tình hình thực hiện tái bảo hiểm xây dựng lắp đặt tại tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia việt nam - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng là một điều kiện tất yếu để
phát triển nền kinh tế của một quốc gia. ở Việt Nam, sau gần 20 năm đổi
mới, sự phát triển kinh tế thị trờng đã thúc đẩy các chủ thể kinh tế phát huy
khả năng, sức sáng tạo và tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Trong lĩnh vực
dịch vụ tài chính, kinh tế thị trờng đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát
triển mạnh mẽ. Cùng với sự lớn mạnh chung của toàn ngành bảo hiểm, bảo
hiểm xây dựng lắp đặt phát triển không ngừng và ngày càng tỏ rõ vai trò
quan trọng đối với tiến trình mở cửa hội nhập ngày nay.
Tuy nhiên, bảo hiểm xây dựng lắp đặt không thể phát huy đợc vai trò của
mình nếu tách rời tái bảo hiểm. Nhận thức đợc mối quan hệ này, ngày
27/9/1994 Thủ tớng chính phủ đã ký quyết định 100/CP thành lập Công ty tái
bảo hiểm quốc gia Việt Nam, ngày nay đổi tên là Tổng công ty cổ phần tái
bảo hiểm quốc gia Việt Nam (tên giao dịch là Vinare) với t cách là bà đỡ
cho thị trờng bảo hiểm trong nớc. Qua 10 năm thực hiện nghiệp vụ tái bảo
hiểm xây dựng lắp đặt, Vinare đã đạt đợc những thành tựu to lớn song vẫn
còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục.
Trong thời gian thực tập tại Vinare, đợc sự hớng dẫn của cô giáo, thạc sỹ
Nguyễn Thị Chính và các cán bộ Phòng Tái Bảo Hiểm Xây dựng Lắp đặt kết
hợp với những kiến thức đã học, em đã chọn đề tài: Tình hình thực hiện tái
bảo hiểm xây dựng lắp đặt tại Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia
Việt Nam để làm luận văn của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm
nêu bật những nét cơ bản của Tái bảo hiểm nói chung, thực tiễn thực hiện tái
bảo hiểm xây dựng lắp đặt tại Vinare: những thành tựu cũng nh hạn chế, trên
cơ sở đó là một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cờng hiệu quả hoạt
động kinh doanh tái bảo hiểm xây dựng lắp đặt tại Vinare.
Kết cấu của đề tài, ngoài Lời nói đầu và Kết luận bao gồm ba chơng:
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
1

thuật cũng không nằm ngoài điều đó.
Trên thế giới hiện nay, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ
thuật đặc biệt kỹ thuật xây dựng dân dụng, do yêu cầu kỹ thuật ngày càng
cao, giá trị công trình ngày càng lớn và cùng với nó là sự phát sinh của nhiều
rủi ro kỹ thuật, kinh tế trong quá trình xây dựng nên đã dẫn đến đòi hỏi cấp
thiết việc phát triển và mở rộng loại hình bảo hiểm xây dựng lắp đặt. Mặt
khác, trong giá đa ra đấu thầu, các công ty hoặc các hãng thầu không thể tính
đợc đầy đủ khoản tiền dự trữ đề phòng cho các tổn thất xảy ra khi xây dựng
công trình, nếu đa vào thì giá đấu thầu của công trình sẽ rất cao. Trong khi
đó nhà bảo hiểm có thể tính toán chính xác hơn nhiều số phí bảo hiểm của
công trình so với so với việc dự kiến số tiền đề phòng tổn thất của các nhà
thầu. Hơn nữa, quy luật của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít nên phí bảo
hiểm sẽ không cao và nh vậy bảo hiểm xây dựng lắp đặt ngoài ý nghĩa quan
trọng là việc đóng góp vào hạ giá thành công trình còn đa ra một đảm bảo rất
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
3
Luận văn tốt nghiệp
có hiệu quả về mặt tài chính cho các bên có liên quan tới công trình đợc xây
dựng.
Không những thế, các công trình này có thể gặp phải rất nhiều rủi ro
bất ngờ trong quá trình xây dựng, lắp đặt gây thiệt hại tài chính cho chủ thầu,
chủ đầu t. Tuy nhiên, qua công tác bồi thờng nhanh chóng đầy đủ của các
nhà bảo hiểm, tình trạng khó khăn ban đầu về tài chính do rủi ro gây ra sẽ
nhanh chóng đợc giải quyết, nhờ đó chủ thầu hay chủ đầu t có thể trang trải
đợc các chi phí bất ngờ phát sinh vợt quá khả năng tài chính của mình; giúp
họ bảo toàn đợc vốn kinh doanh, hạn chế đợc ngắn nhất thời gian gián đoạn
kinh doanh có thể xảy ra do gặp rủi ro.
Mặt khác, các công trình xây dựng lắp đặt thờng có giá trị rất lớn. Ví
dụ, một số công trình có giá trị lớn ở Việt Nam nh: nhà máy nhiệt điện Hải

tăng thu ngoại tệ trong nớc, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngời dân
trong nớc.
Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một bộ phận của bảo hiểm kỹ thuật. Sự
ra đời và phát triển của bảo hiểm kỹ thuật luôn gắn liền với sự phát triển của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Bảo hiểm kỹ thuật bắt đầu ở nớc Anh
công nghiệp vào giữa thế kỷ 19.
Vào lúc các đơn bảo hiểm cháy tơng đối phổ biến thì một hiểm hoạ có
tính chất huỷ diệt tơng tự khác đã gây thiệt hại cho nhà máy bông ở
Lancashire, đó là vụ nổ nồi hơi. Không những vụ nổ này gây thiệt hại có tính
tàn phá về ngời, mà sự gián đoạn sản xuất sau đó đã làm nhiều doanh nghiệp
có liên quan bị phá sản.
Tại sao các vụ nổ có tính thảm hoạ lại thờng xảy ra nh vậy? Rõ ràng có
thể đổ lỗi phần nào cho những sai sót trong thiết kế do thiếu kinh nghiệm
đối với công nghệ mới. Nhng, thông thờng hơn, còn có rủi ro đạo đức; sử
dụng nồi hơi quá mức bình thờng, bất cẩn, hoặc những tập quán làm việc
nguy hiểm với những ý định nâng cao hiệu suất hoạt động của nồi hơi và
mức độ sản xuất. Rõ ràng, những ngời chủ của nhà máy đã phải làm một việc
gì đó.
Xuất phát từ thực tế đó, cùng với nhiều hình thức quản lý rủi ro sơ khai
khác, năm 1858, công ty bảo hiểm đầu tiên: Công ty Bảo hiểm Nồi hơi( The
Steam Boiler Assurance Company) đã đợc thành lập.
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
5
Luận văn tốt nghiệp
Chẳng bao lâu, dới sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ và
kỹ thuật cùng với nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai
bảo hiểm kỹ thuật cũng phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết và trở thành một
trong loại hình bảo hiểm quan trọng không thể thiếu đợc đối với sự phát triển
của mỗi nền kinh tế.

khoa học kỹ thuật và sự khan hiếm nguyên vật liệu, vì vậy nếu tổn thất xảy ra
trách nhiệm bồi thờng là rất lớn.
- Rủi ro mang tính chất tích luỹ vì càng gần giai đoạn cuối của thời hạn
bảo hiểm giá trị bảo hiểm trên công trình càng lớn.
- Các rủi ro đợc bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng lắp đặt khác nhau
đáng kể về quy mô. Sự phân tán rủi ro thấp vì số lợng tơng đối ít, lại thiếu
các rủi ro đồng nhất dẫn đến làm mất cân đối bảng danh mục tổng số lợng
dịch vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt.
- Một số rủi ro có tính chất thảm hoạ (động đất, lũ lụt, gió bão ) đòi hỏi
phải đặc biệt lu ý và thận trọng.
- Vị trí của rủi ro bảo hiểm có thể chỉ là một vị trí địa lý nhng có khi lại
trải dài trên một khu vực rộng (nh bảo hiểm xây dựng đờng sá) nên đối mặt
với nhiều loại rủi ro khác nhau khiến việc đánh giá rủi ro khó khăn và phức
tạp.
- Vì rủi ro trong bảo hiểm xây dựng lắp đặt phức tạp nên tổn thất của
nghiệp vụ này rất khó xác định đợc nguyên nhân chính xác, khiến công ty
giám định tổn thất, giải quyết bồi thờng khó khăn và kéo dài.
3. Nội dung bảo hiểm xây dựng lắp đặt.
Đối tợng của bảo hiểm xây dựng lắp đặt
a. Đối tợng của bảo hiểm xây dựng
Đối tợng đợc bảo hiểm của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công
trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, hay nói cách khác là bao
gồm tất cả các công trình xây dựng mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và
bê tông cốt thép. Cụ thể là các nhóm công trình sau:
- Nhà ở, trờng học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếu phim,
các công trình văn hoá khác,
- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất;
- Đờng sá( bao gồm cả đờng bộ và đờng sắt), đờng băng sân bay;
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B

thi công công trình hoặc xung quanh khu vực công trờng nếu ngời mua bảo
hiểm có yêu cầu.
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
8
Luận văn tốt nghiệp
b. Đối tợng của bảo hiểm lắp đặt
Đối tợng bảo hiểm lắp đặt đợc hiểu là các máy móc lắp đặt, trang thiết
bị phục vụ cho công tác lắp đặt và một số công việc, hạng mục liên quan tới
công việc lắp đặt. Đối tợng đợc bảo hiểm đợc phân loại nh sau:
- Các máy móc, các dây chuyền đồng bộ trong một xí nghiệp hay trong
khi tiến hành lắp đặt các máy móc thiết bị đó.
- Các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho lắp đặt.
- Các phần việc xây dựng phục vụ cho công tác lắp đặt.
- Trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba.
- Chi phí dọn dẹp vệ sinh.
Phạm vi bảo hiểm
a. Phạm vi bảo hiểm xây dựng
Các đơn bảo hiểm xây dựng do ngời bảo hiểm cung cấp thờng là đơn
bảo hiểm mọi rủi ro nên phạm vi đợc bảo hiểm thờng rất rộng, chỉ trừ các rủi
ro loại trừ đợc nêu rõ trong đơn còn hầu hết các rủi ro bất ngờ và không lờng
trớc đợc đều đợc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm xây dựng.
Cụ thể, có các rủi ro chính sau:
- Cháy, sét đánh, nớc, chữa cháy hay phơng tiện chữa cháy
- Lũ lụt, ma, tuyết rơi, tuyết lở, sóng thần
- Các loại bão
- Động đất, sụt lở đất đá
- Trộm cắp
- Thiếu kinh nghiệm, bất cẩn, hành động ác ý hay lỗi của con ngời.
Ngoài ra, tùy vào từng công trình, mỗi đơn cấp còn có các điều khoản bổ

- Các rủi ro thiên tai bao gồm động đất, động biển gây ra sóng thần, gió
mạnh (do bão, gió xoáy, cuồng phong), ma lớn, lũ, lụt, đóng băng, sét đánh,
cháy do sét đánh hay do hoạt động của núi lửa, đất lún, sụt lở.
- Các hiểm hoạ tổn thất gây ra bởi hoạt động của con ngời trên công trờng
nh: thiếu kinh nghiệm hay kỹ năng, lỗi của con ngời, bất cẩn, trộm cắp, hành
động ác ý, phá hoại, vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu, lỗi thiết kế, tập
trung cao độ hay cờng độ công việc cao do thời gian lắp đặt quá ngắn, phối
hợp công việc thiếu hợp lý, trông nom, bảo vệ công trờng không tốt, thiếu
những biện pháp ngăn ngừa tổn thất, lỗi vận hành, lỗi ngời vận hành máy.
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
10
Luận văn tốt nghiệp
- Các rủi ro kỹ thuật, vận hành bao gồm áp suất ép quá lớn (nổ vật lý),
chân không (nổ bên trong), nhiệt dộ quá lớn (đoản mạch), lực li tâm, lỗi
nguyên vật liệu, mất kiểm soát phản ứng hoá học (nổ hoá học), lỗi của hệ
thống hay thiết bị điều hành hay điều khiển.
Bảo hiểm lắp đặt có các loại trừ sau:
- Loại trừ chung: áp dụng cho cả phần bảo hiểm vật chất và phần bảo
hiểm trách nhiệm. Các rủi ro loại trừ chính trong phần này là:
+ Chiến tranh
+ Những rủi ro hạt nhân
+ Các hành vi có tính vi phạm của ngời đợc bảo hiểm
+ Gián đoạn công việc.
- Các loại trừ đặc biệt áp dụng cho phần thiệt hại vật chất:
+ Các khoản miễn thờng
+ Mọi tổn thất hậu quả
+ Lỗi thiết kế, khuyết tật nguyên vật liệu
+ Hao mòn và xé rách,
+ Các tổn thất về hồ sơ, bản vẽ, tài liệu,

tái bảo hiểm.
Trong tái bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc ký hợp đồng với ngời tham
gia và sau đó chuyển giao rủi ro cho các công ty nhận tái bảo hiểm. Công ty
nhận gọi là công ty nhận tái bảo hiểm.
Mặc dù ra đời muộn hơn so với bảo hiểm, tuy nhiên ngày nay tái bảo
hiểm đã phát triển không ngừng và hỗ trợ đắc lực cho bảo hiểm trong những
tác động tích cực đối với sự phát triển mỗi nớc. Sở dĩ nh vậy là vì tái bảo
hiểm có những tác dụng không thể phủ nhận đợc.
Nh trên đã trình bày, có thể thấy nhiệm vụ chủ yếu của tái bảo hiểm là
phân chia các rủi ro đã đợc bảo hiểm của các công ty bảo hiểm gốc cho một
tập thể những công ty tái bảo hiểm và thông qua đó sẽ tận dụng đợc một cách
tối u các quy luật thống kê. Với nhiệm vụ trên, tái bảo hiểm ổn định kinh
doanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho các công ty này có
thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vợt quá khả năng tài chính của mình.
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
12
Luận văn tốt nghiệp
Thứ hai, tái bảo hiểm có tác dụng phân tán rủi ro, góp phần ổn định tài
chính cho các công ty gốc đặc biệt trong trờng hợp xảy ra những biến cố bảo
hiểm có tính thảm hoạ hay tính tích luỹ rủi ro.
Thứ ba, tái bảo hiểm còn giúp cho các công ty nhỏ hoặc mới thành
lập ổn định và phát triển lâu dài nhờ sự t vấn về nghiệp vụ từ các công ty
tái bảo hiểm.
Thứ t, tái bảo hiểm còn góp phần ổn định Ngân sách Nhà nớc thông
qua thu thuế do các công ty tái bảo hiểm đóng góp và tăng phần thu ngoại tệ
cho đất nớc thông qua các dịch vụ bảo hiểm giữ lại trong nớc hay phần nhợng
của phía nớc ngoài.
Thứ năm, tái bảo hiểm có tác động tích cực đến đời sống của các cán
bộ bảo hiểm. Bởi vì, thông qua tái bảo hiểm các công ty bảo hiểm gốc đợc

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 với sự thắng lợi của
Hồng quân Liên xô và phe đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít đến tận
gốc rễ. Nó đã mở ra một giai đoạn mới của lịch sử loài ngời cũng nh của nền
kinh tế và ngành bảo hiểm. Tái bảo hiểm giai đoạn này đợc đặc trng thông
qua các biến động lớn sau đây:
- Sự phục hồi nhanh chóng của các công ty tái bảo hiểm của cộng hoà
liên bang Đức.
- Sự thành lập các công ty bảo hiểm nhà nớc ở các nớc xã hội chủ nghĩa.
- Trong những nớc chậm phát triển hoặc mới giành đợc độc lập những tổ
chức độc quyền tái bảo hiểm, cục bộ hay toàn phần đã đợc thành lập nhằm
bảo vệ lợi ích riêng của họ (Ví dụ nh ở Aschentina, Braxin, Chile, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ai Cập và một số nớc ở Châu Phi, Đông Nam á ). Sự kiện này làm thu
hẹp khả năng hoạt động của các công ty tái bảo hiểm quốc tế ở những nớc
đó.
- Nhiều công ty tái bảo hiểm mới đợc thành lập và ngày càng có nhiều
công ty bảo hiểm tiến hành đồng thời dịch vụ tái bảo hiểm. Do đó cuộc cạnh
tranh giữa họ ngày càng gay gắt và dới nhiều hình thức khác nhau.
1.2 Các hình thức tái bảo hiểm.
Sự ra đời và quá trình lịch sử phát triển của tái bảo hiểm cho thấy vào
thời gian ban đầu không có sự phân biệt rõ ràng nào về hình thức tái bảo
hiểm, bởi vì trong nhiều thế kỷ chỉ có một hình thức tái bảo hiểm duy nhất đ-
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
14
Luận văn tốt nghiệp
ợc biết và ứng dụng rộng rãi trên thị trờng bảo hiểm thế giới. Đó là: tái bảo
hiểm lựa chọn cho từng rủi ro riêng biệt.
Đầu thế kỷ 19, để đáp ứng nhu cầu của ngành bảo hiểm đang ngày
càng phát triển mạnh mẽ, ngành tái bảo hiểm bắt đầu phát triển nhanh chóng
và lúc đó, các hình thức tái bảo hiểm mới đợc tạo lập. Có thể phân chia tái

xác nhận có thể thực hiện bằng điện tín hay qua điện thoại, nhng sau đó vẫn
phải xác nhận bằng văn bản để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng. Dĩ nhiên,
nhà tái bảo hiểm có quyền từ chối tham gia hợp đồng nếu họ không muốn.
Theo tập quán thì việc nhà tái bảo hiểm im lặng không trả lời không đợc xem
nh là một sự chấp nhận.
Trớc khi chính thức có ý kiến nhận hay khớc từ, nhà tái bảo hiểm có
thể yêu cầu biết thêm những chi tiết khác để đánh giá rủi ro mà mình sẽ nhận
nh: những chi tiết về việc định giá phí bảo hiểm Cuối cùng, chỉ khi nào
nhận đợc thông báo chấp nhận của nhà tái bảo hiểm thì dịch vụ theo hình
thức tuỳ ý lựa chọn mới coi nh hoàn thành.
Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn có nhiều u điểm và nhợc điểm. Có thể
xem qua một số u nhợc điểm chủ yếu sau:
u điểm:
+ Giúp công ty nhợng, nhất là công ty bảo hiểm của các quốc gia đang
phát triển và non trẻ, có kinh nghiệm ít có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm
cho những đơn vị rủi ro ở địa phơng mà có giá trị bảo hiểm lớn, vợt quá khả
năng tài chính thông thờng của mình bằng việc sử dụng chuyên môn và khả
năng của thị trờng tái bảo hiểm quốc tế.
+ Giúp công ty nhợng có điều kiện lựa chọn để duy trì kim ngạch bảo
hiểm của mình đợc cân đối, tức là giúp cho công ty nhợng có thể loại bỏ đợc
những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi tổn thất thuộc đơn vị
rủi ro này xảy ra có thể làm ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của mình trong
năm kế hoạch ở một nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt nào đó.
+ Giúp cho công ty nhợng có quyền chủ động trong việc chấp nhận
bảo hiểm phục vụ nhu cầu của ngời đợc bảo hiểm về những loại rủi ro mà có
thể không đợc chấp nhận trong các hợp đồng tái bảo hiểm truyền thống của
mình, chẳng hạn nh: rủi ro về động đất, ngập lụt, đình công, bạo loạn, chiến
tranh hay những rủi ro tơng tự khác
Nh ợc điểm:
Phạm Thị Hờng Lớp

Tái bảo hiểm là sự thoả thuận giữa công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm
trong đó công ty nhợng bắt buộc phải nhợng cho nhà tái bảo tất cả các đơn vị
rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã thoả thuận từ trớc.
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
17
Luận văn tốt nghiệp
Ngợc lại, nhà tái bảo hiểm cũng bắt buộc phải chấp nhận toàn bộ các
đơn vị rủi ro đó. ở đây, công ty nhợng toàn quyền trong việc chấp nhận bảo
hiểm gốc, định phí mà không phải tham khảo ý kiến của nhà tái bảo hiểm .
Đồng thời, công ty nhợng cũng đơn phơng thanh toán các vụ tổn thất
có liên quan đến những rủi ro đợc bảo hiểm với mục đích bảo vệ quyền lợi
chung của công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm. Ngợc lại, nhà tái bảo hiểm
chia sẻ những vận may rủi với công ty nhợng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn
thất thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm để thoả thuận.
Cũng nh loại hình bảo hiểm tùy ý lựa chọn, tái bảo hiểm bắt buộc cũng
tồn tại u và nhợc điểm nhất định:
u điểm:
+ Từ những phân tích trên có thể thấy với hình thức tái bảo hiểm, nhà
tái bảo hiểm và nhà bảo hiểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau hơn là những
dịch vụ bảo hiểm nhợng theo hình thức tuỳ ý lựa chọn.
+ Với hình thức này, nhà tái bảo hiểm thu đợc số phí lớn nhất do mọi
rủi ro đều đợc san sẻ giữa hai bên, điều này phù hợp với quy luật số đông
giúp nhà tái bảo hiểm thực hiện đợc tốt vai trò kinh tế quốc dân của họ về
đẩy mạnh những tiến bộ khoa học kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc
chấp nhận những rủi ro mới và các dạng bảo hiểm mới.
Nh ợc điểm:
Bên cạnh những u điểm trên thì một nhợc điểm nổi trội cần bàn đến
đó là hình thức tái bảo hiểm bắt buộc không khai thác hết khả năng tài
chính của nhà bảo hiểm; điều này đợc thể hiện ở chỗ, có nhiều rủi ro mà

xuyên phải canh chừng diễn biến của thoả ớc mà mình đã ký kết.
1.3. Phơng pháp tái bảo hiểm.
Tái bảo hiểm phát triển ngày một hoàn thiện về hình thức cũng nh ph-
ơng pháp. Các hình thức tái bảo hiểm đều tiến hành theo 2 phơng pháp:
- Tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm (tái bảo hiểm theo tỷ lệ).
- Tái bảo hiểm theo mức bồi thờng (tái bảo hiểm không theo tỷ lệ).
1.3.1. Tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm (Proportional Reinsurance).
Tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm là một phơng pháp tái bảo hiểm mà
trong đó trách nhiệm của công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm đối với đơn vị
rủi ro đợc bảo hiểm đợc phân bổ theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
19
Luận văn tốt nghiệp
số tiền đợc bảo hiểm. Vì lẽ đó, các dịch vụ tái bảo hiểm theo số tiền bảo
hiểm cũng đợc gọi là tái bảo hiểm theo tỷ lệ.
Tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm có một số đặc tính sau:
- Trách nhiệm của công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm đợc tính theo tỷ lệ
tơng ứng của mỗi bên tham gia.
- Phí và bồi thờng đợc chia sẻ giữa công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm
theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên về số tiền bảo hiểm.
Chẳng hạn, nếu phần tham gia của nhà tái bảo hiểm trên một rủi ro là
40% của giá trị rủi ro đó thì họ cũng sẽ nhận đợc 40% của số phí bảo hiểm và
sẽ đóng góp tiền bồi thờng vào mỗi vụ tổn thất thuộc rủi ro đó là 40%. Tức
là, phần phí bảo hiểm do nhà tái bảo hiểm nhận đúng nh phần rủi ro họ đảm
nhận tính theo tỷ lệ.
Phơng pháp tái bảo hiểm tỷ lệ đợc chia thành 2 dạng chính là:
- Tái bảo hiểm thặng d vốn (hay còn gọi là tái bảo hiểm mức dôi ra)
(surplus), và
- Tái bảo hiểm phân ngạch thuần (hay còn gọi là tái bảo hiểm số

những đơn vị rủi ro mà có giá trị bảo hiểm vợt quá khả năng giữ lại đã ấn
định và mức tái bảo hiểm chỉ là phần chênh lệch giữa giá trị của rủi ro đó và
mức giữ lại của công ty nhợng. Mức tái bảo hiểm đợc khống chế bằng một số
tiền tối đa đợc hai bên thoả thuận khi tham gia vào hợp đồng tái bảo hiểm.
Tuy nhiên, tái bảo hiểm theo dạng mức dôi có nhợc điểm nh sau:
- Chi phí hành chính tốn kém.
- Sử dụng nhiều nhân lực (nhất là đối với các nớc không có điều kiện áp
dụng máy tính điện tử).
- Trờng hợp tổn thất rơi nhiều vào những rủi ro dới mức giữ lại có thể
làm ảnh hởng đến kinh doanh của công ty nhợng.
Tái bảo hiểm mức dôi thờng đợc áp dụng nhiều nhất đối với các
nghiệp vụ bảo hiểm cháy, tai nạn thân thể và nhân thọ, ngoài ra cũng đợc áp
dụng ở các nghiệp vụ khác nh: bảo hiểm vận chuyển, trộm cắp, tín dụng
Thứ hai : Tái bảo hiểm số thành (Quota Share).
Dạng tái bảo hiểm số thành ít phổ biến hơn dạng tái bảo hiểm mức dôi
và thờng đợc dùng nhiều hơn cả là trong các nghiệp vụ bảo hiểm về trách
nhiệm dân sự, xe ô tô, ma đá, giông bão và bảo hiểm vận chuyển. Tái bảo
hiểm số thành thờng đợc công ty nhợng sử dụng kết hợp với một dạng tái
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
21
Luận văn tốt nghiệp
bảo hiểm vợt mức bồi thờng (tức là loại tái bảo hiểm không theo tỷ lệ). Tuy
nhiên, trong một số trờng hợp nhất định ngời ta cũng có thể kết hợp cả hai
dạng tái bảo hiểm tỷ lệ (số thành và mức dôi) để phân tán rủi ro.
Trong hợp đồng tái bảo hiểm số thành, các đơn vị rủi ro đợc đem tái
bảo hiểm theo các phần ấn định (fixed share), hay nói cách khác bằng một
thoả ớc phân ngạch. Nhà tái bảo hiểm và công ty nhợng cùng có nghĩa vụ
phải đảm bảo tất cả các rủi ro đợc bảo hiểm của một nghiệp vụ hay một hạng
rủi ro nhất định và nghĩa vụ đó đợc phân chia giữa các bên theo một tỷ lệ

ra điều kiện về tạm giữ phí tái bảo hiểm (premium reserve) cũng có tỷ lệ cao,
nhờ vậy công ty nhợng có điều kiện sử dụng vốn nhàn rỗi để đầu t vào các
việc khác.
Nh ợc điểm:
+ Công ty nhợng phải đem tái bảo hiểm toàn bộ các đơn vị rủi ro bảo
hiểm gốc theo một tỷ lệ định trớc, kể cả những rủi ro rất nhỏ mà bản thân
công ty nhợng đủ khả năng và điều kiện tự giữ lại đợc.
+ Mặc dù với dạng tái bảo hiểm số thành, công ty nhợng có thuận lợi
hơn so với dạng tái bảo hiểm mức dôi trong việc thực hiện bảo hiểm với khả
năng phân tán rủi ro tốt và linh hoạt, nhng công ty nhợng không chủ động đ-
ợc trong việc khống chế tỷ lệ bồi thờng đối với mức giữ lại của mình, đồng
thời không có khả năng để giảm hệ số biến thiên của phần tổn thất thuộc mức
giữ lại.
Thứ ba: Tái bảo hiểm kết hợp số thành- mức dôi.
Đây không phải là dạng thứ ba của hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ
mà là sự kết hợp giữa hai dạng tái bảo hiểm tỷ lệ là số thành và mức dôi với
nhau. Với những công ty bảo hiểm mới thành lập, việc kết hợp hai dạng tái
bảo hiểm tỷ lệ là rất phù hợp và thờng đợc áp dụng.
Sở dĩ nh vậy là vì các công ty bảo hiểm mới bắt đầu hoạt động kinh
doanh, khối lợng dịch vụ mà họ nhận bảo hiểm cha đủ ổn định để có thể
tránh khỏi trờng hợp không may có rủi ro lớn xảy ra, đồng thời để đảm bảo
cho công ty nhợng có thể hoạt động đứng vững trên thị trờng và phục vụ đợc
những nhu cầu khác nhau của khách hàng mua bảo hiểm, công ty nhợng cần
thiết phải có tái bảo hiểm theo hình thức mức dôi. Bên cạnh đó, vì mới thành
lập nên công ty nhợng thờng cha thể có đủ số tiền dự trữ đảm bảo để đơng
đầu với những biến thiên về tổn thất theo các chu kỳ khác nhau, do vậy cần
Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
23
Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Hờng Lớp
bảo hiểm 43B
24
Luận văn tốt nghiệp
- Trách nhiệm của công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm đối với tổn thất
không chia sẻ theo tỷ lệ về phí, trách nhiệm cũng nh về bồi thờng. Vì thế
hình thức tái bảo hiểm này còn đợc gọi là tái bảo hiểm phi tỷ lệ.
- Tiêu chuẩn cơ bản để phân định trách nhiệm giữa các bên là số tiền bồi
thờng tổn thất.
- Công ty nhợng phải chịu trách nhiệm bồi thờng cho những tổn thất dới
hoặc cho tới mức bằng hạn mức bồi thờng tự giữ lại, đợc gọi là mức tự bồi
thờng (Priority).
- Nhà tái bảo hiểm chỉ bồi thờng cho phần tổn thất chênh lệch của
những tổn thất vợt quá mức bồi thờng của công ty nhợng cho tới một hạn
mức tối đa đợc thoả thuận trớc trong hợp đồng tái bảo hiểm, đợc gọi là hạn
mức trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm (Liability limitation of Reinsurance).
Từ những tính chất nêu trên có thể thấy hình thức tái bảo hiểm phi tỷ lệ
này có những u và nhợc điểm chính sau đây:
Ưu điểm:
- Là hình thức tái bảo hiểm chỉ bảo vệ cho trờng hợp có tổn thất quá lớn
và đợc bảo vệ 100% mức tổn thất vợt quá điểm tự bồi thờng (Excess point),
nên công ty nhợng có thể khống chế mức bồi thờng tối đa của mình bằng một
mức tiền ấn định. Về lý thuyết thì sự biến thiên của mức tổn thất thuộc phần
tổn thất do công ty nhợng tự bồi thờng đợc tính toán nhỏ hơn mức biến thiên
tổn thất của công ty nhợng nếu nh áp dụng tái bảo hiểm theo hình thức tái
bảo hiểm theo tỷ lệ.
- Vì nhà tái bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thờng cho những vụ tổn
thất có số tiền bồi thờng thấp hơn điểm tự bồi thờng của công ty nhợng, nên
công ty nhợng có số phí bảo hiểm lớn hơn.
- Chi phí hành chính ít tốn kém (vì công ty nhợng không phải phân loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status