Lời mở đầu
Từ nhiều năm nay, cà phê là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng đợc
buôn bán rộng rãi trên thị trờng thế giới. Theo thống kê của Tổ chức cà phê thế giới
(I.C.O) và Trung tâm Thơng mại Quốc tế (I.T.C), giá trị xuất khẩu cà phê trên thế
giới vợt xa so với cao su, chè, ca cao hay bất kỳ một sản phẩm nông nghiệp nào
khác. Trong nhiều năm, kim ngạch ck cà phê đạt trên 10 tỷ USD/năm trong khi kim
ngạch xuất khẩu chè và ca cao chỉ đạt 3 - 4 tỷ USD/năm.
ở nớc ta, cà phê cà phê là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng ngày càng đợc
khẳng định vị trí của mình trên thị trờng cà phê thế giới. Từ một nớc sản xuất cà phê
nhỏ, năm 2000 Việt Nam đã vơn lên vị trí thứ 2 trên thể giới về xuất khẩu cà phê.
Hàng năm ngành cà phê đa lại cho đất nớc một khối lợng kim ngạch đáng kể và giải
quyết công ăn việc làm, ổn định đời sống cho hàng trăm ngàn hộ gia đình ở các khu
vực miền núi và Tây Nguyên. Những thành tựu đó đã kẳng định vị trí, vai trò của
ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân, góp phần vao sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nớc.
Bất kỳ một ngành hàng xuất khẩu nào cũng tự tìm cho mình những thị trờng có
khả năng tiêu thụ cao. Và ngành cà phê đã tự tìm cho mình một thị trờng đầy tiềm
năng đó là thị trờng Mỹ. Kể từ ngày 3/2/1994 Mỹ bỏ lệnh cấm vận Việt Nam và
ngày 6/8/1995, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã chính thức khai trơng, Hiệp định th-
ơng mại Việt - Mỹ đã đợc ký kết ngày 13/7/200 và đợc thông qua vào ngày
11/12/2001, đánh dấu một bớc phát triển mới trong quan hệ hai nớc nói chung và
quan hệ thơng mại nói riêng. Không chỉ ngành cà phê mà rất nhiều ngành khác
ccũng đã coi thị trờng Mỹ là một thị trờng không thể không thâm nhập. Nhờ vậy,
kim ngạch buôn bán giữa Việt Mỹ đã có những bớc tiến đáng kể, tuy vẫn còn rất
nhỏ bé so với tiềm năng và nhu cầu của hai bên.
Đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam, thị trờng Mỹ với dân số khoảng 270 triệu
ngời, kim ngạch nhập khẩu hàng năm khoản 1100 tỷ USD, GDP/ngời khoảng 27000
USD với nhu cầu đa dạng, là một thị trờng hấp dẫn. Riêng với mặt hàng cà phê Mỹ
phải nhập với số lợng lớn, kim ngạch năm khoảng 5 tỷ USD là từ hai mơi nớc vì vậy
khả năng chiếm lĩnh thị phần của cà phê Việt Nam là không nhỏ.
Hiên nay, ngành cà phê đang phải đơng đầu với một thời kỳ ảm đạm bởi giá cà
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều giống, chủng loại cà phê, nhng phổ biến
sản xuất có những chủng loại sau :
- Cà phê chè ( Arabica):
Loại cà phê chè Arabica có nguồn gốc từ cao nguyên Jimma Etiopia, đay là
loại cà phê có phẩm chất thơm ngon, năng suất khá, có giá trị kinh tế cao đợc
chú trọng phát triển sớm nhất và chiếm 70 % lợng cà phê thế giới. Cà phê chè có
rất nhiều chủng loại, ngời ta chia thành các chủng loại sau :
+ Cà phê Arabica dịu dạng Côlômbia, các nớc sản xuất nhiều loại này là
Côlômbia, Keynia, Tanzania.
+ Cà phê ảabica Brazil, các nớc sản xuất gồm Brazil, Etiopia.
+ Cà phê ảabica dịu khác, các nớc sản xuất gồm Bôlivia, Costrica, Cuba,
ElSanvado, Indonsia, Việt Nam.
- Cà phê vối (Canephora):
Loại cà phê này cód nguồn gốc từ hạ lu sông CôngGô, thích hợp với khí hậu
nhiệt đới. Đây là chủng loại dễ trồng, chịu hạn tốt nhng phẩm chất không cao.
Chủng loại đợc trồng nhiều nhất là cà phê vối Robusta với sản lợng chiếm tỷ lệ trên
25% trên thế giới.
- Cà phê mít (Exellsa):
Đây là loại cà phê sinh trởng khoẻ, ít sâu bệnh, chịu hạn hán nhng phẩm chất
kém, ít hơng thơm và có vị chua, diện tích trồng rất thấp.
ở Việt Nam diện tích cà phê vối đợc trồng phổ biến, rộng rãi nhất chiếm 90%,
tiếp đó là cà phê chè chiếm 9%, còn lại là cà phê mít
2 - Nguồn cung cấp cà phê trên thế giới và xu hớng tiêu thụ.
2.1 - Nguồn cung cấp cà phê trên thế giới.
Cây cà phê có nguồn gốc châu Phi, vào thế kỷ XVII, cà phê đợc đa sang trồng ở
Indonesia, sang thế kỷ XVIII nó đợc đa sang trồng ở Tây bán cầu, và đợc trồng đầu
tiên ở Matinique vàSwriname vùng đảo Cabirê. Kể từ đó nó đợc trồng ở khắp vành
đai nhiệt đới,cận nhiệt đới và châu Mỹ- Latin. Sau này dù cà phê đợc nhân rộng ở
châu á châu Phi nhng Mỹ- Latin vẫn chiếm 2/3 sản lợng sản xuất và xuất khẩu trên
thế giới.
định bởi sự tăng sản lợng của Braxin. Trong khi sản lợng giảm ở nớc thứ nhì thế
giới là Việt Nam , cùng với việc giảm sản lợng ở ấn độ và một số nớc Trung Mỹ
thì sản lợng Braxin tăng từ 33 triệu bao vụ 2001/2002 lên 47,5 triệu bao vụ
2002/2003. Với sản lợng từ 45 50 triệu bao cà phê ( 2,7 3 triệu tấn) Braxin là
một nhân tố quan trọng đẩy giá cà phê xuống thấp. đây là một điểm phải tính toán
đến khi hoạch định mục tiêu xuất khẩu cà phê .
Vụ 2001/2002 sản lợng cà phê của Braxin theo F.O.Litch là 34,4 triệu bao trong
đó 10,55 triệu bao Robusta, còn lại Arabica chiếm 23,75 triệu bao.
Vụ 2002/2003 sản lợng cà phê Braxin dự kiến sẽ tăng lên tới 45,2 triệu bao trong
đó cà phê Robusta tăng 10,8 triệu bao còn Arabica là 34,4 triệu bao. Nh vậy có
nghĩa là cà phê Braxin tăng nhiều về Arabica còn nhẹ về Robusta.
Bảng 1 : Sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới 1990 - 2002
Đơn vị tính: triệu bao (bao = 60Kg )
Năm Sản xuất Tiêu thụ Thừa Thiếu
1990 94,4 91,2 3,7
1991 96,1 93,2 2,9
1992 96,8 96,1 0,7
1993 89,9 99,4 9,5
1994 91,2 97,6 6,4
1995 86,7 96,3 9,6
1996 97,7 99,9 2,2
1997 97,4 99,6 2,2
1998 105,2 100,0 5,2
1999 106,6 103,2 3,4
2000 114,2 102,2 12,0
2001 114,7 112,9 1,8
2002* 112,4 108,2 4,2
Nguồn: Vicofa.
Theo kết quả khảo sát gần đây cho thấy 79 % số thanh niên Mỹ uống cà phê. Số
ngời uống cà phê hàng ngày ở Mỹ là 54 % hay 110 triệu ngời, số ngời uống cà phê
không thờng xuyên là 51 triệu ngời, tăng 1 triệu và 3 triệu ngời tơng ứng so với năm
1999. Theo số liệu khảo sát thì ở khu vực uống cà phê không thờng xuyên đợc tăng
thêm 13 triệu ngời trong vòng bốn năm qua.
Tiêu thụ cà phê đặc biệt đang tăng dần với tỷ lệ cao. Tiêu thụ loại cà phê đặc
biệt trong đối tợng uống cà phê hàng ngày tăng khoảng 9 % năm 2000 so với gần
3% năm 1995. Trong khi đó tiêu thụ cà phê đặc biệt của những ngời uống cà phê
không thờng xuyên tăng 53% trong năm 2000 so với 35% năm 1997.
Giá trị bán lẻ cà phê ở Mỹ đạt 13 tỷ USD trong năm 1993 nay tang lên đến 18,5
tỷ USD vì khu vực uống cà phê không thờng xuyên đang mở rộng và thị trờng cà
phê đặc biệt đang ngày càng có u thế.
Tiêu thụ cà phê theo đầu ngời ở Mỹ dự kiến vẫn ở mức 3,1 cốc/ngày nhng khác
ở chỗ trong lợng mỗi cốc cà phê tăng lên 9 ounce trong năm 2000 (1 ounce = 28,35
gam ).
Dù cuộc khảo sát lần này có kết quả khả quan nhng trớc chiều hớng tiêu thụ cà
phê không chỉ giảm mạnh ở Mỹ mà còn ở Châu Âu, nơi mọi lứa tuổi đều uống cà
phê ít đi. Theo NCA, cách tốt nhất để thu hút lớp trẻ là : phải quan tâm tới xu hớng
ẩm thực của thanh niên; đóng gói sao cho cà phê có thể dễ mang xách hơn và đễ có
mặt ở mọi nơi ; dùng máy bán tự động; quảng cáo chân thực để ngời dân nhận ra vị
thế của cà phê trong cuộc sống, thay thế lối bán truyền thống cũ cứng nhắc, đa cà
phê đến với đời sống thanh niên bằng việcgiới thiệu sản phẩm hữu ích trong giới
sinh viên, nhân viên trẻ và gia đình trẻ.
Thực tế, trong số đồ uống ngọt, đồ uống có vị cà phê đang đợc giới trẻ quan
tâm. Đó chính là cái đích và mục tiêu cần khai thác để mở rộng thị trờng tiêu thụ cà
phê không chỉ ở Mỹ mà ở toàn thế giới.
2.3 - Nhận xết chung về xu hớng của thị trờng cà phê thế giới.
Nhìn chung bức tranh toàn cảnh của thị trờng cà phê thế giới có thể nói là khá
ảm đạm với một nét đặc trng nhất là sự khủng hoảng d thừa ( bảng 3) . Khủng
hoảng sản xuất d thừa đã tác động mạnh đến giá cả trên thị trờng. Giá cà phê xuống
Kontum ở Tây nguyên. Vào thời gian này cả nớc chỉ có không đầy 20 nghìn hécta
phát triển kém, năng suất thấp, với sản lợng chỉ khoảng 4000 5000 tấn.Đến nay
cả nớc đã có khoảng 500.000 ha cà phê hầu hết sinh trởng khỏe, năng suất cao ,
tổng sản lợng dật tới 80 vạn tấn. Những con số đó vợt xa tất cả mọi suy nghĩ, mọi
mục tiêu chiến lợc của ngành. Diện tích cà phê ở Việt Nam bắt đầu tăng nhanh vào
nữa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Đến năm 1992 giá cà phê thế giới tụt xuống mức
thấp nhất do các nớc sản xuất cà phê trên thế giới tung ra cà phê tồn kho từ những
năm trớc, do Tổ chức cà phê quốc tế còn áp dụng chế độ hạn ngạch ra bán. Sau năm
1992 giá cà phê lại phục hồi và đần dần đạt tới đỉnh cao vào năm 1994, 1995. Lúc
này mọi ngời từ nông dân, gia đình, cán bộ công nhân viên ở Tây nguyên và cả
nững ngời ở các tỉnh khác đổ xô đi tìm mua đất, mua vờn làm cà phê, dẫn đến sự
tăng nhanh sản lợng cà phê qua từng năm. Điều này không nằm trong sự kiểm soát
của chúng ta cho nên đến hôm nay chúng ta phải trả cái giá đó quá đắt, với những
tổn thất nặng nề.
3.1 Về sản xuất.
- Năm 2001 cà phê Robusta ở những vùng canh tác đã ổn định năng suất cao. ở
những vùng mới trồng sau này do điều kiện đất đai, nguồn nớc tới, giao thông
không thuận lợi nên sinh trởng kém, năng suất thấp. Do khí hậu ở nớc ta nh ma
nhiều ở miền Nam và sơng muối ở miền Bắc nê gây cho năng suất thấp cả cà phê
chè và cà phê vối.
- Năm 2002, thì diện tích Robusta suy giảm, chăm sóc kém, sản lợng giảm sút
rõ rệt so với vụ trớc và dự báo vụ tới cũng kém. Tuy nhiên diện tích Arabica cũ đã
phục hồi, triển vọng tốt còn diện tích mới trồng tăng chậm.
- Tình hình chế biến bớc đầu đợc cải thiện, nhiêu fdoanh nghiệp đã lắp đặt dây
chuyền chế biến hiện đại (nh công nghệ chế biến cà phê ớt) mà nhiều nớc trên thế
giới đã và đang áp dụng.
3.2 Tình hình xuất khẩu.
Vụ cà phê 2000/2001 chúng ta đã đạt mức cao nhất từ trớc đến nay về sản lợng
cà phê xuất khẩu và cũng đạt mức thấp nhất từ trớc đến nay về dơn giá. Tình hình
đó đã gây nên xáo động trong toàn ngành, buộc ngời ta phải tìm lối thoát cho cả tr-
Trị giá
(USD)
Giá b/q
USD/tấn
Số
Lơng
Trị
giá
Giá
B/q
10 43.969 14.581.006 331,6 43.357 22.977.782 530,0 1,4 -36,5 -37,4
11 61.642 19.496.680 316,3 70.711 34.986.877 494,8 -12,8 -44,3 -36,1
12 87.695 27.899.993 318,1 109.520 47.938.366 437,7 -19,9 -41,8 -27,3
Quý IV 193.306 61.977.679 320,6 223.588 105.903.025 473,7 -13,5 -41,5 -32,3
1 93.994 30.872.508 328,5 74.347 32.603.020 438,5 26,4 -5,3 -25,1
2 72.327 23.182.154 320,5 95.800 43.378.240 452,8 -24,5 -46,6 -29,2
3 72.280 25.686.798 355,4 89.783 40.797.395 454,4 -19,5 -37,0 -21,8
Quý I 238.601 79.741.460 334,2 259.930 116.778.655 449,3 -8,2 -31,7 -25,6
4 43.128 16.959.288 393,2 91.479 39.344.283 430,1 -52,9 -56,9 -8,6
5 46.346 19.339.351 417,3 84.811 35.917.459 423,5 -45,4 -46,2 -1,5
6 35.125 15.029.270 427,9 63.204 26.210.699 414,7 -44,4 -42,7 3,2
Quý II 124.599 51.327.909 411,9 239.494 101.473.608 423,7 -48,0 -49,4 -2,8
7 - - - 55.899 22.197.493 397,1 - - -
8 - - - 46.958 17.792.386 378,9 - - -
9 - - - 48.807 17.765.748 364,0 - - -
Quý III - - - 151.664 57.753.651 380,8 - - -
Cả vụ - - - 874.676 381.883.542 436,6 - - -
Nguồn Vicofa
II . Vị trí, vai trò hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành cà phêViệt
2000 Việt Nam vợt qua Côlômbia đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu cà phê, chỉ sau
Brazil và đứng đầu thế giới về cà phê Robusta. Có thể nói khó có một ngành nông
nghiệp nào trong cả nớcvà trong cả nớc có một tốc độ tăng trởng cao đến thế.
- Là một mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng cây cà phê đợc coi là một cây
chủ lực trong cơ cấu cây trồng ở nhiều tỉnh trung du, miền núi và cao nguyên.
Ngành cà phê còn tham gia có hiệu quả cao vào các chơng trình kinh tế - xã hội lớn
của đất nớcnh chơng trình định canh, định c cho đồng bào các dân tộc thiểu số, ch-
ơng trình xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho ngời lao động và chơng trình phủ
xanh đất trống đồi núi trọc.
- Cà phê sản xuất ra phần lớn là để xuất khẩu. Thị trờng cà phê Việt Nam phân
bổ trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ ở khắp các châu lục khác nhau. Hàng năm
Việt Nam có những thị trờng lớn tiêu thụ trên 200.000 bao và các thị trờng lớn này
chiếm 89 % tổng số cà phê đã sản xuất.
Nhìn trên biểu đồ ta thấy rằng cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất
khẩu có tính chất quan trọng, kim ngạch nó mang lại chỉ đứng sau thủy sản và gạo.
hàng năm xuất khẩu cà phê mang lại cho đất nớc gần nửa tỷ USD, đây là một thành
quả không nhỏ. Đó là sự phần đầu của toàn ngành cũng nh từng đơn vị trong ngành
để đạt đợc thành quả đó.
Qua biểu đồ cho ta thấy mặc dù kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2001 thấp hơn
năm 2000, nhng đây không phải là do giảm số lợng mà là do giá cà phê trên thế giới
giảm một cách liên tục. Điều này gây ra tình trạng kim ngach xuất khẩu cà phê có
phần giảm sút, nhng đây chỉ là mang tính thời kỳ.
Bảng 3: Mặt hàng nông thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm
2001
Thứ
tự
Mặt hàng
chủ yếu
Thực hiện
mà còn giúp Chính phủ thực hiện tố các chơng trình quốc gia về xã hội, môi trờng,
xoá đói giảm nghèo,
0
500
1000
1500
2000
Thủy sản Gạo Cà phê Rau qủa Cao su Hạt tiêu Hạt điều
nhân
Chè các
loại
Đậu
phộng
nhân
Biểu giá trị XK một số hàng nông thủy sản Việt Nam
2000
2001
Chơng II
Thực trạng xuất khẩu cà phê sang thị trờng Mỹ
I Một số điểm cần lu ý khi suất khẩu sang thị trờng Mỹ.
1- Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạch định chính sách thơng mại Mỹ.
Thơng mại là một ngành kinh tế có tính chất tổng hợp, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, do đó cơ cấu tổ chức, bộ máy
hoạch định chính sách thơng mại, rat phức tạp. Toàn bộ các hoạt động thơng mại
do một hệ thống tổng hợp các đạo luật cơ bản, các quy chế, thể lệ, điều tiết. Các đạo
luật cơ bản do Quốc hội Mỹ mà chủ yếu là Hạ Nghị viện thuộc ngành lập pháp
ban hành. Dựa theo các đạo luật này, ngành hành pháp ban hành các sắc lệnh,
nghị định và toà án ra quyết định thi để hành luật đã ban bố. Tất cả các văn kiện
pháp lý này, cùng với các Công ớc quốc tế mà Mỹ tham gia và đợc Quốc hội phê
quản lý nợ của Nhà nớc, phát hành tiền, Bộ Ngân khố phụ trách cơ quan HảI quan
Mỹ.
C Các ủy ban Nhà nớc chuyên trách tham gia hoạch định chính sách thơng mạI:
* ủy ban thơng mại quốc tế:
- Cố vấn về đàm phán thơng mạI, chế độ u đãI thuế quan phổ cập (GSP),
nới rộng nhập khẩu phục vụcông nghiệp trong nớc, buôn bán với thế giới.
- ĐIũu tra phơng hạI gây ra do tình trạng trợ cấp, bán phá giá hàng hoá,
những bất hợp lý trong nhập khẩu.
* Các ủy ban cố vấn thuộc khu vực t nhân:
- Luật Thơng mạI Mỹ 1974 còn quy định một cơ chế tập hợp ý kiến đóng
góp, cố vấn của giới t nhân cho các vấn đề thơng mạI quốc tế. Quốc hoịi mở rộng
quyền hạn cho ủy ban này, cho phếp họ đợc cố vấn về những lĩnh vực cần đợc u
tiên, về phơng hớng của chính sách thơng mạI Mỹ. Mặc dù thành viên của ủy ban
này không phảI là thành viên Chính phủ, nhng tiếng nói của họ rat có trọng lợng.
2 Luật pháp, thể lệ chính sách thơng mạI Mỹ trong nhập khẩu.
2.1 Chính sách nhập khẩu hàng hoá của Mỹ.
A Những quy định cơ bản.
Dù là Mỹột nớc có chủ trơng tự do hóa thơng mạI, nớc Mỹ cũng có chính
sách về nhập khẩu nhằm bảo vệ ngời tiêu dùng và sản xuất trong nớc. Các quy định
của họ không khác của ta nhiều về đạI thể, nhng nội dung thì chi tiết hơn nhiều.
Quy định của Chính phủ.
HảI quan Mỹ là cơ quan thực thi và áp dụng các quy định của Luật thuế quan
(Tariffs Act) và những luật lệ khác của các bộ để đIũu chỉnh việc nhập khẩu hàng
hóa. Họ cũng phụ trách việc chống các hành vi buôn lậu, vi pham. Quyền sở hữu trí
tuệ, hàng gian, hàng giả đợc nhập khẩu. Từ năm 1994, hảI quan Mỹ hoạt động theo
một luật goi là Luật tối tân hóa ngành hảI quan (Customs Modernization Act gọi
tắt là CMA hay ModAct) thiên nhiều về tự động hóa và chú trọng và việc hậu kiểm
sau khi đã cho nhập hàng. Họ cho nộp hồ sơ qua các phơng tiện đIửn tử, thúc đẩy
việc tuân thủ và chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nhập khẩu và hảI quan trong việc định
giá và phân loạI hàng hóa. Khi chủ trơng sự hợp tác và đơn giản hóa thủ tục nh thế,
khác để tiêu thụ thì ngời hay tổ chức (công ty) có tên trong tờ khai hảI quan có
trách nhiệm thanh toán. Nừu hàng đợc Lu kho thì trách nhiệm đóng thuế thuộc về ai
mua hàng và lấy hàng ra khỏi kho. Thuế có thể đợc trả theo từng kỳ sau khi nhập.
HảI quan Mỹ có thời hạn năm năm để đòi tiền thuế.
Ngời nhập khẩu phảI nộp một giấy nhận nợ (bond) cho hảI quan Mỹ để bảo
đảm thanh toán các khoản nợ nh thuế quan ớc tính, các loạI thuế khác, và tiền phạt.
Giấy nhận nợ có thể mua từ các nơI phát hành giấy đó, nhng thờng thì ngời ta chỉ
bán cho các đạI lý khai thuế quan phụ trách nhập hàng.
Lệ phí.
Các loạI này gồm có phí xử lý hàng, phí bảo dỡng cảng. Phí xử lý hàng
(Merchandise processing fee ) đợc đánh vào từng chuyến tàu hàng. Biểu thuế dành
cho việc nhập hàng chính thức ( tức là hàng có giá trị trên 1.250 USD ta gọi là
mậu dịch ) liệt kê hàng loạt phí khác nhau từ 21 đến 400 USD cho mỗi lần nhập
cùng với một số phí đánh theo tỷ lệ của giá trị món hàng là 0,19%. Cũng phí này
nhng cho loại hàng nhập không chính thức (tức là phi mậu dịch) thì mức phí là 2
USD cho hàng xử lý bằng máy, 4 USD cho hàng xử lý bằng tay mà không do hảI
quan Mỹ làm và 8 USD nếu do họ làm. Giá trị cho hàng phi mậu dịch lớn nhất là
2.500 USD. Phí bảo dỡng cảng: là phí theo giá trị bách phân của chuyến tàu hàng
nhập vào. Phí này là 0.125% trên giá trị chuyến hàng và trả hàng quý.
Chống nguy cơ gây thiệt hại cho nền thơng mại của Mỹ.
Luật Thơng mại tập hợp (Omnibus Trade Act) năm 1988 giao cho Văn phòng
ĐạI diện thơng mại Mỹ một vai trò quyết định trong việc ấn định những tập tục th-
ơng mại không công bằng. Văn phòng này có quyền thay mặt Tổng thống Mỹ quyết
định đIũu tra một tập tục thơng mại ở một nớc nào đó vì nó gây thiệt hạI cho nền
thơng mại của Mỹ. ĐạI diện thơng mại cũng phảI tìm ra và xúc tiến đIũu tra những
nớc nào có những tập tục thơng mại không công bằng mà gây thiệt hạI cho hàng
xuất khẩu của Mỹ nhiều nhất. Khi tìm ra đợc rồi mà nớc liên quan không sửa đổi
tập tục bị chỉ trích kia thì họ có thể bị Mỹ trả đũa.
Luật trên cũng lập ra một sự duyệt xét liên tục các tập tục thơng mại của các
nớc khác mà kết quả là đa ra một danh sách các tập tục mà hàng năm Mỹ phảI u
ngoàI ra nó còn đợc dùng để hạn chế hàng nhập, bảo hộ hợp lệ cho sản xuất trong
nớc.
Ghi dấu hiệu (Marking)
- Nớc xuất xứ.
Thông thờng, ngời nhập hàng phảI ghi rõ ở bên ngoàI sản phẩm một nhãn hàng
bằng tiếng Anh tên của nớc sản xuất hay chế tạo ra món hàng. Dờu hiệu phảI ghi ở
nơi dễ thấy, rõ ràng và phảI bền nh chính tuổi thọ của sản phẩm. Nếu sản phẩm
không có nhãn hàng đúng cách, khi nhập vào nớc Mỹ thì ngời nhập phảI trả một
khoản thu bằng 10% của tiền thuế quan đóng cho sản phẩm ấy.
Hàng phảI ghi dấu hiệu mà đợc đóng gói lạI ở Mỹ sau khi đã qua hảI quan thì
ngời nhập khẩu phảI cam kết khi mang hàng di là dấu hiệu về nớc xuất xứ sẽ không
bị mờ đI, hoặc là hộp dùng để đóng gói lạI sẽ đợc ghi dấu đúng cách. Nếu hàng đợc
bán cho ngời khác để đóng gói lạI thì ngời nhập khẩu phảI thông báo cho ngời kia
các yêu câù về ghi dấu hiệu. Nếu không kaông làm nh thế sẽ bị phạt hay trả thêm
thuế.
- Ghi dấu đặc biệt.
NgoàI những yêu cầu về ghi nớc xuất xứ của hàng hóa, có một số mặt hàng đòi
hỏi phảI có dấu hiệu đặc biệt nh chữ không đợc phai, chữ nổi, chữ lỏm cho những
mặt hàng nh: ống sắt hay thép, xy lanh, các dụng cụ phẩu thuật.
2.2 Các thủ tục khai hàng nhập vào Mỹ.
A- Sửa soạn chứng từ và hàng hóa.
Việc đóng gói hàng hoá.
Hàng hóa phảI đợc đóng gói làm sao để hảI quan kiểm soát, cân, đong, đo, đếm dễ
dàng và giảI phóng nhanh chóng. Đóng gói hàng đúng, ghi hóa đơn chính xác là
làm những viẹc sau:
- Lập hóa đơn theo một trận tự có hệ thống.
- Cho thấy số lợng chính xác của mỗi món hàng để trong các kiện hàng.
- Ghi dấu hiệu và số kiện trên mỗi thùng hàng.
- Ghi trong hoá đơn số thứ tự mỗi kiện hàng để làm sao so ra ngay món
hàng ghi trong hoá đơn với trong thùng đựng.
+ Mức chiết khấu, mức hao hụt cho phép đối với mặt hàng dố
+ Tên nớc xuất xứ
Hóa đơn phảI đợc viết bằng tiếng Anh hoặc kèm theo một bản dịch chính xác.
- Các yêu cầu đặc biệt:
+ Nừu một hoá đơn chung cho cả chuyến hàng gồm nhiều lô hàng thì phảI có
hóa đơn gốc hoặc biên lai cho từng lô hàng riêng biệt.
+ Nừu một lô hàng của một hợp đồng đợc gửi thành nhiều đợt thì có thể kê
chung trong một hóa đơn nếu các đợt hàng đó dến cảng vào trong một thời gian
không quá 10 ngày liên tục. Ngợc lạI thì phảI lập hóa đơn riêng cho từng đợt hàng.
+ NgoàI các chi tiế thờng đợc yêu cầu đối với một hóa đơn, thì nhà xuất khẩu n-
ớc ngoàI có thể phảI cung cấp thêm một số chi tiết đặc biệt liên quan đến một số
mặt hàng hoặc một số loạI hàng đặc biệt nào đó. Thông thờng nhà nhập khẩu Mỹ
phảI thông báo về những trờng hợp đặc biệt này.
b Lựa chọn chế độ nhập khẩu.
Hàng hóa đợc nhập vào Mỹ theo hai thể thức: đơn giản và chính thức nh sau:
- Đa hàng voà theo thủ tục đơn giản.
Thủ tục này đợc áp dụng cho:
+ Hàng nhập có giá trị dới 2.500 USD, trừ khi nhập để bán. Tuy nhiên, không nằm
trong trờng hợp này là các mặt hàng vải, sợi, hàng da, đồ trang sức
+ Đồ dùng cá nhân.
+ Hàng nhập tạm để triển lãm, dự hội chợ.
+ Hàng đặc chủng quý hiếm mà hải quan không tính giá trị đợc và đợc nhập
không phải để mua bán.
+ Hàng sẽ táI xuất (trị giá dới 10.000 USD). Trong thủ tục này có cáhc nhập theo
sổ tay tạm nhập (ATA Carnets hay admission temporaire) nhng để nhập nh thế phảI
tham gia hiệp ớc ATA (hiện chúng ta cha tham gia).
HảI quan sẽ cho nhận hàng sau khi ngời chủ hàng xuất trình tờ khai theo mẫu và
trả thuế hay nộp phí. Khi không có tờ khai theo mẫu thì hải quan chấp nhận hóa đơn
thơng mại. Khi nhập hàng để bán hay nhập theo một hợp đồng mua bán thì ngời
nhập phảI đa cho hảI quan một hóa đơn thơng mại , nếu không có hóa đơn thơng
hoặc nằm trong phạm vi của trị giá dành cho thủ tục đơn giản.
C Kiểm tra thực tế hàng hoá và thông quan.
Hàng không khai báo.
Sau khi hàng đã đợc đa vào cửa khẩu năm ngày mà giấy tờ cha làm xong hay cha
đợc làm thì hàng sẽ bị đa vào diện bỏ hay không khai báo.
Kiểm tra trớc khi giải phóng hàng.
Trớc khi cho nhận hàng hải quan cửa khẩu có thể khiểm tra món hàng để xác
định giá trị của nó cungf các yêu cầu khác mà món hàng phảI tuân thủ về mặt chất
lợng, bao bì, nhãn hàng
Nhân viên hải quan sẽ xác định số lợng hàng, có trừ hao hụt, và áp thuế trên số
còn lại. Họ có một quy định về việc xác định số lợng hàng dựa trênhóa đơn và
thùng đựng.
Hàng bị giữ.
Trong vòng năm ngày sau khi đa hàng ra kiểm tra, hải quan phải quyết định giải
phóng hay giữ hàng. Nếu giữ hàng lại thì trong vòng năm ngày họ phải thông báo
cho chủ hàng và yêu cầu cung cấp thông tin để giúp xử lý cho nhanh. Nếu hải quan
không có một quyết định gì trong vòng 30 ngày sau khi hàng đã đợc đa ra kiểm tra
thì thông tin mà chủ hàng nộp bị coi là bị từ chối. Và nhà nhập khẩu có quyền gửi
văn bản phản đối. Nếu hải quan t chối sự phản đối hay không có hành động gì liên
quan tới sự phản đối này thì nhà nhập khẩu có thể khởi kiện tại Toà án Thơng mại
quốc tế của Mỹ (US Court of International Trade).
Văn kiện tóm tắt việc nhập hàng.
Chủ hàng phảI nộp văn kiện này cùng với tiền thuế ớc tính đóng trên số hàng
nhập trong vòng 10 ngày làm việc sau khi hàng đợc hải quan giải phóng. Luật giành
thời gian này để cho ngời nhập hàng có thể điều chỉnh giầy tờ cho số hàng thực
nhập khớp với tờ khai nộp cho hải quan lúc hàng cha tới hay vừa mới tới.
Tờ tóm tắt nhậnhàng có các chi tiết sau:
- Tổng số hàng trả về nơi xuất.
- Một tờ tóm tắt làm theo mẫu.
- Các văn kiện hay hóa đơn khác giúp hải quan tính thuế, thống kê, báo
không giữ có thể bị phạt tiền.
Tóm lại, Luật của Mỹ rât phức tạp còn ngời Mỹ trọng luật pháp bởi vậy khi giao
dịch với họ thì phải hết sức chú ý đến luật phát và tập quán của họ. Ngoài ra ngời
Mỹ rat hay kiện tụng mà tiền thuê luật s bên Mỹ rất đắt cho nên việc nghiên cứu
luật nhập hàng của Mỹ là rât cân thiết. Trên đây là những quy định về thủ tục này.
II Thực trạng xuất khẩu cà phê sang một số thị trờng lớn và sang Mỹ.
1 Các thị trờng lớn.
Hiện nay, cà phê của Việt Nam đã đợc xuất khẩu sang 63 nớc và thị trờng trên
thế giới. Cơ cấu khách hàng của ta cũng đã có những thay đổi quan trọng. Nếu nh
trớc đây 60% lợng hàng đợc xuất sang Singapore ( để chế biến và tái xuất khẩu ), số
còn lại đợc xuất theo Nghị định th sang Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu thì ngày
nay cà phê Việt Nam đợc xuất trực tiếp đi khắp các châu lục. Những năm gần đây
Mỹ đã trở thành khách hàng lớn nhất của ngành cà phê Việt Nam , tiếp đó là các n-
ớc trong EU, Nhật Bản, các nớc Trung cận đông và Bắc Phi.
Thông qua các số liệu các năm gần đây, ta thấy xu hớng chung là thị trờng của
Vicofa chủ yếu là tập trung ở các nớc công nghiệp phát triển, nơI mà cà phê là một
loại đồ uống không thể thiếu đợc trong cuộc sống hàng ngày. Có thể nói, thị trờng
của Vicofa rất ổn định và không ngừng đợc mở rộng. Mỹ là bạn hàng lớn của
Vicofa từ năm 1996 đến nay, năm 2000 Mỹ vợt qua Thuỵ Sĩ ( năm 1999) đứng ở vị
trí đầu.
Trong khối thị trờng chung châu Âu nổi lên một thị trờng lớn là Đức. Đây là
một quốc gia có nền kinh tế phát triển và là nơi mà tiêu dùng cà phê hàng ngày trở
thành thói quen và thị hiếu không thể thiếu đợc. Tiếp đó là các thị trờng khá ổn định
nh ý, Tây Ban Nha, Bỉ, Pháp
Khối thị trờng Châu á và Singapore là hai thị trờng nhập khẩu lớn của Vicofa.
Nhật Bản là thị trờng chỉ chấp nhận cà phê có chất lợng cao. Tuy vậy,khối lợng xuất
khẩu cà phê sang Nhật Bản luôn luôn chiếm tỷ trọng đáng kể, về thực chất đây là
thị trờng trung chuyển. Cho đến nay, Singapore vẫn là thị trờng trung chuyển lớn
nhất của cà phê Việt Nam. Ngoài Thái Lan, mặc dù là một nớc sản xuất cà phê nh-
ng cũng nhập khẩu cà phê hàng năm từ Việt Nam khoảng 3.000 tấn.
có nhiệm vụ kinh doanh xuất khẩu thì chỉ xuất đợc với số lợng bằng 42,6 % (1999)
so với 6 đơn vị xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2001 và hiệu quả lạI thấp hơn. Đó
là một nghịch lý phảI suy nghĩ. Do thiếu thống nhất việc định gía mua, chào bán
hàng giữa các doanh nghiệp xuất khẩu nên khách hàng nớc ngoàI lợi dụng để éo
cấp, ép giá gây thua thiệt cho các đơn vị kinh doanh.Do đó, cùng một thời đIểm,
một khách hàng, một loạI cà phê nhng các doanh nghiệp lạI bán với giá khác nhau.
Để hạn chế tình hình trên, Tổng công ty chỉ định 4 dơn vị phát gía bán hàng
ngày sau khi thị trờng London mở cửa, 4 đơn vị thống nhất trao đổi giá bán qua
điện thoại và thông báo cho các đơn vị xuất khẩu tham khảo.
Nh vậy, chỉ trong một thời gian không dài, ngành cà phê Việt Nam đã đạt đợc
những thàng tựu đáng kể và mở rộng đợc thị trờng, đặc biệt là những thị trờng đợc
coi là khó tính nhất với khối lợng ngày càng tăng. Tuy nhiên để có thể phát huy đợc
thế mạnh của mình, ngành cà phê cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác nghiên
cứu thị trờng, đặc biệt là những thị trờng lớn nh thị trờng Mỹ.
2 Thị trờng Mỹ.
Từ khi chính quyền Mỹ bỏ lệnh cấm vận ít lâu thì cà phê Việt Nam đã nhanh
chóng thâm nhập thị trờng Mỹ với số lợng ngày càng lớn hơn. Đặc biệt, việc ngành
Cà phê Việt Nam tham gia Hội chợ triển lãm hàng Việt Nam tại San- Fransisco năm
1994 đã mở ra thời kỳ mới cho mặt hàng cà phê Việt Nam tiếp xúc với thị trờng
Mỹ.
Chúng ta biết rằng thị trờng Mỹ là một thị trờng lớn, hàng năm Mỹ nhập khẩu
một lợng cà phê lớn nhất thế giới với chủng loại đa dạng bởi vì Mỹ là một nớc nhập
c. Trung bình hàng tháng Mỹ nhập khẩu khoảng 1,7 triệu bao có tháng cao điểm lên
tới 2 triệu bao qua đó ta thấy trung bình năm Mỹ nhập khẩu khoảng 20-25 triệu
bao. Trong khi số lợng Mỹ nhập từ Việt Nam hàng năm là rât ít so với tổng nhập
khẩu. Năm 2000 mặc dù Mỹ là nớc nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam nhng chỉ đạt
là 2449883 bao đạt trị giá 116782194 USD lớn nhất từ thị trờngớc đến nay, sang
năm 2001 số lợng bắt đầu giảm còn 2291683 bao đạt 59371585 USD. Ta thấy rằng,
mặc dù số lợng giảm không đáng kể nhng giá trị đã giảm đi một con số rât lớn là
gần 50%, điều đó cho thấy là giá bình quân trên thị trờng thế giới cũng nh tại thị tr-
(USD)
Số lợng
(Kg)
Trị giá
(USD)
Số lợng
(Kg)
Trị giá
(USD)
Số lợng
(Kg)
Trị giá
(USD)
1998
81948,5 - - - - - - -
1999
63892,4 89529753 - - - - - -
2000
146993 116782194 13044 41417 - - 22471 61178
2001
137501 59371585 4600 11200 6261 20693 8980 28079
Đến
9/2002
73983 25121912 67495 186844 30839 105002 28890 75888
Nguồn: Vicofa
Từ bảng trên thì số lợng các loại cà phê đặc biệt xuất khẩu sang Mỹ gày có
chiều hớng gia tăng. đây là một vấn đề dặt ra cho cà phê Việt Nam hớng mở rộng
thị trờng và đa dạng phơng thức xuất khẩu cũng nh tổ chức sản xuất chế biến và
xuất khẩu cà phê thành phẩm.
III - Đánh giá hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Mỹ.
nghiệp Mỹ chèn ép, ví dụ nh vụ thơng hiệu sản phẩm của cà phê Trung Nguyên
Việt Nam hiên nay đã bị mất thơng hiệu trên thị trờng Mỹ.
- Về việc giá thành thấp cũng là một con dao hai lỡi trên thị trờng Mỹ vì luật Mỹ
rất dễ cho đó là hàng hoá bán phá giá nh vụ tranh chấp cá Basa Việt Nam .
- Vân tải xa nên giá cớc vận tải cao, các tuyến vận tải thì cha đợc khai thông và
mở rộng.
- Nh đã tìm hiểu ở trên thì luật nhập khẩu của Mỹ rất nghiêm ngặt điều đó đòi
hỏi cà phê Việt Nam phải đày đủ thủ tục, đúng tiêu chuẩn chất lợng
- Giá cả trên thị trờng thế giới diễn biến rat phức tạp, nớc ta lại xuất khẩu chủ yếu
là loai cà phê Rubusta, do chất lợng thấp nên giá bán chênh lệch so với giá các nớc
trong khu vực.
3- Một số nguyên nhân tồn tại.
- Chất lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam nói chung dang bị đánh giá là thấp. So
với các nớc trong khu vực nh Thái lan, Indonesia thì cà phê Việt Nam có thủy phần
cao hơn, tổng số lỗi, tạp chất hạt đen vỡ đều cao hơn, kích thớc hạt nhỏ nhng có u
điểm là ít sâu hơn. Những lỗi trên chủ yếu do chế biến theo phơng pháp thủ công
hoặc các xởng chế biến có công suất nhỏ, lạc hậu.
- Về phân phối sản phẩm, đây là khâu đặc biệt quan trọng nhng cha đợc quan tâm
đúng mức. Hiện nay chúng ta đang thiếu sự nghiên cứu sâu sắc các khâu cơ bản
trong kênh phân phối quấc tế. Mức kiểm soát kênh phân phối còn kém, kỹ thuật
phân phối đơn điệu nên khi tiếp xúc với các thị trờng có kỹ thuật phân phối phức tạp
và tiên tiến nh Mỹ, Pháp, Đức là rất khó khăn.
- Công tác xúc tiến thơng mại còn nhiều vấn đề cần xen xét. Lâu nay tuy cà phê
Việt Nam đã đợc đa đi tiêu thụ trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ nhng thực ra chỉ
do khoảng 10 công ty nớc ngoài có cơ quan đại diện tại Việt Nam trực tiếp mua và
phân phối đi không những thế mà đã làm cho thị trờng cà phê Việt Nam xảy ra tình
trạng tranh mua, tranh bán và ép giá nông dân nên giá cà phê xuất khẩu giảm. Do
đó có thể coi ngành cà phê Việt Nam xuất khẩu tại sân nhà mà thị trờng thì thêm rối
ren.
- Do thiếu thông tin và quan trọng hơn là do khả năng phân tích thông tin để dự
Tổng sản lợng cà phê đảm bảo ở mức 600.000 tấn tơng đơng 10 triệu bao so
với hiện nay giảm 5 triệu bao và là 5 triệu bao cà phê Robusta.
- Hạ giá thành sản xuất nâng cao hiệu quả kinh doanh:
Mặc dù chi phí lao động của ngành cà phê Việt Nam tơng đơi thấp so với nhiều
nớc khác vì GDP bình quân trên đầu ngời cũng thấp, năng suất cà phê Việt Nam
cũng vào loại cao trên thế giới nhng giá thành cà phê Việt Nam vẫn cha thấp đến
mức có thể cạnh tranh đợc.Nguyên nhân chủ yếu là do nông dân Việt Nam với
mong muốn đạt năng suất cao nhất đã tăng đầu t phân bón , nớc tới lên mức rất cao
đã làm giảm hiệu qủa của đầu t và tăng giá thành sản xuất. Việc cần làm là phải
giảm chi phí đàu vào để hạ giá thành sản xuất .
- Đổi mới công nghệ, thiết bị chế biến, áp dụng tiêu chuẩn chất lợng sản phẩm nhà
nớc phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao chất lợng của sản phẩm phù hợp với
yêu cầu của thị trờng.
- Sản xuất và cung cấp ra thị trờng nhiều chủng loại mặt hàng ngoài cà phê nhân
sống đáp ứng yêu cầu của ngời tiêu dùng
- Sản xuất hàng hóa chất lợng cao nh cà phê hữu cơ, cà phê đặc biệt
- Đổi mới quan hệ mua bán, mở rông thị thị trờng cho cà phê Việt Nam
- Cuối cùng là phát triển một ngành sản xuất cà phê bền vững ở Việt Nam .
II - Giải pháp và tăng cờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Mỹ.
1 Những giải pháp từ phía Nhà nớc.
- Thành lập qũy hỗ trợ xuất khẩu cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu
đang bị thua lỗ nguyên nhân do giá cà phê xuông thấp. Đồng thời quy định giá sàn
trả cho nông dân khi giá cà phê trên thị trờng thế giới giảm, giá bán thấp hơn giá
thành sản xuất ra. Dĩ nhiên các nhà xuất khẩu lại bị thua thiệt và thông qua qũy hỗ
trợ xuất khẩu, Nhà nớc sẽ bù lỗ cho các nhà xuất khẩu.
- Nhà nớc có cơ chế tín dụng nh cho vay không lãi ( hoặc bù lãi suất), trừ
phầnhpụ thu xuất khẩu cho một số doanh nghiệp của Tổng công ty có nguồng nhân
lực thu gom, gom trữ cà phê ngay từ đầu vụ với số lợng khoảng 10% để phối hợp
với ACPC nhằm đẩy giá cà phê quốc tế tăng lên, và chủ động xuất khẩu và sản xuất.
- Tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về cà phê, hỗ tợ ngành cũng nh
dựng, nâng cấp trục đờng giao thông đặc biệt là những dự án ở vùng sâu, vùng xa,
vùng căn cứ cách mạng nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
3 - Giải pháp từ phía ngành cà phê .
Đẩy mạnh xuất khẩu cà phê hiện nay ở nớc ta thì cần phải thực hiện trên hai h-
ớng chủ yếu:
Một là: Phát triển về bề rộng diện tích là giữ nguyên diện tích cà phê Robusta
hiện có và tăng diện tích cà phê Arabica, thâm canh tăng năng suất, tăng tổng sản l-
ợng để có khối lợng cà phê xuất khẩu lớn. Việc mở rông diện tích cà phê Arabica là
việc có thẻ tăng giá trị xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam , vì giá cà phê Arabica
trên thị trờng thế giới baogiời cũng cao gấp đôi giá cà phê Robusta.
Hai là: Tập trung phát triển về bề sâu nh đa dạng hóa mặt hàng cà phê, đa phơng
hóa thị trờng cà phê. Nhất là cần xem thị trờng Mỹ là một thị trờng tiềm năng.
Trớc tình hình thị trờng cà phê thế giới đầy biến động, giá cà phê liên tục giảm
xuông mức kỷ lục thì việc giá tăng một cách đột biến là không thể vì vậy những
biện pháp chủ yếu để
- Cải tiến công tác xúc tiến thơng mại theo hớng:
+ Tìm thị trờng xuất khẩu trực tiếp đến ngời rang xay
+ Tổ chức sở giao dịch cà phê để cà phê Việt Nam trực tiếp tham gia vao giao
dịch chứng khoán tại Việt Nam .
+ Cử đại diện tham gia vào thị trờng kỳ hạn Luân Đôn.
- Ngành cà phê cần xây dựng và củng cố hệ thống thông tin trong toàn ngành trớc
mắt là Tổng công ty cà phê Việt Nam là cơ quan có quyền lực, trụ cột trong các
doanh nghiệp cà phê toàn quốc, tổ chức lại mạng lới thông tin từ các đơn vị cơ sở,
nhất là các đơn vị xuất khẩu, cung ứng xuất khẩu phải thờng xuyên liên tục để nắm
bắt và xử lý thông tin nhanh chóng kể cả thị trờng trong nớc, ngoài nớc, tranh thủ
thời cơ thuận lợi trong kinh doanh.
- Tiếp tục duy trì tốt những thị trờng đã có và mở rộng thâm nhập thị trờng mới.
Chiến lợc về thi trờng của ngành cà phê Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm
2010 là phải tiếp tục duy trì quan hệ buôn bán tốt cới các nớc Tây Âu, Bắc Âu nh
Pháp, áo, Đức, Và các nớc Đông Nam á nh Nhật , Hàn Quốc, SingapoĐồng
hỗ trợ cho vay dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
Vốn cho kinh doanh : Các doanh nghiệp kinh doanh hiện nay đang phải đối phó
với tình hình khó khăn về tài chính, và để khắc phục tình hình này thì cần phải
thực hiện các giải pháp sau:
+ Mở rộng quan hệ với các ngân hàng đảm bảo vay đủ vốn cho sản xuất kinh
doanh.
+ Phát huy nội lực, huy động vốn tối đa tự có, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm.
+ Thực hiện quy chế, quy định về vay quản lý tài chính theo đúng Nghị định
27/ CP.
- Về công nghệ : Sản xuất nông nghiệp tốt sẽ cung cấp cho công nghiệp chế biến
nguyên liệu tốt. Chế biến tốt sẽ hạn chế sự giảm mất chất lợng vốn có của cà phê ở
mức thấp nhất. Việc đa trồng mới cà phê Arabica vào cần có một hệ thống chế biến
thích hợp. Hiện nay trên thế giới các nớc xuất khẩu cà phê lớn đã và đang áp dụng
phơng thức chế biến ớt.
4. Một số kiến nghị lên Chính phủ và các cơ quan Nhà nớc có liên quan.
- Đề nghị Chính phủ cần có những phơng hớng chỉ đạo cho việc mở rộng
và phát triển vùng nguyên liệu cà phê đảm bảo chất lợng phục vụ xuất khẩu, thực
hiện nâng cao chất lợng cà phê Robusta hiện có, mở rộng diện tích cà phê Arabica
nhằm nâng cao tổng sản lợng và giá trị xuất khẩu.
- Đầu t vào công tác khuyến nông, khuyến công, chuyển giao kỹ thuật
trồng trọt tiên tiến, công nghệ chế biến tiên tiến đến ngời sản xuất.
- Đầu t cho công tác xúc tiến thơng mại của ngành cà phê, tổ chức các
đoàn đi tìm kiếm thị trờng, đầu t cho việc tham gia thị trờng kỳ hạn Luân Đôn.
- Những chủ trơng, giải pháp về mặt tài chính của Chính phủ nh giãn nợ,
khoanh nợ, cho vay u đãi, thởng xuất khẩu là hết sc tích cực và hữu hiệu, đề nghị
chỉ đạo thực hiện sớm, kịp thời để giải toả khó khăn về vốn cho cơ sở.
- Đề nghị nghiên cứu chính sách chỉ đạo xuất khẩu cà phê mà theo em
cách làm hiện nay là cha thoả đáng. Cụ thể là không để xuất khẩu tràn lan mà phải
có điều kiện hay tiêu chuẩn cho các nhà xuất khẩu nh :