I. Cơ sở lí luận về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở nước ta hiện
nay.
“Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 109 Hiến pháp 1992)
Là một cơ quan nằm trong hệ thông các cơ quan của bộ máy nhà nước, việc tổ chức và hoạt
động của Chính phủ cũng không nằm ngoài các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những nguyên tắc đó là những phương hướng mang
tính chỉ đạo trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung và Chính phủ nói
riêng, được xác định trong hiến pháp và trong Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Tòa án Nhân
dân… Hiện nay, các nguyên tắc này được quy định trong chương I hiến pháp 1992 và trong Chương
I của các Luật kể trên. Những nguyên tắc đó là: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Đảng
cộng sản lãnh đạo Nhà nước; nguyên tắc tập trung dân chủ; bình đẳng đoàn kết và giúp đõ các dân
tộc; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là nguyên tắc tập quyền. Trong đó, đối với
tổ chức hoạt động của Chính phủ thì nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
điều này được thể hiện trong trong Điều 6 Luật tổ chức Chính phủ 2001 :“Chính phủ tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Chính phủ về bản chất là một thiết chế quyền lực do Quốc hội lập ra thông qua các hình thức
là bầu và phê chuẩn các thành viên Chính phủ. Chính phủ do Quốc hội lập ra, nhiệm kì theo nhiệm
kì của Quốc hội, thành viên của Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội. Tổ chức và
hoạt động của Chính phủ cũng do Quốc hội quy định, trong kì họp thư nhất của mỗi khóa, Quốc hội
quy định cơ cấu tổ chức của Chính phủ cho phù hợp trên cơ sở căn cứ vào quy định của Hiến pháp
và Luật tổ chức Chính phủ hiện hành.
II. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Chính phủ hiện hành.
1. Thực trạng về tổ chức.
1.1 Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ
Trên cơ sở kế thừa mô hình tổ chức Chính phủ qua lịch sử phát triển của đất nước, đồng thời
khẳng định quan điểm đổi mới về tổ chức và họa động của Chính phủ, tổ chức Chính phủ của chúng
ta đang có sự đổi mới, hoàn thiện theo xu hướng thành lập bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, và trên
thực tế đã được chứng minh đó là chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu hướng cải tổ của Chính phủ
trong các nhà nước hiện đại.
Về cơ cấu tổ chức, Chính phủ nước ta cũng như ở đa số các nước được cấu thành từ những
quan ngang bộ. Số lượng Phó thủ tưởng, bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Quôc hội
quyết định. (Điều 3 Luật tổ chức Chính phủ). Hiện nay chúng ta có một Thủ tướng, 5 Phó thủ tướng,
18 Bộ trưởng và 4 thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm
và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn đề
nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và từ chức đối với Phó thủ tướng, bộ trưởng và thủ
trưởng cơ quan ngang bộ.
Hiến pháp 1992 đã có một bước tiến mới về cách thức thành lập và thay đổi thành viên
Chính phủ. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu ra theo đề nghị của Chủ tịch nước; Phó
thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ do Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ
tướng, Chủ tịch nước căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội ra quyết định bổ nhiệm. (các điều 84,103
và 114). Trong thời gian Quốc hội không họp thì Ủy ban thường vụ quốc hội phê chuẩn đề nghị của
Thủ tướng về việc bổ nhiệm, miên nhiệm, cách chức, cho từ chức, sau đó báo cáo lại Quốc hội. Chủ
tịch nước có quyền không đồng ý với quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội và yêu cầu Ủy ban
thường vụ Quốc hội tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội
quyết định trong kỳ họp gần nhất.
So sánh với các mối quan hệ tương tự trong hiến pháp 1980, ta có thấy thấy quy trình thành
lập Chính phủ trong Hiến pháp năm 1992, một mặt tiếp tục giữ vững những nguyên tắc về tổ chức
Chính phủ trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Hiến pháp 1980, mặt khác có những đổi mới cần thiết,
đó là: ở hiến pháp năm 1980 bỏ việc Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng được chọn (đề nghị) các Phó chủ
tịch và Bộ trưởng để Quốc hội phê chuẩn thì nay đã quy định trở lại việc này, khẳng định sự tương
cường vị trí, vai trò của người đứng đầu Chính phủ; ngược lại, nếu như Hội đồng nhà nước theo hiến
pháp 1980 có quyền quyết định đề nghị của Thủ tướng về việc thay đổi các thành viên khác của
Chính phủ, sau đó trình Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước không có quyền phủ quyết thì nay Chủ
tịch nước lại có quyền đó (theo điểm 7 Điều 103 Hiến pháp 1992). Quy định này một mặt vẫn đảm
bảo sự kịp thời trong việc xử lí các tình huống phát sinh trong hoạt động quản lý, mặt khác, nhằm
đảm bảo sự giám sát của Quốc hội và Chủ tịch nước đối với bộ máy hành chính nhà nước, tránh
những xáo trộn không cần thiết trong bộ máy quản lý.
1. Xem phụ lục trang 9
Như vậy, cách thức và trình tự thành lập cũng như sự thay đổi các thành viên khác của Chính
phủ trong thời gian Quốc hội không họp như trên về cơ bản là hợp lý. Việc sửa đổi, bổ sung một số
và các cơ quan ngang bộ (Điều 2) và các cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 31). Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ là thành viên của Chính phủ còn thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ không phải
là thành viên của Chính phủ, xét dưới góc độ cấu trúc của Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước
cao nhất thì sự phân biệt như trên có nhiều bất cập, thể hiện:
• Với tư các là cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất, Chính phủ phải bao quát toàn bộ các
ngành, lĩnh vực quản lý, nghĩa là khi bàn bạc và quyết định một vấn đề quản lý nhà nước nào đó, tập
thể Chính phủ phải gồm tất cả các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các ngành,
lĩnh vực. Việc quy định Chính phủ chỉ gồm các bộ và cơ quan ngang bộ mà không có các cơ quan
khác cũng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (trước đây khi chưa sắp xếp lại thì còn có rất
nhiều cơ quan như: Tổng cục bưu điện, Ban tôn giáo… hiện nay còn hai cơ quan là Tổng cục du lịch
và Tổng cục thống kê) là chưa đầy đủ.
• Là thành viên của Chính phủ, được tham gia các vấn đề quản lý nhà nước, song các
cơ quan như Ngân hàng nhà nước, Văn phòng Chính phủ về bản chất không phải là cơ quan quản lý
nhà nước (Điều 30 Luật tổ chức Chính phủ quy định: “Văn phòng chính phủ là bộ máy giúp việc cho
Chính phủ”. Sự tham gia của các cơ quan này với tư cách thành viên trong hoạt động tập thể Chính
phủ để quyết định các vấn đề quản lý nhà nước là không phù hợp.
• Việc cơ cấu lại các cơ quan của Chính phủ dẫn đến một thực tế là bộ máy thuộc Chính
phủ đã có sự sắp xếp lại một cách cơ bản nhưng vẫn còn các cơ quan thuộc Chính phủ nhưng lại
không thuộc cơ cấu tổ chức của Chính phủ hiện hành. Có nhiều cơ quan thuộc Chình phủ về bản
chất chỉ là các tổ chức sự nghiệp như các học viện, trung tâm, tổng công ty, cá tổ chức tư vấn phối
hợp do Chính phủ thành lập và thực hiện một số quyền hạn, nhiệm vụ trên một số ngành và lĩnh vực
mà không thuộc chức năng, nhiệm vụ của bất kỳ Bộ, cơ quan ngang bộ nào, ví dụ như Tổng cục khí
tượng thủy văn, Viện khoa học xã hội, Tổng cục du lịch… Việc xắp xếp các cơ quan này vào phạm
trù cơ quan thuộc Chính phủ đã làm lẫn lộn giữa các cơ quan có chức năng quản ký nhà nước về
ngành hoặc lĩnh vực công tác với các tổ chức thuần túy sự nghiệp.
2. Thực trạng về hoạt động của Chính phủ
Điều 6 Luật tổ chức Chính phủ quy định: “Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được bảo đảm
bằng hiệu quả hoạt động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên
Chính phủ ” Khẳng định hiệu quả hoạt động thực tế của Chính phủ phải thể hiện thông qua 3 hình
thức: Thông qua phiên họp Chính phủ, thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ và thông qua
Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ. Khẳng định vai trò của Thủ tướng cùng với vai trò
của phiên họp Chính phủ, là xu hướng đổi mới quan trọng của Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở kế
thừa các Hiến pháp trước đó. Nhằm tăng cường vai trò của người đứng đầu Chính phủ, Luật tổ chức
Chính phủ 2001 đã cụ thể hóa Điều 114 Hiến pháp 1992 bằng quy định tại chương III. Với quy định
này, cho phép phân định rõ ràng hơn quyền hạn của tập thể Chính phủ với quyền hạn của cá nhân
Thủ tướng. Quyền hạn của thủ tướng được quy định khá cụ thể, rõ ràng và có phần mở rộng, nhiều
quyền hạn trước đây được giao cho tập thể Hội đồng bộ trưởng nay giao cho cá nhân Thủ tướng.
Theo điều 114 Hiến pháp 1992 và Chương III Luật tổ chức Chính phủ, Thủ tướng có các quyền hạn:
- Lãnh đạo công tác của Chính phủ, thành viên Chính phủ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ, chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp;
- Quy định chế độ làm việc của Thủ tướng với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Chỉ đạo xây dựng các dự án trình Quốc hội và Ủy bản thường vụ Quốc hội, các văn bản
quy phạm thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng;
- Triệu tập, chủ tọa phiên họp Chính phủ;
- Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, có quan ngang bộ; trình Quốc hội phê
chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức đối với Phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan ngang bộ;
- Thành lập hội đồng và ủy ban thường xuyên hoặc lâm thời khi cân thiết;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thứ trưởng và các chức vụ tương đương; phê chuẩn
kết quả bầu cử thành viên ủy ban nhân dân cấp tỉnh, miễn nhiệm, điều động, cách chức chủ tịch, phó
chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Quyết định các biện pháp để cải tiến lề lối làm việc, hoàn thiện bộ máy quản lí nhà nước;
- Đình chỉ văn bản của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân, hội
đồng nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan cấp trên;
- Đề nghị Chủ tịch nước tạm đình chỉ công tác của Phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng
cơ quan ngang bộ trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiễm các
thành viên khác của ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường, lệnh, quyết định của Chủ