng
theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại duyên cần
được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất,
như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là
những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng
thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những điều kiện làm
đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián
đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
Luật nhân quả cần được quán sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh
mới có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhân
đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng
vai trò quả, cho một nhân khác. Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo
của Đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất sớm. Giáo lý này đương nhiên đã
trở thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với người Việt Nam có hiểu
biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng
là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp với
giới bình dân mà còn ảnh huởng đến giới trí thức. Có thể nói mọi người dân Việt
điều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu
đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ nôm, chữ hán, từ xưa cho
Ngôn từ của người Việt vô cùng phong phú trong đó cũng có một số lượng
lớn là từ mượn của tiếng nước ngoài mà chúng ta chưa chắc đã biết đó là những
từ mượn. Không thể phủ nhận sự ảnh hưởng vầ ngôn ngữ đạo Phật trong cuộc
sống hàng ngày.
Trong đời sống thường nhật Việt Nam ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh
hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít
học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật
Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót,
người ta bảo "tội nghiệp quá". Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật
Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn
tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng
hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập
thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước. Những nguyên đó (theo đạo Phật
Vò ThÞ Thóy H»ng 8 Líp: Marketing 49A
TiÓu luËn triÕt häc
gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại kết quả. Mọi người điều nói tội
nghiệp nhưng không phải nhiều người biết được đó là một từ ngữ nói lên một
chủ thuyết rất căn bản của Phật :"thuyết nhân quả báo ứng" thuyết này cũng đi
sâu vào nhận thức dân gian với những cách như "ở hiền gặp lành, gieo gió gặp
bão" hay là câu thơ bình dân:
Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau
2.2. Ảnh hưởng trong văn học
2.2.1 Ảnh hưởng trong ca dao và dân ca
Ca dao dân ca là một thể loại văn vần truyền khẩu, dễ hiểu trong dân gian,
được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Không ai biết rõ xuất xứ cũa những lời
ca hát đó ở đâu, chỉ biết rằng nó thường được thể hiện dưới hình thức câu hát ru
em, những câu hò đối đáp giữa các chàng trai cô gái tuổi đôi mươi hay để kết
thúc mỗi câu chuyện cổ tích mà các cụ già kể cho con cháu nghe mang tính chất
khuyên răn dạy bảo. Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng thơ lục bát bao gồm
ca, mà chúng ta thấy tràn ngập khắp dân gian Việt Nam:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Hay:
Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm cho mẹ, mẹ già yếu răng.
Mến cảnh chùa chiền, phật tượng, nhưng hiếu hạnh của người con vẫn đặt
lên trên vì công ơn trời biển của cha mẹ trong suốt quá trình dưỡng dục sinh
thành, biết bao nhọ nhằn, gian khổ đối với con. Do đó:
Vô chùa thấy phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành.
Cũng vì thương kính cha mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện phật trời
gia hộ cho hai đấng từ thân:
Đêm đêm khấn nguyện phật trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
…v.v
2.2.2 Ảnh hưởng trong các tác phẩm văn học
Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà
văn chúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít
của Phật giáo. Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi Phật giáo du nhập vào nước Việt,
nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành. Có thể kể đến những tác giả tiêu biểu sau:
_ Nguyễn Trãi:
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý Từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của
Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Trãi (1380
- 1442), một nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng Việt Nam kiệt xuất, ông đã
khéo vận dụng đạo lý Từ bi và biến nó thành đường lối chính trị nhân bản đem
lại thành công và rất nổi tiếng trong lịch sử nước Việt. Ông nói điều đó trong
Bình Ngô Đại Cáo rằng:
và đạo lý của Phật giáo.
3. Ảnh hưởng đến các phong tục tập quán của người dân
Phong tục tập quán là những tập tục đẹp, đặc sắc mang những nét đặc thù
của văn hóa dân tộc. Hiểu được phong tục tập quán một dân tộc, người ta có thể
biết được một cách khái quát những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc đó.
Cũng giống như sự ‘xâm nhập' của ngôn ngữ nhà Phật vào ngôn ngữ đời
thường, phong tục tập quán Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng bởi đạo Phật khá
nhiều, cụ thể là các tập tục trong đời sống hàng ngày như: tập tục thờ Phật, ăn
chay, phóng sinh, bố thí, cúng rằm, mùng một âm lịch, đi lễ chùa, các nghi thức
ma chay, cưới hỏi v.v
3.1 Tập tục thờ Phật:
Tập tục thờ Phật rất phổ biến trong cộng đồng dân cư, cả với những người
không phải là Phật tử. Đi trên các chuyến xe tốc hành, xe bus, ta vẫn có thể thấy
những bức tượng Phật nho nhỏ được đặt trang trọng ở đầu xe, cạnh tài xế. Người
lái xe thờ tượng Phật để cầu sự bình an trên chặng đường dài. Lẽ dĩ nhiên không
phải ỷ vào thờ Phật mà không cẩn thận trên đường. Nhưng, người ta tin và đặt
một đức tin vào Phật, vào sự an bình và trang nghiêm ấy.
3.2 Tập tục ăn chay
Ăn chay gần như đã trở thành một nếp văn hóa của một bộ phận không
nhỏ người Việt. Có người ăn chay trường (quanh năm); có người ăn chay bốn
ngày mỗi tháng vào các ngày 01, 14, 15, 30 (hoặc 29) âm lịch; có người ăn chay
hai ngày mùng một và rằm; có người ăn chay cả tháng (thường là tháng bảy âm
Vò ThÞ Thóy H»ng 11 Líp: Marketing
49A
TiÓu luËn triÕt häc
lịch - tháng xá tội vong nhân); có người phát nguyện ăn chay ba tháng ròng vì lý
do đặc biệt nào đó.
Ăn chay, dù dưới hình thức nào, trong khoảng thời gian ra sao cũng được
ghi nhận là xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo. Giới thứ nhất - tôn trọng
sự sống: " nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc ".
Đi lễ chùa không còn thuần túy vì lý do tín ngưỡng nữa. Nó đã trở thành
một tục lệ đẹp đối với người dân Việt.
3.4 Ảnh hưởng đến tập tục ma chay, cưới hỏi
Đây cũng là sinh hoạt thường xảy ra trong đời sống người Việt. Về ma
chay, theo phong tục của người Việt Nam và Trung Hoa trước đây rất là phiền
Vò ThÞ Thóy H»ng 12 Líp: Marketing
49A
TiÓu luËn triÕt häc
phức và hao tốn. Tuy nhiên nhờ có sự dẫn dắt của chư Tăng thì tang lễ diễn ra
đơn giản và trang nghiêm hơn.
Việc cưới hỏi, tầm ảnh hưởng của Phật giáo tỏ ra ít phức tạp hơn so với
Thiên Chúa giáo, Khổng giáo hay Hồi giáo. Trước khi tiến tới hôn nhân, nhiều
đôi bạn trẻ theo tín ngưỡng Phật giáo, thường đến Chùa khấn nguyện với chư
Phật phù hộ cho mối lương duyên của họ được thuận buồm xuôi gió. Đến ngày
cưới hỏi, họ được hướng dẫn về Chùa để chư Tăng làm lễ "hằng thuận quy y"
trước khi rước dâu. Đó là một lễ chúc lành ngắn gọn và được chư Tăng khuyên
dạy một số nguyên tắc đạo đức Phật giáo, để làm kim chỉ nam cho cuộc sống
mới.
3.5 Ảnh hưởng đến những phong tục tập quán khác
Ngoài những phong tục của người Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo đã
được kể trên, chúng ta còn thấy một số tập tục khác cũng tương đối phổ biến và
có ít nhiều liên quan đến Phật giáo mà chúng ta phải ghi nhận:
- Tập tục đốt vàng mã .
- Tập tục coi ngày giờ .
- Tập tục cúng sao hạn .
- Tập tục xin xăm, bói quẻ.
4. Ảnh hửơng của Phật giáo đến những loại hình nghệ thuật
4.1 Phật giáo thể hiện qua nghệ thuật sân khấu (Hát bội, hát chèo, cải
lương và kịch nói).
Trước hết, loại hát chèo xuất hiện ban đầu chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng
Kịch nói chưa có đóng góp gì đáng kể cho Phật giáo như các loại hình nghệ thuật
khác. Tuy nhiên nội dung cũng hàm chứa nhiều căn ban đạo đức dân tộc trong đó
có ảnh hưởng Phật giáo.
Không chỉ trong nghệ thuật sân khấu, diễn xuất người ta mới thấy sự yêu
mến của đông đảo quần chúng đối với Đạo Phật mà chúng ta còn thấy được điều
này qua nghệ thuật tạo hình.
4.2 Ảnh hưởng Phật giáo qua nghệ thuật tạo hình :
- Về kiến trúc : Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, cố nhiên đã đem theo
các kiểu kiến trúc chùa tháp, lầu chuông gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn
Độ, Miến Điện và Trung Hoa. Tuy nhiên theo thời gian, tinh thần khai phóng của
Phật giáo phối hợp cung với lối tu duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một
mô hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam. Chùa tháp ở Việt nam
thường được xây dựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa bao giờ cũng ẩn dấu
sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc
thanh vắng. Theo Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thương thì kiến trúc Chùa Tháp ở
Việt Nam là "một quần thể kiến trúc có quy mô không lớn, tương xứng với tầm
vóc con người, phân bố lớp kiến trúc theo một trục dọc kéo dài gây cảm giác đi
sâu không cùng, đưa tự nhiên xen kẻ trong các thành phần, chú trọng cảnh quan
sông nước, vườn chùa, làm cho công trình có tính chất cởi mở luôn lớn hơn khối
thực thể của nó".
- Về điêu khắc : Ngày nay có dịp tham quan viện bảo tàng lớn ở Việt Nam,
chúng ta sẽ thấy nhiều cốt tượng, phù điêu của Phật giáo được trưng bày, đó
không những là một niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc Việt mà còn là dấu vết
chứng minh sự ảnh hưởng của Phật giáo có mặt trong lĩnh vực này. Tiêu biểu ta
thấy có các tác phẩm như tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (28). Chùa Hạ
(Vĩnh Phú, Bắc Việt, cao 3,2m), 16 pho tượng tổ gỗ của chùa Tây Phương (Hà
Tây, Bắc Việt), Bộ tượng Thập Bát La Hán chùa Phước Lâm (Hội An, Quảng
Nam Đà Nẵng), Bộ tượng Thập Bát ở chùa Tràng (Mỹ Tho), tượng Tuyết Sơn
chùa Trăm Gian (Hà Tây). Tượng Phật Thích Ca, cao 1,07m bằng đồng là hiện
vật Bảo tàng lịch sử TPHCM là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc độc đáo
Đạo đức thế kỷ XXI do vậy có thể khai thác sự đóng góp tích cực của Phật giáo
để xây dựng đạo đức nhân văn toàn thiện hơn, tự giác cao hơn vì sang thế kỷ XXI,
bên cạnh sự phát triển kỳ diệu của khoa học, những mâu thuẫn, chiến tranh giành
quyền lực rất có thể sẽ nổ ra và dới sự hậu thuẫn của khoa học, các loại vũ khí sẽ đợc
chế tạo hiện đại, tàn nhẫn hơn, dễ dàng thoả mãn cái ác của vài cá nhân và nguy cơ
gây ra sự huỷ diệt sẽ khủng khiếp hơn. Khi đó đòi hỏi con ngời phải có đạo đức,
nhân cách cao hơn để nhận ra đợc cái ác dới một lớp vỏ tinh vi hơn, sch s hn
Nh vậy trong cả quá khứ, hiện tại và tơng lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại và
gắn liền với cuộc sống của con ngời Việt Nam. Việc khai thác hạt nhân tích cực
hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con ngời Việt Nam, đặc biệt là
thế hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lợc đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của xã
hội - gia đình - nhà trờng - bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực cả
truyền thống và hiện đại. Chúng ta tin tởng vào một thế hệ trẻ hôm nay và mai
sau cờng tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tinh thần, đạo đức
tác phong trong sáng kế thừa truyền thống cha ông cũng nh những giá trị nhân
bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng xã hội ngày càng ổn định, phát
triển.
Vũ Thị Thúy Hằng 16 Lớp: Marketing
49A
Tiểu luận triết học
đề cơng chi tiết
LI M U
I.Giỏ tr ca pht giỏo
1. Pht giỏo con ng trớ tu
2. Giỏ tr nhn thc
3. Giỏ tr giỏo dc ca Pht Giỏo mt giỏ tr nhõn bn sõu sc
4. Giỏ tr ca Pht giỏo vi mi cỏ nhõn
5. Giỏ tr ca Pht giỏo trong thi i ngy nay
6. o Pht hng con ngi ti vic xõy dng mt xó hi vn minh v t do
II. Nhng hn ch ca Pht giỏo
4. Các trang Web: từ google.com
Vũ Thị Thúy Hằng 17 Lớp: Marketing
49A