hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu góp phần phát triển kinh tế lào để làm luận văn thạc sỹ của mình trong khoá học tại việt nam - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, Cộng hòa Dân chủ Nhân
dân Lào đang từng bước chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.
Nhằm theo kịp với trình độ phát triển của các quốc gia lớn và để
chuyển đổi nền kinh tế hiệu quả, hoàn thiện và minh bạch chính sách thuế
trong công tác nhập khẩu là một nội dung cực kỳ quan trọng. Chính sách thuế
nhập khẩu có hoàn thiện mới thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại quốc tế
phát triển. Kinh tế thương mại quốc tế phát triển sẽ góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, trang bị kỹ thuật phục vụ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước.
Như vậy, hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu là một đòi hỏi đang rất
cần thiết và tất yếu tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chính vì vậy, tôi đã
lựa chọn đề tài: Hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu góp phần phát triển
kinh tế Lào để làm luận văn thạc sỹ của mình trong khoá học tại Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thuế nhập
khẩu tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thuế nhập khẩu tại Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu tại
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu chính sách thuế nhập khẩu.
- Phạm vi nghiờn cứu: tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong
khoảng thời gian từ năm 2000 – 2006.
1
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên

hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức và cá nhân tạo ra để hình thành quỹ
tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Là một phạm trù lịch sử, thuế gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại và phát
triển của nhà nước, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ.
Tuỳ theo mỗi chế độ xã hội khác nhau, thuế được thiết lập theo những quan
điểm khác nhau. Song nhìn chung trong nền kinh tế thị trường thuế có những
chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thông qua
thuế, NSNN có được nguồn thu để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu để thực hiện
chức năng quản lý xã hội.
Hai là, trong nền kinh tế thị trường, thuế là một công cụ quản lý và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua công cụ này, chính phủ kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích
hoặc hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời thực hiện sự điều tiết
hợp lý giữa người giàu và người nghèo, đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ
thể kinh doanh và các tầng lớp dân cư.
3
Người ta phân chia thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế đồng
thời là một. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập của những người
nộp thuế và lấy trong phần thu nhập của mình để nộp vào NSNN. Ví dụ như
thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức…
Thuế gián thu: là lọai thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế
không đồng thời là một. Người nộp thuế là người sản xuất hoặc người kinh
doanh hàng hóa, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa đó, họ
mua hàng hóa với giá cả trong đó có cả thuế. Với cơ chế này, người sản xuất
kinh doanh hàng hóa khi bán hàng hóa cũng là lúc họ thu hộ thuế gián thu cho
Nhà nước (qua giá bán hàng) và nộp khỏan thuế này vào cho NSNN, tức là
nộp hộ cho người tiêu dùng hàng hóa. Do đó, thuế gián thu là loại thuế điều
tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dụch vụ một cách gián tiếp,

trốn thuế, lậu thuế. Tìm được một mức thuế suất thích hợp cho từng thời kỳ là
một bài toán khó cho các nhà hoạch định chính sách.
Về mặt xã hội : thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước
và các pháp nhân, thể nhân tham gia vào hoạt đọng nhập khẩu hàng hóa. Nó
là một công cụ được nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý của
mình đối với các họat động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các quan hệ phân
phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức, cá nhân và Nhà nước.Vì
vậy, thuế nhập khẩu mang tính xã hội cao. Nghiên cứu bản chất xã hội của
thuế nhập khẩu giúp chúng tôi quán triệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu trong việc
hoạch định chính sách thuế nhập khẩu phải bảo đảm rõ ràng, đơn giản, dễ
hiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ của cả người thu thuế và
5
người nộp thuế. Việc tổ chức quản lý thu thuế cũng phải bảo đảm tính minh
bạch. Công khai, dân chủ mới đem lại hiệu quả cao.
1.1.3 - Vai trò của thuế nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường:
Là một loại thuế gián thu, thuế nhập khẩu là một công cụ chính sách
ngoại thương, được nhà nước sử dụng để quản lý hoạt động nhập khẩu của
một nước, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Là những sắc thuế trong hệ thống thuế quốc gia cho nên thuế nhập
khẩu cũng có vai trò của thuế nói chung là tạo nguồn thu cho NSNN và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, dưới giác độ là một sắc thuế cụ thể thì thuế
nhập khẩu cũng thể hiện những vai trò riêng có của nó.
Một là, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu cho NSNN.
Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu NSNN, thuế nhập khẩu phải
bao quát hết các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của các tổ chức, cá nhân,
đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế nhập khẩu vào NSNN.
Thông qua thuế nhập khẩu, nhà nước huy động một phần thu nhập quốc dân
được tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa để tập trung vào NSNN. Tuy
nhiên, nếu Nhà nước dùng quyền lực của mình để huy động quá mức thì các
tổ chức, cá nhân kinh doanh nhập khẩu sẽ không kinh doanh nữa hoặc chuyển

Ba là, thuế nhập khẩu bảo hộ sản xuất trong nước.
Chúng ta biết rằng, khối lượng hàng hóa nhập khẩu phụ thuộc vào sức
mua của thị trường. Sức mua của thị trường phụ thuộc vào giá cả hàng hóa.
Khi giá cả hàng hóa tăng giảm còn ảnh hưởng làm giảm tăng khả năng cạnh
tranh của hàng hóa trên thị trường. Thuế nhập khẩu là một bộ phận cấu thành
giá cả hàng hóa nhập khẩu. Vì thế, thuế nhập khẩu đấnh thấp hay cao có ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Đối với những hàng hóa nhập
7
khẩu là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặt
hàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế nhập khẩu cao sẽ hạn chế tiêu dùng
hàng nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước. Trong điều
kiện đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh qua giá với hàng
nhập khẩu. Khi đánh thuế nhập khẩu hàng tiêu dùng ở mức thấp, tức là Nhà
nước không hạn chế nhập khẩu mặt hàng đó, người tiêu dùng sẽ được hưởng
lợi thông qua việc tiêu dùng hàng nhập khẩu với chất lượng cao, mẫu mã đẹp,
giá lại rẻ. Đồng thời, với mức thuế nhập khẩu thấp sẽ trực tiếp thúc đẩy các
doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiến
mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng
ngoại nhập nếu muốn tồn tại và phát triển. Đối với hàng hóa là đầu vào của
các ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết bị phục vụ sản xuất
trong nước, việc đánh thuế nhập khẩu thấp sẽ có tác động trực tiếp đến chi phí
đầu vào của giá thành sản phẩm. Với giá thành sản phẩm giảm (do thuế nhập
khẩu thấp) sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ để nâng
cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh
tranh của hàng sản xuất trong nước. Như vậy, thông qua công cụ thuế nhập
khẩu, nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hướng
tiêu dùng và thu hút đầu tư. Tuỳ thuộc vào mức độ bảo hộ sản xuất trong
nước, các nước có thể thực hiện các hình thức đánh thuế như:
- Thuế quan vừa đủ là loại thuế quan mà mức thuế suất chỉ vừa đủ cao
cho phép các nhà sản xuất nội địa bù đắp chi phí và có lợi nhuận bình thường

giới Lào.
9
- Hàng là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ
chức, các nhân ở nước ngoài, người Lào định cư ở nước ngoài mang hoặc gửi
về cho các tổ chức, cá nhân ở Lào và ngược lại.
- Hàng hóa nhập khẩu vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ chức
quốc tế, cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Lào và các cá nhân nước ngoài
làm việc tại các tổ chức nói trên hiặc tại các thanh thức đầu tư nước ngoài tại
Lào.
Ngoài ra, Lào cũng có quy định về đối tượng không chịu thuế nhập
khẩu. Thông thường đó là các hàng hóa sau:
+ Hàng vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua biên giới Lào trên
cơ sở hiệp định ký kết giữa các Chính phủ hoặc ngành, địa phương được Thủ
tướng Chính phủ phép.
+ Hàng chuyển khẩu bao gồm:
- Hàng hóa được chuyển thẳng từ cửa khẩu nước xuất khẩu đến cửa
khẩu nước nhập khẩu không đến cảng nội địa.
- Hàng hóa được chở đến cửa khẩu nội địa nhưng không làm thủ tục
nhập khẩu mà đi luôn tới cửa khẩu nước nhập khẩu.
- Hàng viên trợ nhân đạo của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ.
Như vậy, đối tượng chịu thuế nhập khẩu đa dạng. Trừ một số mặt hàng
mà Nhà nước không cho phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu vì có thể
gây tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia và đời sống văn hóa xã hội, còn lại
mọi loại mặt hàng đều có thể là hàng hóa chịu thuế nhập khẩu.
B) Giá tính thuế: hay trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa nhập
khẩu được xác định theo mục đích quản lý của cơ quan hải quan.
Việc xác định đúng trị giá hàng hóa không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp
tới quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước. Có hai trường phái chính
trong việc xác định trị giá hàng hóa:
10

trong bảng giá tối thiểu được Nhà nước quy định thì phải áp dụng giá ghi
trong bảng giá tối thiểu. Việc áp dụng hình thức này thường diễn ra ở những
nước đang phát triển, hệ thống Luật pháp chưa ổn định. Ý thức Luật pháp của
người dân chưa cao, thường trốn thuế bằng cách ghi thấp giá trị trong hợp
đồng. Áp dụng hình thức này chính là một biện pháp phi thuế quan giúp các
nước này tăng số thu nhưng không phải tăng thuế suất – một biện pháp dễ bị
trả đũa. Nhưng việc áp dụng hình thức này khiến chính sách thuế không minh
bạch, rõ ràng, không thể dự đoán được. Ngoài ra, nếu việc định giá giá tối
thiểu không được cập nhật thường xuyên dựa trên các thông tin điều tra về thị
trường sẽ dẫn đến hiện tượng dịnh gía tối thiểu quá cao hoặc quá thấp so với
giá thực tế, gây khó khăn cho người nhập khẩu hoặc thất thu NSNN.
1.2.2 -Vị trí của chính sách thuế nhập khẩu:
Chính sách thuế nhập khẩu là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và
các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để can thiệp, điều tiết
hoạt động nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
phù hợp với định hướng, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế
– xã hội của quốc gia đó. Chính sách thuế nhập khẩu cũng nhằm xây dựng
hành lang pháp lý giúp cho các cá nhân, đơn vị có hoạt động nhập khẩu hàng
hóa có khả năng dự đoán trước và điều chỉnh hành vi kinh doanh của mình.
Chính sách thuế nhập khẩu là một bộ phận của chính sách kinh tế
chung của quốc gia, có quan hệ chặt chẽ và phục vụ phát triển kinh tế. Nó tác
động mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất. Phân phối, chuyển dịch cơ cấu kinh
tê của đất nước đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi
nước vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế. Chính sách thuế
nhập khẩu cũng là một bộ phần của chính sách thương mại quốc tế của nhà
12
nước. Mức độ can thiệp của nó vào nền kinh tế nhiều hay ít phụ thuộc vào
chính sách thương mại quốc tế là tự do hay bảo hộ. Khi hoạt động trao đổi
hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phong phú thì chính sách thuế nhập
khẩu của một nước còn có thể có những tác động nhất định đến nền kinh tế

mỗi năm tăng 5%. Trong đó: năm 2000 tăng 2,5%, 2001 tăng 3,7%, 2002 tăng
4,2%, năm 2003 tăng lên 6%.
1.3.2 - Thuế tác động tăng thu ngân sách
Trong công tác thuế có nhiệm vụ trọng tâm, nỗ lực phấn đấu hoàn
thành vượt mức nhiệm vụ thu NSNN. Nhà nước đã đặt ra các thứ thuế để bắt
buộc các thành viên trong xã hội đóng góp một phần sản vật và thu nhập của
họ cho Nhà nước mới tồn tại và họat động được. Như vậy, ngay từ buổi khai
sơ, thuế đã được sử dụng với mục tiêu quan trọng là tập trung thu nhập vào
tay Nhà nước. Lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời kỳ và ở các
nước cũng đã cho thấy: Tỷ trọng thu bằng thuế thường chiếm phần lớn trong
các tổng thu nhập của NSNN. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sau
khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu bằng thuế, phí chiếm tới trên 90%
tổng số thu NSNN.
1.4. Cải cách chính sách thuế nhập khẩu của các nước và bài học kinh
nghiệm cho Lào.
1.4.1 - Cải cách chính sách thuế của Việt Nam
1.4.1.1 - Chính sách tổ chức quản lý hoạt động nhập khẩu:
Về cơ bản, nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện nhất quán chính
sách tổ chức và quản lý hoạt động nhập khẩu. Nét nổi bật trong chính sách
kinh tế đối ngọai giai đọan này là bước đầu thực hiện các cam kết quốc tế
song phương và đa phương, chủ yếu ở cấp độ khu vực và liên khu vực như
14
đẩy mạnh quan hệ kinh tế với trên 140 nước và vùng lãnh thổ; thực hiện
chương trinh cắt giảm thuế nhập khẩu để hội nhập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN; tham gia APEC, WTO… Cơ chế và công cụ quản lý được đổi mới
ngày càng triệt để hơn nhằm thích ứng với điều kiện nền kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế.
1.4.1.2 - Mục tiêu và nội dung cơ bản của chính sách thuế nhập khẩu:
Năm 1992, Luật thuế nhập khẩu của Việt Nam ra đời đã thống nhất
được chế độ thu thuế giữa hàng mậu dịch và hàng phi mâu dịch, do đó đối

thuật cao nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất trong nước có điều
kiện đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm… Bên
cạnh đó, chính sách thuế nhập khẩu góp phần hạn chế nhu cầu tiêu dùng hàng
hóa nhập khẩu, đặc biệt đối với những hàng hóa mà trong nước đã sản xuất
được.
Thuế nhập khẩu phải đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập nền
kinh tế Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới; thực hiện các cam kết song
phương và đa phương.
Biểu thuế nhập khẩu được bổ sung năm 1993 và 1998 đã thường xuyên
điều chỉnh. Trong biểu thuế, có những mặt hàng do mới xuất hiện trên thị
trường hoặc do cách hiểu khác nhau, có thể áp mã tính thuế vào nhiều mức
khác nhau. Tình trạng trên đây đã dẫn đến có trường hợp cố tình áp mức thuế
suất từ 0-5%, trong khi đó có một số dòng hàng có mức thuế manh mún,
chẳng hạn mức thuế 12% có 2 dòng hàng, mức thuế suất 18% có 1 dòng hàng,
45% có 12 dòng hàng, 55% có 1 dòng hàng . Từ chỗ biểu thuế có hiều mức
thuế suất như vậy nên trong cùng nhóm, cùng phân nhóm có những mặt hàng
không khác nhau nhiều về tính chất lý hóa và công dụng nhưng có mức thuế
16
suất chênh lệch nhau rất lớn, dẫn đến khó khăn, tranh chấp trong quá trình
thực hiện, thậm chí đã gây ra tình trạng lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu
thuế nhập khẩu. Ví dụ: chỉ tính từ ngày 01/01/1999 đến tháng 10/2000, do
biến động của thị trường thế giới và trong nước, nhà nước đã tiến hành 18 lần
sửa đổi, bổ sung biểu thuế XNK (chủ yếu là NK), trong đó riêng mặt hàng
xăng, dầu nhập khẩu thuộc nhóm 2170 đã có 7 lần sửa đổi mức thuế suất.
Việc tiến hành điều chỉnh mức thuế suất trong biểu thuế nhằm đảm bảo tính
kịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động XNK. Về phương diện quản lý vĩ
mô, quá trình điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo ổn định và
thích ứng của nền kinh tế trước những biến đọng từ bên ngoài. Tuy nhiên,
thực tế việc điều chỉnh thường xuyên thuế suất trong biểu thuế nhập khẩu gây
khó khăn cho các doanh nghiệp làm giảm đi tính chủ động trong kinh doanh,

kỳ lịch sử, chính sách thuế luôn được xác định là công cụ đắc lực trong các
công cụ điều chỉnh chính sách ngoại thương. So với yêu cầu đặt ra trên con
đường hội nhập vẫn còn nhiều bất cập, nhưng về cơ bản, những bước đi trong
thời gian qua là nền tảng để đổi mới triệt để trong giai đoạn tiếp theo.
1.4.2 - Cải cách chính sách thuế nhập khẩu của Trung Quốc
1.4.2.1 - Bối cảnh kinh tế của Trung Quốc khi tiến hành cải cách thuế:
Bối cảnh kinh tế của Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế
kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, hệ thống thuế
không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, không phát huy được
chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đòi hỏi phải có sự cải cách thích ứng
là một tất yếu khách quan.
18
1.4.2.2 - Mục tiêu và nội dung cơ bản của cải cách thuế nhập khẩu của
Trung Quốc:
Do Trung quốc thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước trong
một Thời gian khá dài từ trước đến nay, nên mức độ thuế nhập khẩu luôn ở
mức cao. theo số liệu thống kê: “năm 1992, mức bình quân thuế nhập khẩu
của Trung Quốc là 47,2%, sau đó tuy giảm, nhưng đến năm 1995 vẫn ở mức
bình quân là 35,6%”. Trung Quốc là một trong những nước có mức thuế nhập
khẩu cao trên thế giới. Từ năm 1996 trở đi, Trung Quốc đã giảm thuế nhập
khẩu xuống mức bình quân là 23%. Khi thực hiện chính sách cắt giảm thuế
nhập khẩu, tác động của thuế nhập khẩu đối với nền kinh tế theo chiều hướng
tốt. Trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 1995, Trung Quốc đã trải
qua bốn lần giảm thuế. Căn cứ biểu thuế được xây dựng theo Hệ thống điều
hòa HS được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trong thời gian này tỷ lệ thuế suất
thuế nhập khẩu bình quân của Trung Quốc giảm từ 47,2% xuống còn 36,4%
(giảm 10,5%); năm 1996 tỷ lệ thuế suất thuế nhập khẩu bình quân lại tiếp tục
giảm xuống 23% (giảm 13,4% so với lần giảm trước). Do đã trải qua các lần
giảm thuế nhập khẩu, sức chịu đựng của nền kinh tế được nâng lên, các doanh
nghiệp trong nước dần dần thích ứng với môi trường cạnh tranh mới khi mà

bị kỹ thuật hình thành nên tài sản cố định mà trong nước chưa sản xuất được,
nhằm tạo thuận lợi cho việc hiện đại hóa sản xuất, giảm giá thành sản phẩm
của các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
- Thuế nhập khẩu đối với hàng nông sản thực hiện theo phương pháp
thuế quan hạn ngạch.
- Thực hiện mức thuế tạm thời tương đối thấp đối với một số mặt hàng
mà chính phủ Trung Quốc đang cố gắng phát triển sản xuất, các mặt hàng
20
không tiện giảm thuế nhập khẩu một cách chính thức hoặc một số nguyên, vật
liệu và thiết bị kỹ thuật trong nước rất cần nhập khẩu nhưng vẫn giữ gức thuế
suất tương đối cao nhằm ổn định NSNN cũng như thực hiện giảm dần mức độ
bảo hộ bằng chính sách thuế nhập khẩu.
Việc nghiên cứu nội dung cơ bản quá trình hoàn thiện chính sách thuế
nhập khẩu của Trung Quốc cho thấy:
- Thực hiện chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu có lợi cho các doanh
nghiệp thu hút thiết bị và kỹ thuật hiện đại từ bên ngoài;
- Tạo điều kiện thu hút nguyên vật liệu mà trong nước đang thiếu, giảm
giá thành sản phẩm sản xuất trong nước.
- Giá cả hàng hóa nhập khẩu giảm, chủng loại hàng hóa phong phú,
chất lượng cao, những điều này sẽ có lợi cho người tiêu dùng trong nước, góp
phần tiết kiệm nguồn lực từ trong dân chính, nâng cao khả năng thanh toán
trong bộ phận lớn tầng lớp dân cư.
- Dùng yếu tố ngoại lực đẩy nhanh quá trình cải cách bên trong của nền
kinh tế nhằm thức đẩy tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế.
Bằng việc xác định mục tiêu hội nhập kinh tế thế gới, chính phủ Trung
Quốc đã có những bước tiến khá thành công trong việc mở cửa thị trường, tạo
điều kiện cho hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới bên ngoài, thúc đẩy
nhanh quá trình cải cách kinh tế. Đặc biệt “từ năm 1979, khi trung quốc ký
hiệp định thương mại (lần thứ nhất) với Hoa kỳ, kim ngạch xuất khẩu của
Trung Quốc vào thị trường Hoa Kỳ đã gia tăng từ khoảng 40 triệu USD năm

phần kinh tế trong và ngoài nước đồng thời giảm thuế suất thuế nhập khẩu.
Do vậy, nguồn thu từ thuế vẫn ổn định trong thời kỳ mở cửa.
22
Tuy nhin, trong quỏ trỡnh ci cỏch thu tc tng thu ngõn sỏch vn
cha theo kp tc tng trng kinh t. Do vy, t l thu thu trờn GDP gim
t 20% trong nm 1982 xung cũn 15% GDP trong nm 1992.
1.4.3 - Tham khảo chính sách thuế nhập khẩu của các nớc ASEAN:
Thực hiện mục tiêu mở cửa thị trờng, tự do hoá thơng mại, phần lớn các
quốc gia trong ASEAN đã thực hiện các chơng trình cắt giảm thuế nhập khẩu
để thu hút đầu t, cải tiến kỹ thuật, tạo điều kiện mở rộng thị trờng cho sản
phẩm của mình tren thị trờng khu vực và trên thế giới. Kết quả của quá trình
này là sự phát triển vợt bậc của các nền kinh tế thành viên. Những điểm chính
rút ra khi tham khảo kinh nghiệm các nớc trong khối ASEAN:
+ Điểm chung nhất của chính sách thuế quan các nớc ASEAN là thực
hiện chơng trình cắt giảm thuế, nhằm thúc đẩy tự do hoá mậu dụch và đầu t
trong và ngoài khu vực ASEAN;
+ Tuy mức độ có khác nhau, các nớc đều thực hiện chính sách bảo hộ
hợp lý, đặc biệt là việc giảm thuế nhập khẩu tài sản cố định, vật t, nguyên liệu;
giảm dần mức thuế suất cao đối với hàng hoá phục vụ tiêu dùng. Thực tiễn
chứng minh rằng sức chịu đựng của các nền kinh tế đợc tăng lên và khả năng
cạnh tranh của hàng hoà các nớc ASEAN đợc củng cố.
+ Tất cả các nớc trong ASEAN đều áp dụng phơng pháp thuế tỷ lệ; từng
bớc áp dụng phơng pháp xác định trị giá tính thuế theo quy định của Hiệp
định trị giá WTO.
+ Một trong những biện pháp để hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu
trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu là thực hiện chơng trình
cắt giảm hàng rào thuế nhập khẩu (giảm thuế suất) , bằng biện pháp thích hợp
đối với nền kinh tế. Ưu tiên giảm thuế đối với nguyên lịêu, vật t hình thành
nên tài sản cố định, giảm thuế các ngành muốn phát triển, mời gọi đầu t từ bên
ngoài. Giảm dần thuế nhập khẩu đối với hàng tiêu dùng.

hiện chính sách tự do hoá mậu dịch bằng việc giảm thiểu hàng rào thuế nhập
khẩu, thuế hoá các hàng rào phi thiế quan kết hợp với những co chế tổ chức
thực hiện đã góp phần lành mạnh hoá môi trờng đầu t, phát huy tối đa vai trò
và vị trí của thuế nhập khẩu trong hê thống các công cụ kinh tế mang lại. Qua
đó, có thể rút ra một số kinh nghiệm nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhập
khẩ của Vn nh sau:
Biểu thuế nhập khẩu đơn giản mức thuế suất, thực hiện tiến trình cắt
giảm thuế nhâp khẩu, biểu thuế phù hợp với danh mục hàng hoá đợc ban hành
ổn định trong một thời gian khá dài. đặc biệt qua kinh nghiệm của Trung
Quốc cho thấy, việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu để thực hiện các cam
kết quốc tế luôn luôn gắn liền với quá trình thúc đẩy các doanh nghiệp trọng
nớc nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuỳ theo năng lực cạnh tranh mà thực hiện
chủ trơng cắt giảm dần thuế suất. Chính điều này góp phần thúc đây tự do hoá
thơng mại và tạo tiền đề cho quá trình tăng trởng nền kinh tế.
Cần phải ban hành có sự thống nhất chính sách thuế nhập khẩu và chính
sách, thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu. Chính sách cần phải ban
hành hết sức cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện tránh tuỳ tiện khi áp dụng, cũng nh
chống gian lận về thuế nhập khẩu.
Các nớc đều thực hiện các phơng pháp xác định trị giá tính thuế theo
quy định của Hiệp định trị giá WTO, tạo điều kiện hàng hoá thông quan
nhanh chóng, góp phần đẩy nhanh tốc độ lu chuyển hàng hoá qua cửa khẩu.
Tuy nhiên, bên cạn đó, các nớc đều đẩy mạnh biện pháp kiểm tra sau thông
quan đối với hàng hoá nhập khẩu và áp dụng các hiện pháp xử phạt vi phạm
rất nghiêm ngặt nhằm mục đích giáo dục, răn đe các đối tợng phải thực hiện
tốt các quy định của Nhà nớc liên quan đến quản lý hoạt động nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu phục vụ chính sách tự do thơng mại, nhng để thành
công trên con đờng hội nhập, yêu cầu cơ bản có tính quyết định là khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status